Hôm nay,  

Tam Phân Iraq

13/10/200600:00:00(Xem: 10575)

Tam Phân Iraq

Số phận Iraq đang được định đoạt. Nhưng rất lâu sau bầu cử tại Mỹ…

Có lẽ, lần đầu tiên người ta nghe nói đến giải pháp chia ba Iraq là mùng tám Tháng Tám, khi tờ The New Anatolian của Turkey tiết lộ nội dung phúc trình của một trung tâm nghiên cứu Turkey, International Strategic Research Organization. Bản phúc trình dày 33 trang thúc giục chính quyền Ankara phải chuẩn bị cho một tình huống rất lạ: Iraq có thể được chia thành ba nước và Turkey cần có đối sách với tộc Kurd ở miền Bắc Iraq (và miền Nam Turkey).

Tin ấy xuất hiện khi thế giới còn đang quan tâm đến cuộc phản công của Israel chống quân Hezbollah tại Lebanon. Vì vậy, chuyện tam phân Iraq không được dư luận chú ý.

Đúng hai tháng sau, mùng tám tháng 10, nhật báo Times tại Luân Đôn lại nhắc đến giả thuyết trên khi tiết lộ đề nghị của một ủy ban độc lập của Quốc hội Hoa Kỳ. Do cựu Ngoại trưởng James Baker làm đồng chủ tịch, Ủy ban Iraq Study Group trù tính là sau cuộc bầu cử thì đệ nạp Quốc hội một giải pháp cho Hoa Kỳ để khỏi hoặc tháo chạy hoặc sa lầy tại Iraq.

James Baker là bạn chí thiết của Tổng thống George H. Bush (Bush 41), từng cộng tác với chính quyền Reagan trong các chức vụ Đổng lý Văn phòng (Chief of Staff) hay Tổng trưởng Tài chánh khi ông Bush làm Phó tổng thống và sau này là Ngoại trưởng đã bố trí giải pháp "hậu Liên xô" cho Tổng thống Bush. Ông cũng là đại diện của George W. Bush trong cuộc tranh cãi về kiểm phiếu tại Florida giữa hai liên danh Bush-Gore năm 2000.

Năm nay 76 tuổi, Baker là luật sư, nhà thương thuyết chiến lược và người thân tín của gia đình Bush từ nhiều thập niên. Khi ông được mời vào chỉ huy một ủy ban nghiên cứu độc lập (lưỡng đảng) cho Quốc hội Mỹ, ông có nhiệm vụ tìm ra lối thoát cho Hoa Kỳ và cho đương kim tổng thống, ông Bush 43.

Trong các cuộc tiếp xúc với truyền thông Mỹ sau những tiết lộ về Ủy ban Nghiên cứu Iraq, Baker đã không che giấu những lời chỉ trích giành cho chính quyền Bush về hồ sơ Iraq. Có thể là ông muốn tự tạo ra một tư thế độc lập để chuẩn bị cho những giải pháp sẽ đề nghị về Iraq. Giải pháp ấy có thể là thiếp lập một chế độ liên bang giữa ba sắc tộc chính là Shia, Sunni và Kurd, hoặc chia hẳn xứ Iraq làm ba.

Cho đến gần đây, Tổng thống Bush và Ngoại trưởng Rice đều không mấy ưa giải pháp tam phân. Nhưng xung đột liên tục về sắc tộc và hệ phái tôn giáo khiến chính quyền Bush hết kiên nhẫn nổi với chính phủ Baghdad và khiến đối lập tại Mỹ được cơ hội tấn công Bush để tác động vào bầu cử. Ở tại chỗ, các lãnh tụ của sắc dân Kurd cũng hết kiên nhẫn nổi với việc họ chịu lép trước hai phe Shia và Sunni để cùng Hoa Kỳ tìm giải pháp cho Iraq mà cuối cùng bạo động giữa hai phe ấy vẫn tiếp tục.

Bây giờ đến lượt dân Kurd phải nghĩ đến quyền lợi của chính họ.

Chỉ dấu của phản ứng đó là lời phát biểu của Tổng thống Iraq, một lãnh tụ Kurd.

Ngày 26 tháng Chín vừa qua, ông Jalal Talabani này đã tuyên bố tại Thủ đô Mỹ qua đài phát thanh National Public Radio, rằng Iraq có thể gây rối cho các lân bang (Iran, Turkey và Syria) nếu các nước này không chấm dứt can thiệp vào nội tình Iraq. Ba ngày sau, ống dẫn dầu khí từ Iran qua Turkey bị đánh bom và Tehran tố giác đó là hành vi phá hoại của các nhóm Kurd đòi ly khai.

Về sắc tộc, dân Shia chiếm đa số (60%) đa số ở miền Nam, một vùng có nhiều trữ lượng dầu hỏa. Với chừng 20% dân số, người Sunni tập trung tại miền Trung, gồm cả khu vực Baghdad, và từng thống trị Iraq dưới thời Saddam Hussein, nay đang tranh giành ảnh hưởng với dân Shia. Khu vực sinh hoạt của họ không có dầu hỏa. Tại phía Bắc, dân Kurd sinh sống trên những giếng dầu và có bà con đồng chủng tộc ở tại Turkey và Iran. Nếu họ đòi ly khai thành một xứ độc lập có dầu khí thì hai nước lân bang kia sẽ bị đe dọa phân hoá.

Cho tới nay, các lãnh tụ Kurd không lặng lẽ hợp tác với Hoa Kỳ và hai sắc tộc kia. Giải pháp sống chung khi ấy là làm sao phân phối tài nguyên dầu khí cho đồng đều giữa ba sắc dân và tự thân thì đấy cũng đã là một vấn đề về hiến pháp và ngân sách (giữa trung ương với các địa phương). Vấn đề ấy lại chưa đặt ra vì sống chung là điều hai sắc dân Sunni và Shia không muốn. Và nếu nhiều lãnh tụ Shia muốn tiến dần đến quyền tự trị ở tại miền Nam thì dân Kurd tại miền Bắc cũng không đòi hỏi gì hơn.

Ở giữa, phe Sunni thấy mình thất thế. Ở chung quanh, các nước như Turkey hay Iran cũng thấy bất an. Iran có thể chi phối tình hình Iraq qua một số lãnh tụ Shia, nhưng sẽ không yên tâm nếu dân Kurd tại Iran muốn ly khai để được sát nhập vào quốc gia Kurd có thể thành hình từ một mảnh vụn của Iraq.

Hôm thứ Tư 11 vừa qua, Quốc hội Iraq đã biểu quyết một đạo luật cho phép đề ra một cơ chế phân phối quyền hạn của các chính quyền địa phương, bao gồm bên trong có cả quyền lợi về tài nguyên dầu khí. Đạo luật ấy chưa chính thức đề ra chế độ liên bang, là một điều thuộc phạm vi hiến định, của Hiến pháp, nhưng cho phép các tỉnh có thể tổ chức trưng cầu dân ý để tham gia vào các "khu vực tự trị", là một hình thái liên bang trong thực tế. Liên minh lớn nhất của phe Sunni và hai nhóm Shia khác đã muốn ngăn quyết định trên mà không hội đủ túc số.

Chính quyền Bush và lực lượng Shia mạnh nhất "Thượng Hội đồng Cách mạng Hồi giáo Iraq" (SCIRI) có vẻ ủng hộ giải pháp tiến dần đến chế độ liên bang cho Iraq, nhưng tổ chức SCIRI này chưa chắc đã đủ thực lực để bảo vệ an ninh trong khu vực và chính quyền Bush bị suy yếu ở nhà cũng mất dần khả năng vận động cho giải pháp đó. Nếu đảng Dân chủ thắng cử vào tháng tới, Hành pháp Bush còn bị Lập pháp cột tay và không đủ thời giờ theo đuổi giải pháp liên bang.

Trong hoàn cảnh ấy, Ủy ban Nghiên cứu của James Baker có thể sẽ tung ra sáng kiến còn táo bạo hơn, đó là chia Iraq làm ba nước. Sáng kiến này được nhiều nhân vật Dân chủ ủng hộ, như Nghị sĩ Boseph Biden, với sự biểu đồng tình của nhiều nhân vật Cộng hoà như Nghị sĩ John Warner: họ thất vọng về sự bất lực của chính quyền liên hiệp ở Baghdad.

Và dư luận Mỹ cũng hết kiên nhẫn về việc Mỹ để binh lính bị cầm chân tại Iraq.

Cho nên, ngay sau bầu cử, Hoa Kỳ có thể đề nghị các lân bang của Iraq, như Syria và Turkey - hay cả Iran - triệu tập một hội nghị quốc tế để thảo luận về một giải pháp hòa bình cho Iraq. Cựu Ngoại trưởng Baker đang kín đáo vận động giải pháp đó. Như vậy, chính phủ liên hiệp của Thủ tướng Nouri al-Maliki chỉ có non hai tháng để chứng tỏ là thế liên hiệp ấy có khả năng tồn tại. Nếu không, sau cuộc bầu cử tháng 11 và trước khi Quốc hội mới sẽ khai mạc khoá họp vào đầu năm tới, Tổng thống Bush sẽ tung ra sáng kiến mới cho vấn đề Iraq.

Nhưng, hãy nhìn xa hơn một chút về giải pháp tam phân này.

Chia ba theo tiêu chuẩn nào" Với 53% dân số Iraq tập trung trong bốn thành phố lớn và sống lẫn lộn tại ba của bốn thành phố đó, thì ai sẽ đi và ai sẽ ở, và đi đâu" Ngay tại Baghdad, dân Shia đang sống bên Đông ngạn của sông Tigris sẽ cắt đất chia dầu ra sao với dân Sunni sống bên Tây ngạn dòng sông trong cùng một thủ đô"

Dù sao, nếu có thành thì hoà đàm quốc tế để chia ba Iraq sẽ là một hội nghị kéo dài nhiều năm trong tiếng súng. Và Hoa Kỳ sẽ không dễ gì phủi tay bước ra khỏi Iraq. Tham mưu trưởng Lục quân Mỹ là Tướng Peter J. Schoomaker, có nói ra điều ấy khi gián tiếp bắn sẻ vào lưng thượng cấp là Tổng trưởng Quốc phòng Rumsfeld: Lục quân Hoa Kỳ đang lập kế hoạch để có thể duy trì quân số Bộ binh tại Iraq như hiện nay trong ba năm nữa. Cho đến năm 2010!

Đã từ lâu, những gì Donald Trump nói, làm, hoặc tung ra trên Truth Social Media, đã không còn là một tuyên bố mang tính chuẩn mực cao nhất của quốc gia. Nó cũng không còn bao hàm những quyết định quan trọng mà người dân mong chờ sẽ mang đến một xã hội tốt đẹp hơn, an toàn hơn. Không phải những cận thần chung quanh Trump không nhận ra điều đó. Rõ nhất là “Thằng Ất” và “Thằng Giáp” – hai kẻ đã từng đưa ra lời chỉ trích mạnh mẽ thời chưa bước vào cửa quan. “Thằng Ất” JD Vance hồi năm 2016 đã nhắn tin cho một người bạn học cũ, gọi Trump là "Hitler của nước Mỹ.” Trong một bài viết đăng trên tờ The Atlantic vào năm 2016, Vance mô tả Trump như một thứ "’heroin’ văn hóa.”
Trong kho tàng ngụ ngôn Aesop có hai câu chuyện. Một chuyện kể về cậu bé chăn cừu thích lấy nỗi sợ của cả làng ra làm trò đùa. Cậu nhiều lần hét to “Sói! Sói!” để lừa người lớn chạy hộc tốc lên đồi, rồi bỏ về, bực bội vì bị lừa. Đến một ngày nọ, sói thật xuất hiện, cậu kêu cứu đến khản cổ mà không còn ai buồn chạy lên đồi cứu giúp, khiến đàn cừu của cậu bị sói vồ sạch. Chuyện thứ hai kể về một con sói thật kiên nhẫn. Ngày này qua ngày khác, nó lảng vảng đến gần đàn cừu. Lúc đầu, người chăn cừu cảnh giác, luôn tay xua đuổi nó. Nhưng sói chỉ đứng xa, trông hiền hòa, không vồ con nào. Lâu dần, chàng chăn cừu quen thuộc với sự hiện diện của Sói, cho đến khi bóng dáng con vật trở nên một phần của phong cảnh xung quanh đàn cừu. Tới một hôm bận việc, anh cả tin đến mức gửi luôn đàn cừu cho sói “trông hộ”. Tối về, chuồng chỉ còn vài con sót lại.
Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.