Hôm nay,  

Tuyên Ngôn Độc Lập: Tinh Thần Philadelphia Đã Không Đến Được Hà Nội

7/11/202611:05:00(View: 433)
BuiVanPhu_2026_0710_TuyenNgonDocLapTinhThanPhiladelphia_H01_July4Celebration
Gia đình tác giả đón mừng Sinh nhật 250 của Hoa Kỳ (Ảnh: Bùi Văn Phú)

  

Tháng trước tôi trở lại cố đô Philadelphia. Gần đến ngày Lễ Độc lập 4/7 nên khu phố cổ ở đây tràn ngập cờ Mỹ, các băng rôn xanh, đỏ, trắng chào đón sinh nhật thứ 250 của đất nước.

 

Ở thành phố lịch sử này, lần đầu tiên tôi nhận ra dấu tích Việt khi vào thăm Bảo tàng Cách mạng Mỹ, mở cửa từ năm 2017.

 

Tôi đã xem một phim ngắn về Tuyên ngôn Độc lập 1776 và sức lan tỏa ảnh hưởng của nó ra thế giới, từ châu Mỹ sang châu Âu, châu Phi, châu Á mà nhiều quốc gia cũng đã lấy ý từ Tuyên ngôn 1776 của Hoa Kỳ, trong đó có bản tiếng Việt do Hồ Chí Minh tuyên đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được… quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.”

 

Lễ Độc lập năm nay ghi dấu sự kiện lịch sử cách đây 250 năm khi bản Tuyên ngôn Độc lập được phê chuẩn, khai sinh ra nước Mỹ không lệ thuộc vào Anh Quốc.

BuiVanPhu_2026_0709_TuyenNgonDocLap_H02_HoChiMinh_Gandhi
Bảo tàng Cách mạng Mỹ ghi sự kiện Ấn Độ và Việt Nam giành độc lập (Ảnh: Bùi Văn Phú)

 

Đất Mỹ nguyên thủy là của những người da đỏ thuộc nhiều bộ lạc. Từ khi người châu Âu tìm đến khai phá, lập nghiệp và đô hộ dân bản địa vào cuối thế kỷ 15, đến năm 1776 nước Mỹ ra đời với 13 bang đầu tiên ở miền đông, rồi tây tiến, nam tiến qua nhiều cuộc chiến tranh mở mang cõi bờ, ba lần chiến đấu ngắn hạn với bộ lạc da đỏ Seminole, có khi kéo dài trong Texas Indian Wars từ 1820 đến 1875. Nội chiến Nam Bắc 1861-65, chiến tranh ở Arizona và Mexico từ 1896 đến 1918. Người Mỹ cũng từng chiến đấu chống ngoại xâm từ Anh, Pháp, Tây Ban Nha.

 

Ngày nay, Hiệp Chúng quốc Hoa Kỳ gồm 50 bang, với Alaska và Hawaii là các bang thứ 49 và 50 mới gia nhập liên bang từ năm 1959.

 

Lịch sử Hoa Kỳ là lịch sử của người nhập cư. Dân từ châu Âu đến trước, mang theo dân châu Phi vào làm nô lệ. Giữa thế kỷ 19 có đông di dân đến từ châu Á, phần đông là người Hoa, đến Mỹ đi đào vàng và xây dựng đường xe lửa.

 

Tôi cũng đã đến Mỹ như là một di dân tị nạn sau khi chính quyền Sài Gòn sụp đổ vào cuối tháng 4/1975, sống trong trại tị nạn Camp Pendleton cùng với hàng vạn người Việt khác sau khi rời bỏ quê hương trong hoảng loạn và lo sợ.

 

Năm đó chẳng có lễ hội, chẳng có pháo hoa mừng Lễ Độc lập 4/7 trong trại vì mọi người ai cũng đang lo nghĩ khi nào sẽ được đi định cư, băn khoăn về tương lai trên đất mới sẽ làm gì để sống, có được tiếp tục đi học, người Việt có bị kỳ thị không.

 

Lúc đó có tin loan truyền là bang California không muốn cho người Việt định cư nên không biết tương lai sẽ về đâu, gian truân ra sao. Người quen của tôi gặp nhau trong trại, có anh đi Seattle, bang Washington, có anh về Napa, ở miền bắc California hay có chị về Downey ở nam California. Bạn ở chung lều trại người đi bang Colorado, người về San Francisco, mấy anh lính hải quân ra tận hải đảo Hawaii. Nhìn quanh thấy người Việt được định cư khắp nơi trên nước Mỹ.

 

Sống trong Camp Pendleton hơn một tháng, đến đầu tháng 8/1975 chúng tôi theo gia đình người anh con bác là Thẩm phán Trần An Bài, tất cả 10 người, ra định cư ở thành phố Berkeley, miền bắc California qua sự bảo trợ của nhà thờ công giáo St. Mary Magdalena.

 

BuiVanPhu_2026_0709_TuyenNgonDocLap_H03_AoDai_IndependenceHall

Áo dài trước Independence Hall ở cố đô Philadelphia (Ảnh: Bùi Văn Phú) 


Những ngày đầu, nhiều người trong giáo xứ đến giúp hoàn tất thủ tục di trú, giấy tờ an sinh xã hội, làm thủ tục nhận trợ cấp tị nạn, chăm sóc ý tế, ghi danh học tiếng Anh ESL, đăng ký học phổ thông, làm thẻ thư viện công cộng, chỉ cách đón xe điện, đi xe buýt, đưa chúng tôi đi siêu thị chỉ cho cách mua thực phẩm. Có người mang quần áo, máy may, xe đạp đến tặng cho gia đình. Có người cuối tuần đến giúp luyện tập nói tiếng Anh.

 

Sau vài tháng định cư, mỗi ngày đạp xe đi học, chúng tôi mua được chiếc Volkswagen số tay đời 1967, giá 700 đô la, để tiện đi chợ hay khi có việc phải qua những thành phố khác.

Ngày 4/7 năm 1976, kỷ niệm 200 năm sinh nhật nước Mỹ, tôi và mấy anh chị qua Candlestick Park là sân vận động thể thao ở San Francisco để xem pháo bông. Những tiếng nổ rền vang, những bông hoa tỏa sáng trong tiếng nhạc, tiếng kèn đồng của những ca khúc chưa nghe quen nhưng nhìn bầu trời lung linh sắc màu mà lòng vui vì chưa bao giờ được xem pháo bông đẹp như thế.

 

Nhiều năm sau vẫn thích xem diễu hành và pháo bông 4/7. Có năm xem bên bờ Vịnh San Francisco, có năm đi xem đấu bóng chày ở Coliseum Oakland, hết trận đấu khán giả được cho xuống sân, nằm ngửa xem pháo bông nổ ngay trước mắt trong tiếng nhạc God Bless AmericaAmerica the Beautiful rộn ràng khơi dậy lòng yêu nước.

 

Năm mươi năm đã qua, ngày 4/7 năm nay gia đình tôi họp mặt mừng sinh nhật 250 của Hoa Kỳ. Từ ngày thân tôi một mình đến Mỹ, nay đại gia đình đã có gần 50 thành viên, bậc trưởng thượng 96 tuổi và em bé nhỏ tuổi nhất là cháu nội mới được 3 tháng. Anh em, con cháu làm việc trong nhiều ngành nghề, lao động tay chân, công nghệ thông tin, kế toán, giáo dục và có bằng cử nhân, cao học, tiến sĩ, bằng nail, bằng tóc.

 

Nhiều người Việt tốt nghiệp đại học hẳn chưa quên các chương trình trợ giúp tài chánh cho sinh viên như BEOG (Basic Education Opportunity Grant), Pell Grant, Cal Grant để trả tiền học và những nguồn tài chánh từ chính phủ trợ giúp ăn ở khi đi học. Đó là nhờ bộ luật dân quyền do Tổng thống Lyndon Johnson ban hành năm 1964, trong đó có luật giúp đỡ người da đen và da màu nói chung trong diện nghèo có cơ hội theo học đại học.

 

Nhớ lại 50 năm trước, Thống đốc Jerry Brown, thuộc đảng Dân chủ, đã không muốn đón nhận người Việt định cư ở bang California. Nhưng California quyến rũ nên nhiều người rủ nhau về trong đợt di cư lần hai, vì ở đây có nhiều việc làm, có các chương trình trợ giúp gia đình nghèo, có biển xanh nắng ấm, nhiều đồng hương và cả trăm đại học cộng đồng mà mọi lứa tuổi có thể đăng ký học nghề hay để chuyển lên những đại học danh tiếng của bang.

 

Với làn sóng thuyền nhân vượt biển, rồi chương trình HO cho tù cải tạo, ROVR cho người vượt biển hồi hương, ODP đoàn tụ gia đình, hàng trăm ngàn người Việt đã được đến Mỹ định cư. California có đông người Việt từ những năm đầu tị nạn, nay càng đông thêm. Danh xưng “Little Saigon” không phải mới chỉ có từ một thập niên sau khi người Việt đến Mỹ, mà ngay từ ngày còn sống trong lều trại của Camp Pendleton, thành phố lều đó đã được báo Mỹ gọi là “Little Saigon” vì những nét đặc trưng của nếp sống Việt trong trại. (Newsweek 2/6/1975).

Little Saigon ngày nay ở Quận Cam, chỉ cách Camp Pendleton hơn nửa giờ lái xe, là trung tâm sinh hoạt văn hóa, chính trị của người Việt. Theo số liệu năm 2025 của Pew Research Center, trong số 2,2 triệu người Việt ở Mỹ, California có 770.000 người, sống tập trung đông nhất là Los Angeles-Quận Cam với 350.000, vùng thung lũng điện tử San Jose có 145.000. Các bang khác đông người Việt là Texas với 310.000, Washington 105.000, Florida 100.000 và Georgia 70.000.

 

Nếu không có những chính sách di dân cởi mở, không có các chương trình giúp người mới đến từ thời Tổng thống Gerald Ford, Cộng hòa, đến thời Tổng thống Joe Biden, Dân chủ, thì nhiều gia đình người Việt đã không có cơ hội làm thường trú nhân rồi thành công dân Mỹ.

 

Nay nước Mỹ đang khép lại cánh cửa chào đón di dân và ngay cả du khách. Chính quyền của Tổng thống Donald Trump từ nhiệm kỳ thứ nhất, 2017-2021, với chủ trương “America First” đã cấm cửa công dân nhiều nước Hồi giáo vào Mỹ; sang nhiệm kỳ thứ hai, từ 2025 đến nay, đã không cho công dân của 75 quốc gia được di cư vào Mỹ và hàng chục quốc gia khác bị giới hạn việc cấp visa du lịch, phải đóng tiền thế chấp từ 5.000 đến 15.000 đô la khi xin visa du lịch Mỹ.

 

Tổng thống Trump cũng đã bỏ chính sách DEI (Diversity, Equity, Inclusion – Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập) và xóa đi những đóng góp, thành tựu của người da màu trong các cơ quan nhà nước.

 

Chính sách của Mỹ ngày nay đối xử với di dân như đi ngược về thế kỷ 19, khi có luật kỳ thị người Hoa năm 1882 (Chinese Exclusion Act), không cho họ nhập cư và gây nhiều khó khăn để trở thành công dân Mỹ cho những ai đã được vào Mỹ chỉ vì màu da, sắc tộc. Cũng như vào đầu thập niên 1940, hàng trăm ngàn người Nhật ở Mỹ đã bị đưa vào các trại giam xa xôi hẻo lánh chỉ vì họ là người gốc Nhật.

BuiVanPhu_2026_0709_TuyenNgonDocLap_H04_TuyenNgonDocLapVN_Movie
H04: Tuyên ngôn Độc lập 2 tháng 9 trong phim tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Mỹ (Ảnh: Bùi Văn Phú)



Dịp trở lại phố cổ lịch sử Philadelphia vừa qua là lần thứ ba của tôi. Hai lần trước chỉ thoáng qua, năm 1983 trước khi lên đường đi Togo dạy học trong chương trình Peace Corps và lần thứ hai vào năm 1998 với một nhà ngoại giao từ Hà Nội. Lần này tôi dành nhiều thời gian thăm các di tích và bảo tàng. Mỗi ngày đi bộ từ Logan Square, theo đại lộ Benjamin Franklin đến khu phố lịch sử.

 

Vào Bảo tàng Hiến pháp để hiểu hơn về lịch sử tranh đấu trong tinh thần thượng tôn luật pháp của người dân lớn bé, nam nữ và thuộc mọi sắc tộc. Đọc mấy chữ mở đầu của Hiến pháp “We, the People” tôi hãnh diện là một người dân trong đó, dù khi soạn thảo Hiến pháp, những nhà lập pháp đã không xem người nô lệ, người da màu là công dân Hoa Kỳ.

 

Thăm phòng hội nghị nơi bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 được soạn thảo và phê chuẩn để được giáp mặt, chạm tay vào lịch sử 250 năm lập quốc Hoa Kỳ. Đứng cạnh Liberty Bell mà cảm thấy hạnh phúc vì được sống tự do ở đây. Bảo tàng Benjamin Franklin cho du khách cơ hội nhìn thấy những phát minh của một nhà khoa học tài giỏi và cũng là một chính trị gia lỗi lạc của nước Mỹ. Bảo tàng Tự do trong đó vinh danh Nelson Mandela, Anne Frank, Mother Teresa, Ngụy Kinh Sinh. Quanh đây còn có Bảo tàng người Mỹ gốc châu Phi, Bảo tàng người Mỹ gốc Do Thái ghi lại những đóng góp của hai sắc dân này từ thời lập quốc của Hoa Kỳ.

 

Ở đây không có bảo tàng của người gốc châu Á, nhưng Philadelphia có Chinatown, cách khu di tích lịch sử vài con phố, ở đó có mấy tiệm bánh mì, quán phở của người Việt.

 

Nhiều nhà lập quốc Hoa Kỳ đã sống và chết ở đây. Có những ngôi mộ đơn sơ, như mộ phần của Benjamin Franklin; của Francis Hopkinson, người vẽ mẫu và làm ra lá cờ Mỹ đầu tiên với 13 sọc và 13 sao.

 

Một hôm, đang đứng trước Independence Hall chúng tôi gặp một đoàn du khách từ Việt Nam, nghe họ cùng nhau nói lớn: “Chào mừng tới nước Mỹ” trong khi quay phim, chụp hình lưu niệm, tôi nói với họ: “Welcome to USA”. Thấy nhà tôi, một chị nói: “Chị mặc áo dài, là Việt kiều phải không?” Tôi không bao giờ nhận mình là “Việt kiều” khi ý nghĩa của nó không phản ánh đúng vì tôi không phải là người Việt tha phương cầu thực ở nước ngoài.

 

Hoa Kỳ là quê hương của tôi, đã cho tôi nhiều thứ và tôi đã góp phần cho sự tiến bộ của quốc gia này trong nửa thế kỷ qua và nơi đây thật sự là “đất nước của tự do và quê hương của những con người dũng cảm” như lời trong bài quốc ca Mỹ.

 

Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ là Thomas Jefferson, là nhân vật chính soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập với sự đóng góp của John Adams và Benjamin Franklin trước khi được 56 đại biểu của 13 bang phê chuẩn. Những ý tưởng của Thomas Jefferson về tự do của con người đã được đưa vào Bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam. Trong chuyến công du Hoa Kỳ năm 2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã đến thăm đài tưởng niệm Thomas Jefferson bên dòng sông Potomac ở thủ đô Washington để bày tỏ lòng kính trọng với tác giả của Tuyên ngôn Độc lập Hoa Kỳ.

 

Nhưng tinh thần tự do mà Thomas Jefferson đã khai mở cho nước Mỹ không được lãnh đạo Hà Nội cho lan tỏa trên quê hương Việt Nam. Đã 81 năm từ ngày Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến nay người dân Việt vẫn không có nhiều quyền tự do căn bản.

 

Giữa thực tế của hai quốc gia, độc lập và tự do ở Hoa Kỳ và ở Việt Nam có một khoảng cách lớn, như cả một đại dương bao la.


Bùi Văn Phú 

*Tác giả Bùi Văn Phú tốt nghiệp Đại học U.C. Berkeley, làm việc trong lãnh vực giáo dục và là một nhà báo tự do từ vùng Vịnh San Francisco, California.

 

 

 

 

 

Có những tuần trôi qua lặng lẽ. Có những tuần giống như một chuyến tàu lượn siêu tốc, nó bắt hành khách phải ôm cùng lúc nhiều cảm xúc lẫn lộn, vừa có nỗi đau, có phẫn nộ, có sợ hãi và cả sự hoài nghi. Không cho một khoảnh khắc nào để thở. Đến cả những dây thần kinh thô ráp nhất của linh hồn cũng phải trỗi dậy, để hỏi thế nào là lòng trắc ẩn? Thế nào là lương tâm của loài người?
Trong hơn 2 năm tạm cư tại Hoa Kỳ, nhờ công việc, nên tôi được đi lại khá nhiều. Từ các tiểu bang bờ Đông xuống Florida. Tại bờ Tây, tôi được đi từ tiểu bang Washington xuống dọc đến San Diego, thành phố cực nam của tiểu bang California. Tại phía Nam nước Mỹ, tôi được đi băng ngang qua nhiều tiểu bang dọc theo biên giới Mexico, kể cả một số tiểu bang miền Trung nước Mỹ, trong đó có Arkansas – nơi tôi lái xe đến thăm gia đình Luật sư Võ An Đôn.
Theo kết quả khảo sát của Pew, mức độ tin tưởng vào ông Trump đã sụt giảm tại 16 trong số 24 quốc gia so với năm ngoái, và không có quốc gia nào được khảo sát ghi nhận sự gia tăng thái độ tích cực đối với vị tổng thống này. Chỉ 23% số người được hỏi cho biết họ tin tưởng ông Trump sẽ đưa ra những quyết định đúng đắn trong các vấn đề toàn cầu. Ông Wike cho biết những người được hỏi dành nhiều sự tin tưởng hơn cho Tổng Thống Pháp Emmanuel Macron (43%), Tổng Thống Ukraine Volodymyr Zelensky (35%), Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình (34%) và Tổng Thống Nga Vladimir Putin (31%). Chỉ có Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu là nhận được mức độ tin tưởng thấp hơn ông Trump, ở mức 18%.
Các bậc quốc phụ Hoa Kỳ muốn thành lập một nền Cộng hòa chớ không phải một nền Dân chủ. Tuy nhiên, ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia dân chủ hơn nhiều so với những mà gì các nhà cách mạng Mỹ muốn tưởng tượng trong những giấc mơ điên rồ nhất của họ – hoặc những cơn ác mộng. Đồng thời, có một vài nỗi sợ hãi tệ hại nhất liên hệ đến thuật ngữ "dân chủ" trong thời cách mạng Mỹ dường như đang xảy ra trong hiện tại. Ngay trong bài diễn văn từ biệt năm 1796 của George Washington, tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ, ông đã cảnh báo cho đồng bào về "những tác động tai hại của tinh thần đảng phái", mà nó có thể thúc đẩy cho người dân trong việc "tìm kiếm sự an toàn và yên tĩnh trong quyền lực tuyệt đối của cá nhân"...
Đối với đời người thì 250 năm đã dài gấp hai lần rưỡi tuổi thọ mà một con người có thể đạt đến nhiều nhất, nếu một người có thể sống tới 100 tuổi. Nhưng đối với một quốc gia thì 250 năm không phải là thời gian dài, bởi vì có những nước như Việt Nam có niên đại tồn tại lâu tới bốn, năm ngàn năm. Tuy nhiên, điều tôi muốn nói ở đây không phải là tuổi thọ dài hay ngắn của một quốc gia hay của nước Mỹ mà là trong suốt hai thế kỷ rưỡi đó đất nước này đã làm được gì có giá trị để đời và đã đánh mất thứ gì quý giá trong những điều cốt lõi làm nên một nước Mỹ thịnh trị hùng cứ một phương.
Con chó Taichito đã theo sát Aung San Suu Kyi suốt bao năm. Nhưng nó không được phép đi theo bà vào nhà giam khi quân đội lật đổ chính quyền của bà cách đây năm năm. Tháng trước, con chó tai cụp ấy chết tại nhà bà ở Yangon, thủ đô cũ, thọ 15 tuổi, vẫn như còn chờ bà trở về. Nó là món quà người con trai, Kim Aris, tặng mẹ khi bà ra khỏi nhà giam lần trước, năm 2010. “Tôi nghĩ đó là điều tốt nhất tôi từng tặng bà. Nó rất trung thành với bà,” ông Aris nói trong một cuộc phỏng vấn tại Luân Đôn.
Có một sự khác biệt rất lớn giữa thế hệ Gen Z và một thế hệ người Mỹ đã quá chán nản với những con đường mòn rập khuôn, nỗi sợ hãi không dám “lệch đảng.” Ở Gen Z, họ có một nguồn năng lượng mà những chiếc ghế lâu năm ở Quốc Hội không thể có. Kết quả của bầu cử sơ bộ 2026 ở tiểu bang Colorado đã cho thấy khá rõ nét điều này. Một thế hệ Gen Z cho rằng "hệ thống đã đổ vỡ và chúng tôi nhận ra sẽ không có ai đến cứu chúng tôi ngoài chính chúng tôi.”Họ, là những người sinh trưởng trong gia đình di dân.
Mấy tuần đầu World Cup trên đất Mỹ là một chuyện lạ: giải đấu diễn ra đã vài tuần mà tên Donald Trump ít được nhắc đến. Người ta coi bóng, bàn luật, uống bia và cãi nhau, khán giả quốc tế thấy nước Mỹ tổ chức một kỳ bóng đá vui vẻ, tử tế. Ông tổng thống thì bận mừng 250 năm nước Mỹ, chưa để mắt vào sân bóng. Nhưng đâu dễ “too good to be true” như thế. Thẻ đỏ của Folarin Balogun xảy ra vài ngày trước, trong trận gặp Bosnia: anh tranh bóng với hậu vệ Tarik Muharemović. Xem nhanh, pha bóng chẳng có gì đặc biệt. Vào phòng VAR, quay chậm cho thấy mũi giày cà xuống sau ống chân, cổ chân xoắn lại. Trọng tài rút thẻ đỏ. Theo luật, thẻ đỏ ở World Cup thì trận sau nghỉ. Không kháng cáo, không ngoại lệ. Lẽ ra chuyện kết thúc ở đó.
Tổng thống Donald Trump đến Ankara với đe dọa hơn là củng cố quan hệ với NATO. Ông văng ra những điều khó nghe, sẽ rút quân Mỹ khỏi châu Âu nếu không chiếm được Greenland, vô cùng bất mãn vì các nước Âu châu không tham gia chiến tranh Iran, và tuyên bố cắt hết mậu dịch với Tây Ban Nha. Nhưng trước khi ra về, ông lại nói đến “tình bằng hữu to lớn” giữa các đồng minh.
Dĩ nhiên, mỗi người Mỹ hôm nay sẽ có cách riêng để hiểu và thể hiện lòng yêu nước của mình. Lễ Độc Lập năm nay còn đánh dấu cột mốc 250 năm ngày một bản Tuyên ngôn đặt nền cho nước Mỹ ra đời – vì vậy, hai chữ “lòng yêu nước” lại trở thành khẩu hiệu đầu môi. Nhưng giữa pháo bông và diễu hành, giữa những lá cờ bay trên sân vận động và những đứa trẻ từ chối hát quốc ca, người Mỹ nói chung, và người Mỹ gốc Việt nói riêng thật sự nghĩ gì về lòng ái quốc?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.