Hôm nay,  

Trump Đánh Thuế Canada: Gậy Ông Đập Lưng Ông

24/08/202611:57:00(Xem: 437)
Ambassador_bridge_2

Cầu Ambassador nối Detroit, Michigan, với Windsor, Ontario, một trong những huyết mạch thương mại giữa Hoa Kỳ và Canada.  Ảnh: Public domain.

 


Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ.

Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ.

Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.

Trump viện dẫn Điều 338 của Luật Thuế Quan năm 1930, cho phép tổng thống đánh thuế tới 50% đối với hàng hóa từ một quốc gia bị cho là kỳ thị thương mại Hoa Kỳ. Chưa có vị tổng thống Mỹ nào trước ông sử dụng quyền này.

Hai bên tưởng đã gần đạt thỏa thuận vào cuối tuần qua. Theo những điều kiện đang được thương lượng, Hoa Kỳ có thể hạ thuế xe hơi Canada từ 25% xuống 15%, đồng thời giảm thuế thép và nhôm từ 50% xuống 25%. Nhưng cuộc thương lượng đổ vỡ vào giờ chót.

Thủ Tướng Canada Mark Carney nói phía Mỹ đưa thêm những điều kiện mà Ottawa không thể chấp nhận. Ông tóm tắt cuộc thương lượng bằng một câu: “Họ đòi quá nhiều mà cho quá ít.”

Canada tuyên bố sẽ ăn miếng trả miếng kể từ ngày 8 tháng 9, đánh thuế đáp trả lên hàng hóa Mỹ. Khi được hỏi liệu hai nước có đang bước vào một cuộc chiến thương mại hay không, Carney đáp: “Bị tấn công thì là chiến tranh. Chúng tôi đã bị tấn công.”

Trump có một số lý do để bất bình với Canada. Ottawa bảo vệ ngành sữa, từng hạn chế rượu Mỹ tại một số tỉnh bang và có những chính sách gây bất lợi cho một số công ty kỹ thuật Hoa Kỳ. Những vấn đề ấy hoàn toàn có thể đem ra thương lượng.

Nhưng Trump còn dựa vào một luận cứ khác: Hoa Kỳ bị thâm thủng mậu dịch với Canada, vì vậy Mỹ đang bị Canada “qua mặt.”

Phần lớn mức thâm thủng ấy đến từ dầu thô. Hoa Kỳ mua nhiều dầu Canada vì nhiều nhà máy lọc dầu tại vùng Trung Tây và Duyên Hải Vịnh Mexico được thiết kế để sử dụng loại dầu nặng này, chứ không phải vì Ottawa buộc Washington phải mua. Nếu loại dầu ra khỏi cán cân hàng hóa, Hoa Kỳ thực ra bán sang Canada nhiều hơn mua vào.

Cho nên giảm nhập dầu Canada có thể làm mức thâm thủng nhỏ lại trên sổ sách, nhưng lại có thể làm tăng chi phí cho chính nền kinh tế Hoa Kỳ.

Nhà máy lọc dầu không vận hành theo con số thâm thủng hay thặng dư. Nó cần đúng loại nguyên liệu với giá thích hợp. Nếu dầu Canada bị đánh thuế hoặc phải thay bằng nguồn khác đắt hơn, phí tổn lọc dầu tăng. Phần tăng ấy rồi sẽ được phân bổ qua hãng dầu, hãng vận tải, cây xăng và sau cùng tới người lái xe.

Đó là điểm căn bản thường bị bỏ quên trong tranh luận về thuế quan: giảm nhập cảng không mặc nhiên tạo ra lợi ích kinh tế.

Nếu doanh nghiệp Mỹ đang mua một món hàng từ Canada vì giá rẻ hơn, nguồn cung gần hơn hoặc phẩm chất thích hợp hơn, buộc họ phải tìm nguồn thay thế đắt hơn có thể làm cán cân thương mại đẹp hơn, nhưng lại làm giảm sức cạnh tranh của chính doanh nghiệp Hoa Kỳ.


Ngành xe hơi cho thấy rõ nhất sự ràng buộc ấy.

Một chiếc xe ráp tại Michigan có thể dùng động cơ từ Ontario, thép từ Mỹ, hộp số từ Canada rồi trở lại Hoa Kỳ để hoàn tất. Linh kiện có thể qua biên giới nhiều lần trước khi chiếc xe ra khỏi hãng.

Trong một chuỗi sản xuất như vậy, biên giới chính trị vẫn còn nguyên, nhưng đường ranh kinh tế đã mờ đi từ lâu.

Thuế đánh lên một linh kiện Canada vì thế không chỉ làm người bán Canada chịu thiệt. Nó trở thành một phần trong giá thành của chiếc xe Mỹ.

Giá sản phẩm thép tại Hoa Kỳ đã tăng 22.5% trong một năm, nhôm tăng 40.5%. General Motors dự trù thuế quan có thể khiến công ty thiệt từ $2.5 tỷ đến $3.5 tỷ trong năm nay. Các hãng xe Mỹ vì vậy đã thúc giục chính quyền Trump tìm đường đình chiến với Ottawa.

Một trong những điểm khiến cuộc thương lượng tan vỡ là Washington không chịu giảm thuế đối với xe vận tải hạng trung và hạng nặng, kể cả những chiếc Ford sản xuất tại Ontario.

Thành ra, muốn trừng phạt Canada mà lại đánh vào Ford.

Đó chính là nhược điểm của chính sách bảo hộ khi chuỗi cung ứng đã vượt qua biên giới quốc gia.

Thuế thép có thể giúp nhà sản xuất thép Mỹ bán được giá cao hơn, nhưng hãng xe Mỹ phải mua thép đắt hơn.

Thuế nhôm có thể che chở một số nhà máy nhôm, nhưng các hãng sản xuất máy móc, lon nước, máy bay và đồ gia dụng lại chịu giá nguyên liệu cao hơn.

Thuế lên vật liệu xây dựng có thể có lợi cho một số nhà sản xuất trong nước, nhưng người mua nhà phải gánh thêm chi phí.

Một ngành được bảo vệ bằng hàng rào thuế quan thường có một ngành khác đứng phía sau trả hóa đơn.

Và người cuối cùng cầm hóa đơn ấy thường là người tiêu thụ.

Thuế nhập cảng cũng không phải khoản tiền Canada đem tới Washington nộp. Người nhập cảng tại Hoa Kỳ trả thuế tại cửa khẩu. Sau đó, họ tìm cách chuyển phần chi phí ấy sang người mua bằng giá cao hơn, ép nhà cung cấp hạ giá, chấp nhận lợi nhuận thấp hơn hoặc cắt giảm chi phí ở nơi khác.

Canada dĩ nhiên cũng sẽ chịu thiệt nếu cuộc chiến kéo dài. Hàng xuất cảng mất sức cạnh tranh, doanh nghiệp mất thị trường, đầu tư có thể chậm lại. Vì nền kinh tế Canada nhỏ hơn, một cuộc đối đầu kéo dài với Hoa Kỳ có thể gây tổn thất nặng hơn cho Ottawa.

Nhưng một chính sách kinh tế không trở thành khôn ngoan chỉ vì đối phương chịu thiệt nhiều hơn mình.

Nếu Canada mất mười đồng mà Hoa Kỳ cũng mất sáu đồng, Washington có thể gọi đó là thắng. Với doanh nghiệp Mỹ, sáu đồng ấy vẫn là sáu đồng bị mất. Với người tiêu thụ Mỹ, khoản ấy vẫn phải lấy từ túi mình ra.

Trump muốn dùng sức nặng của thị trường Hoa Kỳ để ép Canada nhượng bộ. Xét về tương quan lực lượng, Washington quả có ưu thế.

Nhưng Canada không chỉ là khách hàng của Mỹ. Canada còn bán dầu cho nhà máy lọc dầu Mỹ, thép và nhôm cho hãng xưởng Mỹ, linh kiện cho xe Mỹ, đồng thời là một trong những thị trường lớn nhất của hàng hóa Hoa Kỳ.

Đánh vào một nền kinh tế đã buộc chặt với mình, rất khó chỉ làm bên kia đau. Mỗi lần Washington vung gậy về phía Ottawa, cây gậy ấy lại bật ngược phang thẳng vào đầu hãng xưởng và người tiêu thụ Mỹ.


Nguyên Hòa tổng hợp

Nguồn tham khảo: The Wall Street Journal; Reuters, và AP.

 

Việc bà Lori Chavez-DeRemer tuyên bố từ chức Bộ trưởng Lao động trong nội các ông Donald Trump nhiệm kỳ hai đánh dấu nhân vật thứ ba rời ghế, và điểm chung đáng chú ý: cả ba đều là phụ nữ. Tên tuổi bà Chavez-DeRemer, thú thật, không mấy ai trong giới theo dõi chính trị Hoa Kỳ buộc phải thuộc nằm lòng, bởi suốt thời gian ngồi ghế bộ trưởng, bà ít được nhắc đến về công việc chuyên môn hơn là về những tiện nghi, đặc quyền mà chức vụ mang lại. Về khoản đó, người ta thấy bà không khác mấy với bà Kristi Noem trước đây – cùng một lớp người bước vào chính quyền với một kho tham vọng lẫn sở thích “hưởng lộc công”. Tòa Bạch Ốc thông báo vắn tắt: bà rời chính phủ để “nhận một chức vụ trong khu vực tư nhân” – thứ câu chữ đã trở thành lối nói quanh quen thuộc, từng được dùng cho cả bà Noem lẫn bà Pam Bondi khi hai người này bị gạt sang bên lề. Luật sư của bà cũng không quên lời tuyên bố “theo sách vở”: việc ra đi không dính dáng gì đến “vi phạm pháp luật”, chỉ là “quyết định cá nhân
Có vẻ như ngày Thứ Hai của tuần mới không phải là một “Good Day” cho Tổng thống Trump. Cuộc đàm phán vòng hai với Iran chưa biết sẽ ra sao. Iran vẫn “cứng cựa” không chịu cho Trump cái mà ông ta muốn: chiến thắng. Do đó, ông lại phải mượn Truth Social để tấn công vào những nơi mà ông ta cho là an toàn nhất và “đã” nhất. Bởi vì ít nhất họ cũng chấp nhận im lặng như đã từng trong suốt thời gian qua. Trong hai bài đăng trên mạng xã hội, Trump đã gay gắt chỉ trích các thành viên Đảng Dân Chủ, gọi họ là “TẤT CẢ ĐỀU LÀ KẺ PHẢN BỘI” cũng như giới truyền thông vì những lời phê bình và sự hoài nghi của họ đối với cách ông ta xử lý cuộc chiến tại Iran.
Có những hành động mà tần suất và cường độ kỳ lạ của nó tăng dần theo thời gian, tỷ lệ thuận với sự phá hủy xã hội và cả sinh mạng, nhưng cộng đồng chung quanh vẫn im lặng, thì vấn đề không còn ở người thể hiện nữa. Nó đã trở thành cáo buộc chung cho sự “im lặng của bầy cừu.” Những hành vi thất thường cùng các phát ngôn cực đoan, bạo lực, gần như không thể kiểm soát, của Donald Trump trong thời gian gần đây đã thổi bùng lên cuộc tranh luận dai dẳng. Những bài phát biểu của Tổng thống Donald Trump ngày càng dài, tăm tối và lan man. Từ bài diễn văn thông điệp liên bang cho đến những lần trả lời báo giới. Trump có thể trôi từ chủ đề này sang chủ đề khác, từ nhập cư sang cối xay gió, cá mập, giá cổ phiếu, rồi đến câu chuyện cây bút Sharpie. Bất kỳ buổi họp báo nào, Trump cũng có thể trở thành “spotlight.”
Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.