Hôm nay,  

Năm Năm Đầu Tiên….

11/09/200600:00:00(Xem: 7616)
Hoa Kỳ mới chỉ tham chiến được năm năm - và còn phải thay đổi
Ngay giữa cuộc chiến, và suốt mười ngày qua, chính quyền của Tổng thống Bush đã tung ra nhiều chiêu pháp ngoạn mục liên hệ đến hồ sơ khủng bố.
Để kỷ niệm năm năm ngày Hoa Kỳ bị khủng bố tấn công - vụ 9-11 - ông Bush và các vị cộng sự đã mở chiến dịch tranh cử cho đảng Cộng hoà, với rất nhiều đề nghị và lập luận nhằm giành lại thế thượng phong cho một chính quyền bị thất thế vì hồ sơ Iraq. Từ việc truy tố các đặc công của al-Qaeda tới nhà tù Guantanamo và yêu cầu Quốc hội phê chuẩn những luật lệ phù hợp với đòi hỏi của cuộc chiến - hầu tránh cho chính quyền bị lâm vào hoàn cảnh không vi hiến thì cũng phạm luật, ông Bush cố giành lại thế chủ động và đẩy phe đối lập vào hoàn cảnh bất lợi: chống lại đề nghị của đảng Cộng hoà khi dân Mỹ xúc động tưởng niệm biến cố 9-11 là đảng Dân chủ bị mang tiếng là thiếu dứt khoát với vấn đề khủng bố.
Những ai nghĩ rằng ông Bushy thô thiển và thiếu thủ đoạn chính trị có thể đã đánh giá lầm nhân vật này.
Tuy nhiên, sau 60 ngày chạy đua để giành thế đa số tại Quốc hội, các chính khách Mỹ vẫn phải đối đầu với một thực tế: Hoa Kỳ chưa thực sự có một quan niệm toàn diện và thích hợp với hình thái chiến tranh mới và trong năm năm qua, các lực lượng Hồi giáo cực đoan đã học bài và xoay chuyển chiến pháp của họ. Trong hai năm còn lại, nếu chính quyền Bush và cả Quốc hội Mỹ không nhìn ra và thuyết phục được người dân về những đòi hỏi của cuộc chiến. Hoa Kỳ coi như thất trận và sẽ triệt thoái, để lại những mầm loạn cho cả thế giới - mà chưa chắc đã ngăn ngừa được những vụ khủng bố khác ngay trong lãnh thổ.
Vì sao chúng ta lại có một kết luận bi quan như vậy" Vì Hoa Kỳ chưa có một quan niệm - đừng nói đến tổ chức - về cuộc chiến mang tính chất toàn diện và phi quy ước của quân khủng bố.
Hoa Kỳ là một đệ nhất siêu cường hiện chiếm vị trí độc bá trên toàn cầu. Trong lịch sử ngắn ngủi của mình, quốc gia này đã đánh bại mọi đối thủ trong các cuộc chiến quy ước, giữa các đơn vị chính quy và hậu cứ kinh tế của một quốc gia với một quốc gia. Hoa Kỳ có khả năng chiến tranh vượt trội so với mọi quốc gia đối nghịch nhờ một số đặc tính của xã hội và văn hoá Mỹ. Các đại cường như Đức, Ý hay Nhật đều bị đánh bại và khi quân ngũ tan rã, chính quyền phải đầu hàng để dành lại cơ hội xây dựng lại một quốc gia khác, với chính quyền mới, trên những đổ vỡ của chiến tranh do chính Hoa Kỳ viện trợ để tái thiết.
Nhưng siêu cường này không mấy thành công với loại hình thái chiến tranh phi quy ước, loại chiến tranh toàn diện, kết hợp khủng bố, phá hoại, du kích và đấu tranh chính trị. Một trường hợp nổi bật nhất chính là Việt Nam khiến một siêu cường quân sự đã thảm bại vì lý do chính trị, để lại cho các sử gia học giả hay chính khách tả hữu việc diễn giải vì sao đã thua.
Sau đó, không thiếu gì trường hợp thất bại khác, dù không lớn lao bằng, như tại Lebanon, Somalia, và ngày nay, tại Afghanistan và Iraq.
Một nhận thức sai lạc của chính người dân Mỹ lên tới lãnh đạo chính trị và học thuật tư tưởng rằng Hoa Kỳ là vô địch không có đối thủ đã khiến dư luận Mỹ coi thường kẻ thù. Việc Liên xô sụp đổ càng củng cố niềm tin ấy. Sự thật thì Liên xô sụp đổ không vì một trận thư hùng quân sự với Hoa Kỳ, mà vì những nhược điểm nội tại của chế độ cộng sản.
Nhiều người thực ra có rút tỉa bài học Việt Nam và nêu ra một số nguyên tắc chỉ đạo việcv chiến hoà, có nên tham chiến hay không. Nguyên (và là Cố) Tổng trưởng Quốc phòng Caspar Weinberger cùng người cộng sự là Tướng Colin Powell - sau này là Ngoại trưởng - đã đề ra những nguyên tắc ấy, gọi là chủ thuyết Weinberger hay Powell: "Hoa Kỳ chỉ tham chiến trong một số điều kiện nhất định, và một cách bất đắc dĩ khi chẳng còn giải pháp nào khác".
Nhưng, chủ thuyết ấy vẫn phản ảnh một cái nhìn thiên về quân sự hơn chính trị và không đề ra những chỉ dẫn cần thiết cho một hình thái chiến tranh khác. Đến thời (đương kim) Tổng trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld, giới chức quân sự Mỹ đã kết hợp những yếu tố địa dư chính trị và kỹ thuật chiến tranh để nói đến việc chuyển hoá bộ máy quân sự cho hình thái chiến tranh mới. Gọn, nhẹ, với tầm tác xạ cao và chính xác hơn. Ông Rumsfeld đang chuẩn bĩ cải tổ bộ máy chiến tranh theo hướng ấy thì vụ khủng bố xảy ra.

Hai chiến dịch Afghanistan và Iraq, trong tháng 11 năm 2001 và tháng Ba năm 2003, đã chứng tỏ ưu thế quân sự của Mỹ: tiêu diệt bộ máy chiến tranh của đối phương và kiểm soát lãnh thổ địch. Nhưng, bộ máy chiến tranh ấy vẫn không làm chủ được tình hình, ở cả hai nơi.
Lý do là đối phương không còn là chế độ Đức quốc xã hay Phát xít Nhật, khi thua thì đầu hàng và trao lại lãnh thổ cho một chính quyền mới. Đối phương là một hệ thống chính trị và quân sự không coi việc trị dân là trọng, quốc kê dân sinh là chính. Họ là một tập thể không sợ chết và sẵn sàng gieo rắc cái chết cho chính đồng bào đồng đạo để Hoa Kỳ phải nản chí rút lui vì không bình định được lãnh thổ đang chiếm đóng. Trong những thủ đoạn chống trả ấy, khủng bố chỉ là một trong nhiều phương pháp…. Cuộc chiến gọi là chống khủng bố hay chống chủ nghĩa khủng bố đã bị gọi sai và bộ máy chiến tranh lân cả xã hội Mỹ không được chuển bị cho hình thái chiến tranh này.
Trong khi ấy, từ al-Qaeda tới chế độ Taliban tại Afghanistan, từ Hezbollah tới chế độ Tehran tại Iran đều đã biến chiêu. Họ trở thành tinh tế hơn trong thủ đoạn khủng bố, tinh vi hơn về chiến tranh tâm lý và sáng tạo không thua gì Hoa Kỳ về kỹ thuật chiến tranh.
Xưa kia, các chế độ Hồi giáo chống Mỹ (hay chống Israel) đã học theo bài bản Xô viết để xây dựng bộ máy chiến tranh theo lối quy ước, với võ khí và kỹ thuật Liên xô để bị đánh bại thê thảm (Egypt, Syria hay Iraq). Bây giờ, trong cuộc chiến bất cân xứng giữa một sieêu cường quân sự có nền kinh tế thịnh vượng làm hậu cứ với các chế độ chống Mỹ có kỹ thuật lạc hậu và kinh tế nghèo nàn (hơn), các chế độ hay lực lượng Hồi giáo đã lâm trận theo lối nhà nghèo, cải tiến võ khí rẻ tiền - mua của nhau hay cua Liên bang Nga, Trung Quốc, Bắc Hàn - thành những dụng cụ giết người rất hữu hiệu - vì bất cần tới độ chuẩn xác - và phá hủy những chiến cụ bạc triệu của Mỹ.
Lối chiến tranh chân đất với hỏa tiễn cầm tay hay mìn "nội hoá", ráp chế thô thiển, đã khiến dân Hồi giáo mất mạng, lính Mỹ tử thương và Hoa Kỳ xuất huyết. Mà càng trả đòn dữ dội thì càng mang tiếng sát hại thường dân - Israel đã mắc tội ấy trước dư luận thế giới - vì trong cuộc chiến này, dân với quân sinh hoạt ở cùng nơi và dân là bia đỡ đạn cho quân!
Sự yếu kém của Hoa Kỳ về mặt tổ chức và tuyên truyền làm nốt phần vụ còn lại.
Về tổ chức thì các đơn vị thiện chiến - huấn luyện một chiến binh là tốn bạc triệu - phải đi làm sen đầm canh chợ và mục tiêu bắn sẻ mà bom khôn hay kỹ thuật điện tử tân kỳ không bảo vệ nổi. Nổ súng trả đòn mà lỡ trúng vào thường dân thì có khi ra tòa, thoát thì cũng bị bùa rìu của báo chí và dư luận. Hoa Kỳ không có loại cán bộ quân chính để lo việc bình định và đang căng mỏng lực lượng Vệ binh Quốc gia để xây dựng dân chủ cho quốc gia khác.
Về tuyên truyền, Hoa Kỳ không giải thích nổi với chính người dân chủ mình về nhu cầu tự vệ bằng cách viễn chinh và các chính trị gia đối lập không lỡ cơ hội đả kích chính quyền về chuyện ấy. Họ không hiểu được bản chất của cuộc chiến và những đòi hỏi nơi người dân. Đối nội đã vậy, về đối ngoại hệ thống thông tin tuyên truyền của Hoa Kỳ lại còn thô thiển hơn nữa và không tranh thủ được quần chúng Hồi giáo ôn hoà. Chiến cuộc càng gay gắt thì thành phần ôn hoà hiếm hoi ấy càng có cảm tình với quân khủng bố!
Từ 500 năm nay, các nước Tây phương đã áp đảo thế giới nhờ sức mạnh kinh tế đã thổi lên một hỏa lực hùng hậu. Bước sang thế kỷ 21, cái thế giới lạc hậu, nghèo túng và cực đoan nhất đang trả lời lại Tây phương, bằng cách thách đố siêu cường số một là Hoa Kỳ, bằng một hình thái chiến tranh không cần đời sống.
Hoa Kỳ thường lâm chiến và coi như chiến thắng quân sự là kết thúc chiến tranh, việc tái thiết hay tranh thủ trong hoà bình là chuyện chính trị. Vì vậy mà chuốc oán với nhiều nước. Bây giờ, khi bị thách đố bởi hình thái chiến tranh kết hợp quân sự - nôm na là giết người - với chính trị - nôm na là khai thác tinh thần chống Mỹ - với phần thưởng cho kẻ chiến thắng ở đâu đó trên… thiên đường, Hoa Kỳ bị bó tay.
Chính quyền Bush không chịu bó tay và kịch liệt chống trả. Nhưng nếu không nhìn lại vấn đề cho rõ và quan niệm lại chiến lược cho tinh - và nhất là không giải thích tường tận cho quần chúng - chính quyền sẽ bị đối lập bó tay.
Và Hoa Kỳ sẽ bại trận.
Sau vụ Việt Nam, Hoa Kỳ chỉ mất thế lực trên trường quốc tế trong gần 10 năm chứ đặc công Bắc Việt không đòi vào đánh bom tự sát trên lãnh thổ Mỹ. Nếu bại trận lần này, nước Mỹ sẽ khó yên vì kẻ thù nhắm vào mục tiêu khác.

Tinh thần lãnh đạo là khả năng định hướng, truyền cảm hứng và tạo ảnh hưởng để tập hợp con người cùng hướng tới một tầm nhìn mới và đạt được mục tiêu chung. Một nhà lãnh đạo có tinh thần lãnh đạo mạnh mẽ thường thể hiện qua các năng lực chủ yếu như: định hướng tương lai, xây dựng tầm nhìn và chiến lược dài hạn; tạo động lực để khơi dậy năng lực, ý chí và sự bền bỉ của tập thể; tinh thần trách nhiệm trước các quyết định và hệ quả; nêu gương hành động nhất quán với lời nói, trở thành chuẩn mực cho tập thể và khả năng thích ứng khi bối cảnh thay đổi.
Theo dõi vũ đài chính trị Mỹ, có lẽ ai cũng dễ dàng nhận ra những khoảnh khắc mà người ta không biết gọi là gì cho đúng. Nó không hẳn là phản bội, cũng không hoàn toàn là đầu hàng, mà nó giống như một sự tan rã, một ánh chớp vụt tắt trước mắt mọi người. Và cái điều đó, để lại trong lòng những người còn đủ kiên nhẫn để quan tâm đến bề mặt của hệ thống chính quyền, cảm thấy thất vọng.
Sau khi được bầu làm Chủ Tịch Nước, TBT Tô Lâm dõng dạt đưa ra chỉ tiêu phát triển kinh tế 10% mỗi năm. Dĩ nhiên đây là một khẩu hiệu nặng tính tuyên truyền, hơn là sách lược kinh tế được hoạch định nghiêm chỉnh. CSVN là một đảng CSTQ tí hon, từ khi mới thành lập đưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh, đến thời của Tô Lâm. Nền kinh tế VN cũng là phiên bản mô hình TQ, tuy sinh sau đẻ muộn vì giới lãnh đạo CSVN kém trí tuệ hơn giới lãnh đạo CSTQ. Hệ lụy tự nhiên là Việt Nam kém phát triển hơn TQ nhiều thập niên và GDP đầu người chỉ bằng khoảng 1/3 TQ.
Cho đến giờ này, chỉ là phỏng đoán! Christopher Hale, chủ nhân của trang báo đặc biệt Letters from Leo, đã liên lạc với đài CBS vào Thứ Hai tuần này với một câu hỏi duy nhất: Liệu Stephen Colbert có khép lại chương trình The Late Show tối Thứ Năm tuần này với một cuộc phỏng vấn Đức Giáo Hoàng Leo XIV, vị Giáo Hoàng người Mỹ đầu tiên hay không? CBS từ chối trả lời.
Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.