Hôm nay,  

Hoa Kỳ Và Chế Độ Quân Dịch

23/11/200600:00:00(Xem: 10486)

Hoa Kỳ Và Chế Độ Quân Dịch

Quân dịch (còn được gọi là “nghĩa vụ quân sự”) là tòng quân bắt buộc nên không ai muốn nghe nói đến hai chữ quân dịch sặc mùi chiến tranh. Nước Mỹ ban hành chế độ quân dịch trong thời gian có cuộc nội chiến (1861-1865), và trong hai cuộc Thế chiến (Thế chiến I: 1914-1918, Thế chiến II: 1941-1945). Chế độ này được tái thiết lập năm 1948 khi cuộc chiến tranh lạnh bắt đầu và chấm dứt năm 1973 khi Hoa Kỳ ký hiệp định Paris và rút quân ra khỏi Việt Nam.

Trong 33 năm qua quân đội Hoa Kỳ gồm toàn quân nhân tình nguyện. Thanh niên Hoa Kỳ chưa biết thế nào là quân dịch. Ngay cả các chính trị gia cũng vậy, ngoài những vị cao niên trưởng thành trong thời kỳ luật đó còn hiệu lực của những năm 1948 đến năm 1973. Bà dân biểu Nancy Pelosi, người vừa đắc cử chủ tịch Hạ nghị viện đã nhanh nhẩu trả lời báo chí về nghĩa vụ quân sự bằng một chữ “không” khô khan cụt lủn khi được hỏi về đề nghị của  dân biểu Charles Rangel (Dân chủ, New York).

Dân biểu Rangel cho biết ông sẽ đệ trình một dự luật tái thiết lập chế độ quân dịch vì một lý do đơn giản là đất nước đang có chiến tranh. Ngoài phản ứng của bà Nancy Pelosi, phản ứng chung của dân chúng và của các đại diện dân cử đối với vấn đề quân dịch khá nguội lạnh.

Nếu là một đại diện dân cử khác đề nghị hay nếu do Nhóm Nghiên Cứu Iraq (Iraq Sudy Group) đồng chủ tịch bởi cựu ngoại trưởng James Baker III (Cộng hòa) và cựu dân biểu Lee Hamilton (Dân chủ) đề xuất phản ứng của dân chúng có thể khác. Vì đây không phải là lần đầu dân biểu Charles Rangel đề nghị tái thiết lập chế độ quân dịch. Năm 2003 sau khi Hoa kỳ lật đổ chế độ Taliban tại Afghanistan và đang lâm chiến ở Iraq ông đã đề nghị chế độ quân dịch cho những thanh niên trong hạn tuổi 18 đến 26. Đề nghị của ông bị quốc hội bác bỏ với 402 phiếu chống, 2 phiếu thuận. Đầu năm nay khi bộ quốc phòng bàn về quân số thiếu thốn nếu Hoa Kỳ phải mở một mặt trận mới dân biểu Rangel lại đưa ra đề nghị “quân dịch” cho tất cả thanh niên nam nữ trong hạn tuổi từ 18 đến 42. Một lần nữa cũng chỉ là tiếng kêu trong sa mạc.

Lần này sau cuộc bầu cử ngày 7/11 đảng Dân chủ nắm đa số cả hai viện quốc hội, tư thế của dân biểu Charles Rangel thay đổi (ông có thể trở thành Chủ tịch Ủy ban Thuế vụ Hạ nghị viện), và tiếng nói của ông có thể sẽ được chú ý hơn. Nhưng phản ứng nhanh chóng của bà Nancy Pelosi cho thấy đề nghị của ông Rangel cũng khó trở thành luật trong một thời gian thấy được trước mắt.

Đó là tâm lý dân chúng hiện nay. Tuy nhiên nhìn về nhiều mặt khác, đề nghị của dân biều Rangel là một đề nghị đúng. Nếu đảng Dân chủ không nắm lấy thời cơ đưa ra những biện pháp chấn chỉnh để cải thiện tư thế của Hoa Kỳ trên thế giới mà chỉ để làm những công việc vá víu thì Hoa Kỳ sẽ không ra khỏi những khó khăn lớn. Cuộc bầu cử ngày  7/11 ngoài mặt là một bày tỏ sự bất mãn của dân chúng đối với chính sách của tổng thống Bush về cuộc chiến Iraq, nhưng dân chúng không bầu đảng Dân chủ nắm quốc hội để bỏ chạy. Họ bầu đảng Dân chủ để tìm một giải pháp thích đáng giải quyết cuộc chiến Iraq mà không làm tổn thương đến vị thế siêu cường của Hoa Kỳ. Uy tín của Hoa Kỳ trên thế giới mới là điều quan trọng vì việc này liên quan đến an ninh lâu dài của nước Mỹ và nền hòa bình thế giới.

Uy tín của một siêu cường nằm ở chỗ các nước khác cảm nhận sức mạnh qua chính sách ngoại giao và phong độ của siêu cường chứ không phải qua hành động. Nếu phải hành động các nước nhỏ trên thế giới mới sợ thì cái thế siêu cường không còn nữa.

 Sau khi Hoa Kỳ lâm chiến tại Iraq, những nhà lãnh đạo quân sự nghĩ rằng quân đội Hoa Kỳ sẽ rút về trong một thời gian tối đa là một năm và quân đội Hoa Kỳ (gồm toàn người tình nguyện) vẫn đủ và sẵn sàng cho một biến cố nào khác trên thế giới. Nhưng khi cuộc chiến Iraq không diễn tiến như tiên liệu và quân đội Hoa Kỳ phải duy trì hơn 140.000 quân tại đó lâu dài thì Hoa Kỳ thấy ngay nếu có một mặt trận khác nữa Hoa Kỳ sẽ lâm vào hoàn cảnh thiếu quân. Đó là lý do tại sao Iran vẫn tiến hành tinh luyện chất uranium (để luyện nhiên liệu chế tạo vũ khí nguyên tử) và Bắc Hàn vẫn tiến hành thí nghiệm vũ khí nguyên tử dưới mặt đất. Iran và Bắc Hàn coi thường Hoa Kỳ vì biết rằng Hoa Kỳ chỉ dọa chứ Hoa Kỳ không có thế để hành động. Hoa Kỳ có kho vũ khí nguyên tử lớn nhất thế giới và chỉ cần một phần nghìn của nó Hoa Kỳ có thể hủy diệt cả thế giới, nhưng ai cũng biết Hoa Kỳ cũng không muốn tự sát khi dùng đến vũ khí nguyên tử.

Vì vậy hiện nay Hoa Kỳ chỉ là một hảo hán khổng lồ với hai cái chân (đúng ra là hai cánh tay) bằng đất sét. Chừng nào Hoa Kỳ thay hai cánh tay của mình bằng sắt thì Hoa Kỳ mới có tư thế bảo vệ quốc gia và duy trì hòa bình thế giới. Và Hoa Kỳ không thể thay hai cánh tay đất sét bằng cánh tay sắt nếu không tái thiết lập chế độ quân dịch.

Chế độ một quân đội hoàn toàn tự nguyện như hiện nay của Hoa Kỳ đã có dấu hiệu bất ổn. Chỉ với mặt trận nhỏ ở Afghanistan và mặt trận lớn ở Iraq bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã nhiều lần không giữ lời hứa với quân nhân. Nhiều đơn vị quân đội vừa hoàn tất một vòng chiến đấu tại Iraq trở về chưa kịp hưởng những ngày đoàn tụ bên cạnh vợ con đã được điều động trở lại chiến trường. Là quân đội tự nguyện họ không có quyền than vãn, đành khăn gói từ biệt vợ con lên đường. Các sĩ quan chỉ huy của họ cũng vậy. Là quân nhân, tuân hành lệnh cấp trên họ cũng phải vui vẻ lên đường để làm gương cho quân nhân dưới quyền. Nhưng gia đình họ cảm thấy có một cái gì không ổn. Dù rằng tổ quốc lâm nguy, nhưng đâu phải chỉ những người quân nhân tự nguyện là người hữu trách.

Đó là chưa nói đến các quân nhân trừ bị. Họ được gọi nhập ngũ như giao kèo đã ký với chính phủ, nhưng họ đều có một đời sống dân sự cần ổn định.Thế nhưng vừa từ chiến trường về đang lo sắp xếp trở lại đời sống dân sự thì lại có lệnh gọi. Họ phải lên đường, dù vợ con nheo nhóc và đời sống gia đình bị xáo trộn.

Toàn bộ bức tranh là một cái gì thiếu công bình cho những người lính tự nguyện và những quân nhân trong đội ngũ trừ bị. Không phải là sợ đổ máu. Một quốc gia sợ đổ máu là một quốc gia trên đường suy vong, nên đổ máu để giữ gìn an ninh quốc gia là một bổn phận và là một vinh dự cho mỗi một công dân. Nhưng một người nằm xuống phải là một vinh dự cho gia đình và cho cá nhân của người nằm xuống, chứ không phải là một điều bi thảm.

Chừng nào người lãnh đạo quốc gia duy trì được tinh thần đó thì không lo gì không giải quyết được các khó khăn, nhất là với một quốc gia có nhiều tiềm năng như Hoa Kỳ. Một người lính biết mình có bổn phận ra chiến trường trong một thời gian ấn định hợp lý nếu có ngả gục vào ngày cuối cùng, họ có thể tự hào đã làm tròn nhiệm vụ một công dân. Nhưng nếu họ phải kéo dài thời gian chiến đấu ấn định vì thiếu nhân lực quốc phòng (trong khi còn hàng chục triệu thanh niên không muốn tòng quân) và phải chết thì cái chết của họ trở thành một thảm kịch cho gia đình. Không một cái chết nào của chiến sĩ trở thành một thảm kịch nếu mọi thanh niên trong tuổi quân dịch đều có bổn phận phục vụ như nhau.

Tổng thống Bush đã có ý chuyển hướng chính sách Iraq, và đảng Dân chủ sẽ thúc đẩy sự chuyển hướng này. Tôi tin những người có trách nhiệm sẽ tìm ra một giải pháp (lẽ dĩ nhiên không phải là giải pháp rút quân tức khắc), nhưng tư thế của Hoa Kỳ chỉ được bảo vệ nếu sau vụ Iraq Hoa Kỳ không mất thế hành động. Và muốn vậy Hoa Kỳ cần sẵn sàng một đoàn quân để cùng một lúc có thể mở ba hay bốn chiến trường nếu an ninh quốc gia đòi hỏi. Một chính sách ngoại giao mềm dẽo hơn từ phía Hoa Kỳ là điều cần thiết nhưng không một chính sách ngoại giao nào thành công nếu không có một sức mạnh quân sự yểm trợ sau lưng.

Lịch sử thế giới chứng minh rằng một thế lực đang lên có thể thoái trào bằng một cuộc bại trận, hay bằng một cuộc rút quân. Sự chiến bại của hạm đội đồng minh Pháp - Tây Ban Nha trong trận hải chiến tại mũi Trafalger gần eo biển Gibraltar trước hạm đội Anh tháng 10 năm 1805 do Đô đốc Nelson chỉ huy là điểm thoái trào của đế quốc Tây Ban Nha.

Trong Thế chiến II quân đội Đức Quốc xã tiến vào Liên bang xô viết, và sau khi thất bại trước quân đội Nga giữa mùa đông giá buốt cuối năm 1943 qua đầu năm 1944 Đức quốc xã đi vào suy thoái mở đường cho cuộc đổ bộ Normandy của quân đội đồng minh. Cuộc rút lui của quân đội Anh (và Pháp) trong trận đánh giành kênh đào Suez năm 1956 sau khi đại tá Nasser sung công kênh đào đánh dấu sự thoái trào của đế quốc Anh. Sự bại trận của quân đội Pháp tại thung lũng Điện Biên Phủ (1955) đánh dấu sự chấm dứt của đế quốc Pháp. Cũng vậy, sự thất bại của quân đội Mỹ tại Iraq có thể là báo hiệu sự thoái trào của đệ nhất siêu cường Hoa Kỳ. Ngoại trừ.

Ngoại trừ sau Iraq Hoa Kỳ tái lập lại thế đứng của mình bằng một chính sách ngoại giao phù hợp với tình hình thế giới và một lực lượng quân sự hùng mạnh đủ người đủ súng, nói được và làm được. Trước hết là cho Iran và Bắc Hàn hiểu rằng họ không thể tiếp tục đem vũ khí nguyên tử ra dọa già dọa non Hoa Kỳ.

Nhưng Hoa Kỳ không thể tái lập uy tín của mình mà không tái lập chế độ quân dịch. Nước Mỹ đang lâm chiến, một trận chiến nhiều mặt trận. Chế độ quân dịch sẽ làm yên lòng quân dân và mang lại sự tự tin cần thiết cho quốc gia.

Bà dân biểu Nancy Pelosi sau 12 năm ở thế đối lập chỉ tìm cách chống đối phe đa số nên thiếu tầm nhìn. Trở thành Chủ tịch Hạ nghị viện bà đã tỏ ra bỡ ngỡ và lúng túng. Trước hết bà chỉ thấy cuộc bầu cử ngày 7/11/2006 là một cuộc trưng cầu dân ý về cuộc chiến Iraq nên đã vội vàng ủng hộ dân biểu John Murtha (Dân chủ, Pennsylvania) người lên tiếng mạnh mẽ nhất đòi rút quân ra khỏi Iraq thay vì chọn dân biểu Steny Hoyer (Dân chủ, Maryland) như ý muốn của đa số dân biểu thuộc đảng Dân chủ vào chức vụ trưởng khối đa số (và bà đã thất bại). Thứ hai là vội vàng bác bỏ đề nghị tái lập chế độ quân dịch do một đồng viện cùng đảng có nhiều kinh nghiệm đề nghị. Nếu bà Pelosi không nhanh chóng thích ứng để hành xử phù hợp với nhiệm vụ mới, bà sẽ trở thành một tiêu sản (liability) cho đảng Dân chủ và sẽ ảnh hưởng không ít đến quyền lợi của Hoa Kỳ trên thế giới.

Vài ba năm nữa khi Hoa Kỳ có một tổng thống mới, nếu Hoa Kỳ chưa tái lập chế độ quân dịch, vị thế của Hoa Kỳ trên thế giới sẽ hết sức mong manh. Thực tế của thế giới đòi hỏi như vậy. Không có một con đường nào khác./.

November  22, 2006

[email protected]

www.tranbinhnam.com

Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.