Hôm nay,  

Lương Y Hà Nội Bây Giờ

15/11/200600:00:00(Xem: 13113)

Lương Y Hà Nội Bây Giờ

Hai tháng trời ra công khai, đương đầu với bạo lực cộng sản, tôi nhận được bao nhiêu tấm lòng bạn bè trên khắp thế giới, một trong những lá thứ đó là của một người Hà Nội, xa quê hương đã tròn 28 năm, thư viết:

"Chào chị Trần Khải Thanh Thuỷ, thư này tôi chỉ muốn tâm sự với chị nỗi nhớ Hà Nội, nỗi nhớ mà thời gian đầu mới sang, tôi chỉ có thể mượn lời của cụ Tiên Điền Nguyễn Du (khi làm sứ bộ của Trung Quốc) để thốt lên:

Xa nước ba tuần lòng tựa chết

Ra đường toàn mắt lạ nhìn lên,

Chỉ vì sống trong lòng chế độ xã hội chủ nghĩa, nơi một cái cột điện - nếu biết đi cũng phải bỏ đi - như lời cụ Nguyễn Tuân nói, mà tôi phải chia tay với gia đình, người thân, cũng là chia tay với nền văn minh cùng chung... hố xí do Đảng tạo lập. Tuy thế, tôi vẫn không nguôi nhớ về Hà Nội và luôn miệng hỏi Hà Nội mình trong thời mở cửa, mở hướng, hội nhập toàn cầu có thay đổi nhiều không" Cụ thể như thế nào""

Tất nhiên cái nền văn minh ấy cơ bản đã bị triệt tiêu từ đầu thập kỷ 90, song điều đáng buồn là cùng với sự đi lên về kinh tế là sự xuống cấp đạo đức trầm trọng của các ngành nghề, đặc biệt là hai ngành y học và giáo dục. Thay vì những từ mỹ miều, đẹp đẽ, người ta dùng cho các bác sĩ và nhân viên y tế trong bệnh viện như một thời cụ Hồ vẫn gọi: Lương y như từ mẫu, thầy thuốc như mẹ hiền thì bây giờ trong cơn xoáy lốc của đồng tiền, giữa thời cơ chế thị trường, nơi các quan tham ăn rỗng ruột dân, và bệnh viện đè ngửa bệnh nhân ra để lấy tiền, người dân đặt cho nó một cái tên chính xác hơn: Lương y kiêm... hà bá, thầy thuốc như... mẹ mìn.

Bệnh viện C Hà Nội - nơi tôi may mắn được sinh ra, một thời với cái tên vô cùng bình dị, thiêng liêng là: Bệnh viện bảo vệ bà mẹ và trẻ em, bây giờ bị gọi chệch thành: Bệnh viện... mặc mẹ bà mẹ và trẻ em vì tính chất phi luân của nó:

Có tiền thì có tình thương,

Không tiền mặc sức kêu suông, hỡi người

50% người bệnh tự đào mồ chôn sống mình ngay tại nhà,giữa tuổi đời 40, 45, chỉ vì không có tiền trang trải viện phí, thuốc men nơi bệnh viện. Thay vì vịn vai đời để sống, người ta thi nhau vịn vai bệnh nhân ốm yếu, cõi còm để ních đầy túi tham, không một chút dằn vặt, đau xót...

Thế là, dưới sự trị vì của một lũ bất tài, sự quản lý lỏng lẻo của các quan ôn, đứng đầu là bộ y tế, hai ngành "nhất y, nhì dược" đã bắt tay nhau để cùng đẩy bệnh nhân xuống đáy bể khổ. Nói một cách chính xác, bên cạnh những tiêu cực phí phải trả cho những ca mổ, những căn bệnh hiểm nghèo để giữ lại mạng sống của mình thì người bệnh lại bị trấn lột trắng trợn lần nữa qua những đơn thuốc "trục lợi" với giá cắt cổ, dã man. Chưa khi nào người bệnh ở Việt Nam lại hoang mang, dao động nặng nề như trong thời điểm này, khi thông tư của bộ y tế về việc phải niêm yết giá thuốc ra đời (lần đầu yêu cầu có hiệu lệnh từ cuối năm 2004), làm giá thuốc tăng vô tội vạ (từ 20-60 %), hệt mỗi lần chính phủ thực hiện chế độ bù giấy vào lương thay vì bù giá vào lương sau cơn khủng hoảng do vụ đổi tiền 1985 gây ra)...

Leo cao nhất là kháng sinh và biệt dược trị các bệnh hiểm nghèo, các loại thuốc bổ như vitamin, B1, C...nhân cơ hội có một không hai cũng trở thành xuất ăn theo một cách ngẫu nhiên. Trong điều kiện ô nhiễm môi trường, phát triển sản xuất, kinh tế bất chấp sự an toàn thực phẩm vệ sinh, phòng bệnh. 90 % dân số Việt Nam mắc một loại bệnh thông thường: Đau bụng, cảm cúm, đau đầu, sốt... 60 % mắc từ hai bệnh trở lên và 30 % còn lại mắc đồng loạt ba loại bệnh cùng lúc,hoặc một số chứng bệnh hiểm nghèo như ung thư gan, phổi, sỏi thận...

Việt Nam quả là nơi lý tưởng cho những lương y kiêm hà bá hành nghề. Nhờ vậy tuy luôn đứng ở vị trí 184 trên tổng số 200 nước trên thế giới (tính từ trên xuống) với thu nhập bình quân đầu người vẻn vẹn một ngày không nổi 1,5 USD (440 GDP/ năm, người Việt Nam vẫn phải mua thuốc với giá cao hơn cả người Châu Âu có thu nhập cao. Thật là "một cổ hai tròng" đối với bệnh nhân, trong khi cái gọi là y đức trôi nổi tận đâu. Lẽ thường người bệnh đi khám phải mua thuốc theo đơn chỉ đạo của bác sĩ.

Theo tiêu chuẩn sử dụng thuốc hợp lý của tổ chức y tế thế giới, trị số tối ưu của một lần kê đơn là từ một đến năm loại thuốc, nhưng ở Việt Nam - xứ sở của quan tham, dịch bệnh, ô nhiễm, lũ lụt thì người bệnh chưa bao giờ bị dùng ít đến thế. Thanh tra bộ y tế cho biết, bình quân một đợt điều trị của bệnh nhân nội trú là 7 loại, ngoại trú là ba loại, trong đó chỉ có 12,2 % bệnh nhân được dùng hai loại thuốc kháng sinh và biệt dược theo đúng quy định, còn 88,8 % là vượt mức cho phép, đến mức... S0S. Không cần đợi lưỡi dao oan nghiệt của thầy thuốc như câu ví dân gian: Sổ Nam Tào, dao thầy thuốc mà trong thời điểm hiện tại này chỉ cần... sổ y bạ, đơn thầy thuốc, bệnh nhân đã tự tra tên vào sổ Nam Tào của Hà Bá, Diêm Vương rồi. Một thành tựu mà chỉ nền y học Việt Nam mới có, do các bác sĩ Việt Nam tạo nên.

Trước kia theo quy định về sử dụng thuốc của ngành, với các đối tượng dùng thuốc kéo dài, quá liều, phải được trưởng khoa, phó giám đốc, hoặc giám đốc bệnh viện trực tiếp chỉ định, theo dõi, giám sát để kịp điều chỉnh xử lý... thì bây giờ, giữa thời buôỉ nhộn nhạo, gần tiền ắt hẳn hôi tanh mùi tiền... hầu hết các lương y kiêm hà bá, càng kê được nhiều loại thuốc, càng bắt bệnh nhân sử dụng thuốc kéo dài và càng giúp nhà thuốc bán với giá cắt cổ, tỷ lệ "hoa hồng" được hưởng càng cao, từ 20-30%, thậm chí với các loại như ung thư tiền liệt tuyến - bệnh mà đa phần nam giới ở độ tuổi trung niên trở lên mắc phải, với giá 3 triệu đồng một mũi tiêm, còn được hưởng tỷ lệ cao tót vời. Nhiều bệnh nhân điều trị một đợt hết cả trăm triệu đồng thì giá hoa hồng mà mẹ mìn và hà bá được hưởng, còn hơn cả một năm lương (khoảng vài ngàn USD).

Cũng theo thanh tra của bộ y tế báo cáo, số thuốc ngoại chiếm thị phần tới 80%, còn thuốc nội, chỉ vẻn vẹn chưa đầy 20%, thậm chí các bệnh viện lớn trong thành phố còn quyết tâm bỏ hàng nội, dùng hàng ngoại vì quan niệm: "đậu phụ là chính mì chính là phụ" (tỷ lệ phần trăm hoa hồng là chính, đồng lương khám, chữa bệnh chỉ là phụ) nên cả nền y học cổ truyền, y học hiện đại cùng lương tâm đạo đức người thầy đều bị "gai hoa hồng" chọc thủng. Khẩu hiệu "người Việt Nam dùng hàng Việt Nam", và "dùng hàng nội tức là yêu nước" xem ra đã quá lạc hậu so với các bác sĩ nhân viên lãnh đạo bộ y tế. Người chịu đau đớn nhất có lẽ là vị giáo sư tiến sĩ Đỗ Tất lợi... Năm 1955, để tìm ra loại thuốc đặc hiệu chữa bệnh suy tim, ông đã từng phải "ba cùng" (ăn cùng, ngủ cùng, ở cùng) cả chục năm ròng với những người dân bản nơi núi rừng Việt Bắc hoang sơ để chiết suất từ lá cây trúc anh đào ra loại thuốc Neriolin. Năm 1958, thay vì nhập một loạt các loại thuốc trợ tim đắt tiền của Anh, Nga, Pháp như Daicozit, Strrophatin, Digitoxin...chính phủ ta đã sản xuất hàng triệu viên thuốc này, tiết kiệm cho nhà nước hàng tỷ đồng, vì giá thành chiết xuất từ lá trúc anh đào rất rẻ, hầu như không đáng kể, nào ngờ giữa thập kỷ 80, loại thuốc này bị loại khỏi dây chuyền sản xuất và ngừng hẳn vào đầu thập kỷ 90 để nhập khẩu trở lại.

Trước tình trạng đó, các con bệnh chỉ còn một cách duy nhất là bỏ tiền ra mua với giá đắt gấp 3 lần (của Nga), 10 lần (của Pháp). Báo Pháp Luật đặt câu hỏi: Nguyên nhân bộ y tế loại ra khỏi dây chuyền sản xuất để tự đứng ra nhập khẩu phân phối loại thuốc này liệu có phải vì lý do duy nhất là được nhận hoa hồng từ nhiều phía" Trong khi thương trường là chiến trường thì người quản lý, tự giơ súng bắn vào đồng bào, dân tộc mình. Vì lợi nhuận, vì muốn chiếm đựơc sự sủng ái của các nhà phân phối thuốc ngoại, họ sẵn sàng bóp chết đứa con của mình như Võ Tắc Thiên đã từng bóp chết con đẻ để loại bỏ hoàng hậu.

Ở Việt Nam bây giờ, khôn ngoan là phải cảnh giác cao độ - dù là bệnh viện tư nhân, bệnh viện nhà nước, kẻo lơ tơ mơ là bị... bóp cổ, siết họng, lòi ra hàng chục bệnh khác nhau, gây tâm lý hoang mang lo ngại đã đành, chưa kể bước chân đến nhà thuốc còn phải biết cách mặc cả, nếu dại dột mua theo giá niêm yết là tự chui đầu vào... thòng lọng ngay. Lẽ ra với một chứng bệnh đơn giản như đau đầu, viêm họng, cảm cúm nhẹ nhàng, chỉ vài chục nghìn tiền thuốc nội là khỏi, song có tới 90% các thầy thuốc là... mẹ mìn nên người dân thấp cổ bé họng, thật thà như đếm cứ tưởng mạng sống của mình đang nghìn cân treo sợi tóc, phải cố kiết tìm mua đủ các loại thuốc theo đơn hướng dẫn của bác sĩ với giá cắt cổ mà không hề biết giữa bệnh viện và nhà thuốc có sự móc ngoặc, thông đồng, đi đêm để móc túi, vơ vét số tiền còm cõi dành dụm bao năm qua của cả đại gia đình mình. Kết cục tiền mất, bệnh vẫn mang, vì khỏi nhanh bệnh này lại mắc ngay bệnh khác... Bao nhiêu lượng thuốc quá liều, gan, thận phải giơ ra chống đỡ, từ chỗ hóa nhờn, gây loạn, đến chỗ sinh ra các tác dụng phụ và hậu họa lâu dài, chỉ là một bước chân. Thật là "oan này còn một kêu cầu ai đây""

Nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân duy nhất là đồng lương của các lương y không vượt qua được đoạn cong xích ma - 2/3 dạ dày của họ. Trong khi giá thuốc bị thả nổi, cấp giấy phép nhập khẩu tràn lan... Thị trường thuốc vốn nhiều chủng loại, giá cả khó xác định lại chả có khó khăn gì phía các nhà quản lý nên nhanh chóng trở thành béo bở cho những kẻ nào muốn làm giàu bất chính. Bất kỳ ai, kể cả doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, không hề hoạt động trong lĩnh vực y tế, không hiểu biết tí ti gì về biệt dược cũng được tham gia nhập khẩu thuốc, miễn là có giấy phép. Đơn giản, gọn nhẹ nhất là nhập khẩu từng chuyến một, cứ thấy có lời là trực tiếp đặt hàng với hãng dược phẩm nước ngoài, sau đó phân phối độc quyền với giá cắt cổ, gặp phải loại thuốc trong nước sản xuất (theo quy định không được nhập khẩu nữa) họ lặng lẽ bò qua cửa ải bộ y tế, dùng cơn "mưa phong bì" từ cấp bộ xuống cấp sở, hòn, cục, rồi dưới sự "bày binh bố trận" của từng hãng, thông qua cả mạng lưới trình dược viên đông đảo, thuốc được tiếp thị đến tận tay toàn bộ hệ thống y bác sĩ trong bệnh viện và nhân viên cửa hiệu thuốc trên thị trường Hà Nội, bóp chết luôn cả tỷ tỷ viên thuốc nội như trường hợp đã bóp chết thuốc Neriolin của dược sĩ cấp cao Đỗ Tất Lợi.

Mối lợi kếch xù thu về từ tiền lời bán thuốc, thông qua 72 phép biến hóa của Tôn Hành Giả - từ việc tặng dụng cụ văn phòng, đồng hồ, sổ sách đến tổ chức hội thảo ở các... bãi biển, nhà hàng, thậm chí mời quan chức bệnh viện và lãnh đạo ngành đi nghỉ mát tham quan, kết hợp dự hội thảo giới thiệu thuốc ở nước ngoài...

Tất cả khoản "tích cực phí" được cộng dồn vào thành giá thuốc và dĩ nhiên người bệnh phải trả cả khoản tiền "ngu phí" cũng là chênh lệch phí đó. Phó giám đốc bệnh K (bệnh viện Lao trung ương, mang học hàm phó giáo sư, tiến sĩ) Đoàn Hữu Nghị cho biết: Trung bình một ngày bệnh viện K sử dụng khoảng 100 triệu đồng tiền thuốc (một tháng 3 tỉ đồng, tiền VN). Nguồn thuốc đến từ các nước có nền công nghiệp phát triển như Anh, Pháp, Italia. Cao nhất là ống thuốc Zoladex của Anh, trị ung thư tiền liệt tuyến, giá sấp sỉ 200 USD. Các loại dạng viên trị giá 40 -50 USD trị các bệnh ung thư phổi, gan...không hiếm...

Thử hỏi các bệnh viện khác như bệnh viện Saint paul, Việt Đức, Nhi Thụy Điển, Bạch Mai, Thanh Nhàn, Phụ Sản v.v... Số lượng tiền sử dụng thuốc một ngày là bao nhiêu" Cộng gộp tất cả các bệnh viện trong phạm vi thành phố lại sau mỗi tuần, mỗi tháng là bao nhiêu" và người dân Hà Nội cũng như 63 tỉnh thành cả nước đổ dồn về chữa bệnh phải trả cho khoản tiền chênh lệch này là bao nhiêu, không kể tiền tiêu cực phí cho chính nhân viên y sĩ, lao công bệnh viện, khi chỉ một mũi tiêm cũng phải lót tay 10.000 đồng, một lần thay băng 20.000 v.v bằng đúng một ngày lương của họ.

Trong thời đại khoa học phát triển như vũ bão, ngành y Việt Nam cũng như thế giới có những bước phát triển mới, phương tiện máy móc tối tân chưa từng thấy, nhưng lương tâm bác sĩ lại tồi đến mức không thể tồi hơn. Từ xưa đến nay, nghề y vốn được coi là một nghề cần thiết và vô cùng cao quý trong mọi nghề của trần gian, vì nó giúp người bệnh hồi phục trở lại, hòa nhập hữu ích với cộng đồng. Có sức khỏe là có tất cả, cho nên thế giới đã từng đúc tượng vàng về Hypôcrat, ông tổ của ngành y, để tôn vinh nghề này.

Tiếc thay những người có "mệnh thiên y", vừa thấu đáo về y lý, lại thông suốt về bệnh lý "bàn tay chạm vào đâu là ở đó nở hoa, kết trái, bệnh tật tiêu tan đến đấy... và cả những vị giáo sư bác sĩ, vốn coi y đức làm trọng, luôn tỏa cái vui vào bệnh nhân, giúp họ tin tưởng vào lương tâm, tay nghề... ở ba sáu phố phường Hà Nội bây giờ, ngày càng vắng bóng.

Tôi không phải là cái cột điện, nhưng với góc độ bệnh nhân, trong độ tuổi cút kít về già, từ tân hôn ngả màu... hoàng hôn, xe đời ga cuối đang chờ nên luôn phải chịu cảnh "một cổ hai tròng" cho đám lương y kiêm hà bá, thầy thuốc như mẹ mìn này. Thành thật rất muốn bỏ đi mà không có cách nào, đành chịu...

Và nếu không có những người bạn bè như chị và bà con hải ngoại đùm bọc, cưu mang, nhường cơm xẻ áo thì cũng như 50% bệnh nhân không may mắn của chế độ, phải đào mồ chôn mình giữa tuổi đời 45, 46, sau cả thời gian dài mặc sức kêu suông, hỡi người... vì không tiền.

Đống Đa 10-11-2006

Hiểu một cách đơn giản, văn hoá là một khái niệm tổng quát để chỉ sự chung sống của tất cả mọi người trong cùng xã hội, bao gồm ngôn ngữ, phong tục tập quán, tôn giáo và luật pháp. Do đó, luật pháp là một thành tố trong toàn bộ các hoạt động văn hoá và có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển xã hội, một vấn đề hiển nhiên...
Bất kỳ là ai, trẻ cũng như già, nữ cũng như nam, thật là tò mò, nếu chúng ta có thể biết được tương lai gần hoặc xa của mình, của người khác. Biết được tương lai là chuyện thú vị, hoặc căng thẳng, hoặc sôi nổi, hoặc sợ hãi. Ví dụ như bạn tiên đoán được ba tháng nữa sẽ gặp tai nạn hoặc cuối năm nay sẽ bị vợ ly dị. Nhưng có thể nào tiên đoán như vậy không? Làm gì có, chỉ là chuyện giả tưởng, chuyện phim ảnh và tiểu thuyết. Chuyện mấy bà phù thủy nhìn vào thau nước hoặc quả bóng kính trong thấy được chuyện mai sau, việc mấy ông thầy bói bấm tay nhâm độn, lật bài bói toán, v… v… chỉ thỏa mãn giấc mơ và tưởng tượng. Trong thực tế, chuyện đang xảy ra còn chưa giải quyết xong, nói chi chuyện ngày mai. Không đúng, nếu biết chuyện ngày mai thì chuyện hôm nay vô cùng dễ giải quyết. Ví dụ, “nếu biết rằng em sẽ lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong. Vợ anh không đẹp bằng em lắm, nhưng lấy cho anh đỡ lạnh lòng.” (Thơ vô danh). Thay vì cứ đeo đuổi hai ba năm sau, kéo dài buồn bã, đau khổ, để rồi “Lòn
Năm 1895, Alfred Nobel – nhà khoa học bị ám ảnh bởi cái giá mà nhân loại phải trả từ phát minh của mình – đã để lại di chúc năm 1895 rằng tài sản của ông sẽ dùng để tài trợ các giải thưởng “mang lại lợi ích lớn nhất cho nhân loại.” Đối với Nobel Hòa Bình, ông có phần đặc biệt: giải thưởng này sẽ được trao cho người đã “có nhiều hành động hoặc nỗ lực mang đến sự đoàn kết, hòa bình giữa các quốc gia, bãi bỏ hoặc giảm bớt quân đội thường trực, tổ chức và thúc đẩy các hội nghị hòa bình.” Sứ mệnh chọn lựa được giao cho Quốc Hội Na Uy, có lẽ vì ông tin rằng Na Uy – khi đó còn nhỏ bé và trung lập – sẽ ít bị cám dỗ bởi chính trị quyền lực.
Trung Hoa ngày nay như kinh thành giữa sa mạc, vẻ yên ổn bên ngoài chỉ là lớp sơn son thếp vàng phủ lên nền đá đã rạn. Thế giới đứng ngoài quan sát, vừa lo nó sụp, vừa biết nó trụ lại nhờ ảo ảnh quyền lực và niềm tin vay mượn. Dưới lớp hào nhoáng của “Giấc mộng Trung Hoa” là một cơ đồ quyền lực đang già nua trong chính tuổi trẻ của mình. Bởi sức mạnh của nó không khởi từ niềm tin, mà từ nỗi sợ — và nỗi sợ, tự thuở khai triều lập quốc, chưa bao giờ là nền tảng lâu bền.
Ngày 8 tháng 10 năm 2025, tại tòa án liên bang ở Alexandria, bang Virginia, cựu Giám đốc Cơ quan Điều tra Liên bang (FBI) James Comey không nhận tội đối với hai cáo buộc hình sự. Cáo trạng nêu rằng vào tháng 9 năm 2020, Comey đã nói dối Quốc Hội khi vẫn giữ nguyên lời khai trong buổi điều trần trước đó rằng ông không hề cho phép để lộ thông tin về cuộc điều tra của FBI liên quan đến Hillary Clinton. Theo nhiều bình luận gia pháp lý, từ cánh tả đến cánh hữu, việc truy tố Comey chủ yếu chỉ là do chính phủ liên bang đang cố tình nhắm vào kẻ mà Tổng thống “thấy không vừa mắt.” Comey là người đứng đầu cuộc điều tra nghi án Nga can thiệp bầu cử tổng thống 2016 và bị Trump lột chức vào năm 2017.
Sau sáu ngày đột ngột “bặt tiếng,” chương trình Jimmy Kimmel Live, của MC kiêm diễn viên hài và nhà biên kịch nổi tiếng, đã trở lại với khán thính giả vào tối 23/9/2025. Sự trở lại này, chỉ vỏn vẹn sau gần một tuần bị đình chỉ, không chỉ là tin vui với những người yêu tiếng cười đêm khuya của truyền hình Mỹ, mà còn là một hồi chuông cảnh tỉnh, kéo theo những bàn luận trái chiều, chạm đến cốt lõi của tự do ngôn luận, một trong những quyền thiêng liêng nhất trong thể chế dân chủ.
Texas, mùa thu 2025 – trên khuôn viên đại học giữa vùng đất vốn tự hào là “trái tim bảo thủ của nước Mỹ”, thay vì nghe tiếng lá thu rơi, người ta lại nghe tiếng giày đinh vang vọng, bước chân của bóng ma McCarthyism quay về - phiên bản thế kỷ 21 - trở lại giảng đường với tốc độ và sự kinh dị của thời đại kỹ thuật số. Ngày 9 tháng 9, trên bục giảng của trường Texas A&M University, giáo sư Melissa McCoul trong giờ văn học thiếu nhi, dùng hình một con kỳ lân tím để nói với sinh viên rằng bản sắc con người không chỉ có hai nửa nam–nữ. Một sinh viên giơ tay hỏi: “Điều này có hợp pháp không?” và viện dẫn sắc lệnh mà Tổng thống Donald Trump ký hồi tháng Giêng, tuyên bố chỉ có hai giới tính sinh học. Bà McCoul đáp bằng lý lẽ, không viện dẫn chính trị. Nhưng một chiếc điện thoại trong lớp đã ngầm quay lại hình ảnh. Và chỉ ít lâu sau, cả nước đều xem đoạn clip ấy – không phải để học, mà để phán xét.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi thể chế, phương Tây và Việt Nam đang phải đối diện trước những thách thức nghiêm trọng về cải cách chính sách để cho phù hợp với nhu cầu của thời đại mới, nhất là vai trò của pháp luật. Pháp luật là nền tảng thiết yếu cho sự vận hành ổn định và công bằng của xã hội. Là hệ thống quy phạm điều chỉnh hành vi con người, pháp luật không chỉ bảo vệ quyền lợi cá nhân và tập thể mà còn thúc đẩy sự phát triển bền vững. Trong xã hội hiện đại, vai trò của pháp luật được thể hiện rõ nét qua các lĩnh vực như bảo vệ an ninh quốc phòng, duy trì trật tự xã hội, bảo đảm quyền tự do cá nhân, phát triển phúc lợi xã hội, và thúc đẩy tinh thần hợp tác cũng như hội nhập.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại căn cứ Thủy Quân Lục Chiến ở Quantico, Virginia, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth bước lên sân khấu trước hàng trăm tướng và đô đốc được triệu tập từ khắp nơi trên thế giới. Ông tuyên bố sẽ “cải tổ văn hóa quân đội” bằng mười chỉ thị mới, nhằm quét sạch cái mà ông gọi là “rác rưởi thức tỉnh” và khôi phục “tinh thần chiến binh”. Cụm từ ấy – nửa ca tụng bạo lực, nửa tán dương cơ bắp – nay đã trở thành thương hiệu chính trị của Hegseth. Trong cuốn Cuộc Chiến Chống Lại Những Chiến Binh (2024), ông cho rằng việc phụ nữ được đưa vào các vai trò chiến đấu đã “làm cạn kiệt” tinh thần này, khiến quân đội Hoa Kỳ “ít sát thương hơn.” Nghe qua, người ta tưởng quân đội chỉ tồn tại để đong máu đếm xác.
Ông bà xưa đã nói, nắm thì “nắm kẻ có tóc ai nắm kẻ trọc đầu.” Cách nói dân gian này rất cụ thể và dễ hình dung, người có tóc thì dễ bị nắm, bị túm, còn người trọc đầu thì không thể nắm được. Mang câu nói này vào chính trường Mỹ hiện tại, quả là khôi hài, nhưng không kém màu bi kịch. Nó phản ánh một sự thật trần trụi và không thể tránh khỏi: Quyền lực, chính sách, sắc lệnh hành pháp, các cuộc chiến pháp lý và ‘tuổi thọ’ chính trị của người đứng đầu nhánh hành pháp đang phụ thuộc vào sự phục tùng của các nhà lãnh đạo và những tài phiệt. Họ là ai? Họ là một mạng lưới của các quan chức, nhà lập pháp, giám đốc điều hành truyền thông, nhà tài trợ…, những người đã chọn chọ họ một thế đứng, xuôi theo những gì tổng thống muốn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.