Hôm nay,  

Vinh Hiển Mà Bất Trắc

14/11/200600:00:00(Xem: 10271)

Vinh Hiển Mà Bất Trắc

...Hội hè tết nhất xong, Việt Nam sẽ nhìn vào thực tế WTO. Lo hơn vui!

Sau cơn sốt APEC, Việt Nam tiếp tục ăn mừng. Sau Giáng Sinh là đến ngày long trọng bước vào WTO, rồi chuẩn bị ăn Tết Đinh Hợi rất to!

Sau khi được Tổ chức Thương mại Thế giới thu nhận ngày mùng bảy vừa qua, Việt Nam phải hoàn tất thủ tục có vẻ "tam quyền phân lập" là đưa Quốc hội duyệt xét, có thể là vào đầu tháng tới. Ba mươi ngày sau, WTO có thêm hội viên thứ 150.

Chuyện quy chế mậu dịch bình thường PNTR với Hoa Kỳ vẫn chưa có thì chỉ là trở ngại nhỏ - từ phía Hoa Kỳ -  và rồi cũng sẽ xong. Tấn kịch tòa án xét xử "khủng bố" và tuyên án 18 tháng tù, ăn khớp với thời gian bị giam mà chưa xử, chỉ là hài kịch của trẻ em.

Trên nguyên tắc, sau khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ bước ra sân chơi của người lớn và tiếp cận được với các thị trường lớn của thế giới, đồng thời sẽ có tư thế tranh cãi mạnh hơn về ngoại thương. Đấy là măt tích cực của biến cố WTO. Nhưng ngược lại, Việt Nam phải tuân thủ một số cam kết về cải cách luật lệ và chánh sách, khiến cái nhà nước tiện thiện làm luật sẽ phải thu vén bàn tay và hành xử theo lối văn minh, người lớn.

Trong trước mắt, một vài năm tới, Việt Nam chưa thấy phép lạ WTO, cụ thể là xuất cảng không lập tức tăng vọt. Nhưng những khó khăn thì lại nổi lên rất nhiều.

Cho nên, hãy cố ăn Tết thật to, rồi sau đó sẽ lo sốt vó.

Khi vào WTO, Việt Nam sẽ được hưởng như mọi thành viên khác quy chế không hạn gạch, không quota, mà WTO đã áp dụng từ đầu năm 2005. Và nhờ vậy, xuất cảng được dễ dàng hơn qua 149 thành viên kia. Cụ thể là sẽ được thuế suất nhẹ hơn và hết bị hạn ngạch khi bán hàng may mặc và dệt sợi cho Âu, cho Mỹ. Chiếm 15% tổng số xuất cảng, ngành này chỉ thua dầu khí về số ngoại tệ đem lại cho quốc gia, mà tạo ra công ăn việc làm nhiều gấp bội.

Lợi thế thứ hai là uy tín, uy với dân và tín với khách hàng.

Giới đầu tư quốc tế từ nay yên tâm là Việt Nam sẽ hết xài luật rừng nên dễ đàng bỏ vốn đầu tư để sẽ tái xuất khẩu ra ngoài. Công ty Intel đã hồ hởi với viễn ảnh đó nên dự tính đầu tư một tỷ, sau khi tiếp cận thị trường thì chột da và giảm mức đầu tư xuống 600 triệu, rồi 300 triệu. Cho đến tuần qua thì mới yên tâm và trở lại dự tính một tỷ. Các nhà đầu tư khác cũng tính như vậy.

Lợi thế thứ ba là từ nay cứ nói là phải làm.

Trong tiến trình thương thảo để gia nhập WTO, Việt Nam đã tiến hành cải cách khá nhiều về luật lệ và chánh sách để tạo ra một sân chơi bình đẳng cho mọi loại doanh nghiệp. Sau khi gia nhập, Việt Nam còn phải tiếp tục cải cách như đã cam kết để có một chế độ hài hòa hơn giữa doanh nghiệp nội địa và ngoại quốc trong lãnh vực dịch vụ và phân phối.

Và từ nay, Việt Nam sẽ phải cải cách thật, từ các doanh nghiệp nhà nước cho đến tư doanh và chấp nhận quy luật đào thải. Các cơ sở cạnh tranh lỗ lã sẽ phải bị đóng cửa, và doanh nghiệp nhà nước mất thế đặc quyền đặc lợi. Việc cải cách này sẽ gặp nhiều trở ngại nhất, nhưng lãnh đạo không thể lùi được nữa. Thời của các quan chức ngồi mát ăn bát vàng bắt đầu cáo chung, dù có chậm thì cũng đến lúc bất khả vãn hồi.

Vì những lý do trên, việc Việt Nam vào WTO là một điều tốt, có lợi cho đa số dân chúng. Tuy nhiên, và đây là mặt trái của vấn đề là quy luật 'dễ người dễ ta - khó người khó ta'.

Khi muốn bán ra cho dễ thì cũng phải chấp nhận là mua vào cũng dễ. Nghĩa là sẽ bị cạnh tranh ngay trên sân nhà. Và phải chấm dứt dần dần các hình thái bao cấp, trợ giá cùng với thuế suất nhập nội tháp hơn trên hàng nhập cảng. Cụ thể là chấm dứt trợ cấp xuất cảng nông sản, hạ thấp hàng rào quan thuế trên hàng hoá và dịch vụ ngoại nhập và cho phép nước ngoài đầu tư với tỷ lệ hùn hạp cao hơn, tới 100% trong nhiều ngành, chưa lập tức thì cũng trong thời hạn năm năm.

Lãnh đạo Việt Nam biết vậy nên cố chèo kéo để có thể hạn chế đầu tư trong nhiều ngành dịch vụ và duy trì một hình thái trợ giá nông nghiệp hoặc hạn chế cạnh tranh trên các sản phẩm như trứng, muối, đường và thuốc lá. Trong buổi giao thời, kéo dài nhiều năm, nông nghiệp Việt Nam sẽ ở vào cảnh tranh tối tranh sáng và nông dân thì lo sợ là làn sóng đầu tư nước ngoài cấu kết cùng đảng viên cán bộ sẽ đẩy mạnh hiện tượng cướp đất.

Nghĩa là thành phố vui mừng trong khi nông thôn điêu đứng.

Và nhìn trên toàn cảnh, sau khi xuất cảng ồ ạt qua Mỹ, gấp sáu lần trong năm năm, Việt Nam sẽ sớm gặp cảnh bão hoà, nghĩa là bán được ít hơn, trong khi dư luận lại hồ hởi chờ đợi nhiều hơn.

Khoảng cách tâm lý giữa hy vọng và thực tế sẽ khiến nhiều người luyến tiếc Tết Đinh Hợi - và nêu câu hỏi về lợi ích WTO!

Đấy là chuyện trước mắt, trong một vài năm tới. Chuyện xa hơn thì chưa hẳn đã sáng hơn.

Việt Nam tranh đấu mạnh để được WTO chấp nhận cho quy chế "chưa phải kinh tế thị trường" trong 12 năm. Với lãnh đạo Hà Nội, đây là một thắng lợi nếu so với Trung Quốc. Nhưng trong 12 năm đằng đẵng ấy, Việt Nam vẫn phải tiếp tục thay đổi và nhiều thành viên khác sẽ bất bình vì quy chế không bình đẳng ấy nếu mỗi năm không có cải thiện. Họ sẽ kiện cáo về tội Việt Nam vẫn bán phá giá nếu so sánh với giá biểu của các xứ khác.

Nghĩa là cùng với việc cải cách liên tục bền bỉ, Việt Nam sẽ cần rất nhiều luật sư về kinh doanh và ngoại thương có khả năng đấu tranh bằng Anh ngữ trên những vấn đề vượt khỏi sự hiểu biết của Bộ Chính trị!

Cho đến nay, Bộ Chính trị vẫn co giật thất thường. Biết là phải giải tỏa để đủ điều kiện vào WTO, cơ chế này lâu lâu lại sáng tạo ra nhiều rào cản khác và ở dưới lại bày ra những hạn chế khác.

Vì vậy, sau khi ăn mừng và nói chuyện ngang tầm các lãnh tụ thế giới ở Thượng đỉnh APEC, Việt Nam sẽ khập khiễng bước ra sân chơi WTO.

Và ngạc nhiên vì sao lại có nhiều người thất vọng!

Hoa Kỳ đã bước sang tuần thứ ba của chiến tranh Iran. Mười ba binh sĩ Mỹ đã tử trận. Hàng ngàn thường dân Iran, bao gồm cả trẻ em, đã bỏ mạng. Các cuộc không kích liên tục diễn ra trên bầu trời Trung Đông, bất kể đó là trường học hay bệnh viện.
Ngay lối vào khu vực triển lãm tranh theo chủ nghĩa hiện thực lãng mạn ở bảo tàng Chrysler Museum of Art, Norfolk, Virginia, là bức tranh Washington Crossing the Delaware (ca. 1856–1871) của họa sĩ người Mỹ, George Caleb Bingham (1822–1979). Bức tranh này mô tả một thời khắc lịch sử của nước Mỹ trong thời lập quốc, nổi tiếng trong American Revolutionary War – Cuộc Cách Mạng Mỹ. Được vẽ vào năm 1871, tác phẩm Washington Crossing the Delaware tả cảnh George Washington cùng các binh sĩ của ông vượt qua sông Delaware vào năm 1776 (theo lịch sử là đêm 25-26/12/1776). Họa sĩ Bingham vẽ bức tranh này năm 1856, tức nhiều thập niên sau khi Cách Mạng Mỹ kết thúc, trong thời kỳ người Mỹ đang nghiền ngẫm về bản sắc quốc gia sau thời kỳ nội chiến. Trong suốt nhiều năm, bức tranh này nằm trong tình trạng dang dở, và phải đến tận mười tám năm sau kể từ khi bắt đầu thực hiện, nó mới thực sự được hoàn thiện.
Hai chính trị gia tham dự buổi bàn thảo lịch sử. Một theo bảo thủ. Một theo cấp tiến. Chính trị gia bảo thủ: Liên Hiệp Quốc hôm nay đông như lễ đăng quang của một hoàng đế mới. Tôi có mặt vì muốn nghe lời thật – từ một người đang làm tổng thống, và một kẻ từng dạy các ông vua cách không bị giết. Tôi tin: quyền lực là bản năng, đạo đức là trang sức. Chính trị gia cấp tiến: Tôi đến vì tò mò: thế kỷ 21 có còn chỗ cho triết lý của thế kỷ 16? Hay chỉ còn những bản sao mệt mỏi của lòng tham? Tôi mang sổ tay, anh ta mang cờ quốc gia.
Chế độ Cộng Sản Việt Nam vừa cho tiến hành cuộc bầu cử Quốc hội vào ngày 15 tháng Ba năm 2026. Xét về hình thức, họ vẫn tiếp tục duy trì một nghi thức chính trị quen thuộc đã tồn tại nhiều thập niên. Tuy nhiên, nếu đặt sự kiện này dưới góc nhìn pháp lý và so sánh với các chuẩn mực bầu cử tự do được công nhận rộng rãi trong luật quốc tế, thì nhiều vấn đề hạn chế lại tiếp tục bộc lộ. Những vấn đề đó không chỉ liên quan đến cách thức tổ chức bầu cử, mà còn liên quan đến bản chất pháp lý của quyền bầu cử, quyền ứng cử và nguyên tắc đại diện trong một cơ quan lập pháp. Theo các tiêu chuẩn quốc tế về bầu cử dân chủ, đặc biệt được ghi nhận trong International Covenant on Civil and Political Rights (ICCPR) – Công ước mà Việt Nam đã phê chuẩn – rằng mọi công dân phải có quyền tham gia vào việc quản lý đất nước thông qua các đại diện được bầu ra bằng các cuộc bầu cử định kỳ, tự do, công bằng và bằng bỏ phiếu kín.
Tại Diễn Đàn Kinh Tế Thế Giới ở Davos, Thụy Sĩ vào tháng 1 năm 2026, Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Antonio Guterres đã cảnh báo rằng pháp quyền ngày càng bị thay thế bởi “luật rừng,” trích lại theo bài viết “The Uncertainties of the New World Order Affect the Middle East” [Những Bất Ổn Của Trật Tự Thế Giới Mới Ảnh Hưởng Trung Đông] của Amal Mudallali. Lời cảnh báo của Tổng Thư Ký LHQ không phải bắt nguồn từ những suy diễn không thật mà là từ thực tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay. Trật tự thế giới từ sau Thế Chiến Thứ Hai đã thay đổi nhiều lần vì sự cạnh tranh quyền lực trên thế giới của các siêu cường hay các liên minh khu vực. Nhưng nhờ lá chắn pháp quyền được thể hiện qua luật pháp quốc tế mà Mỹ là nước dẫn đầu xây dựng và duy trì nên suốt tám mươi năm qua thế giới đã có thể tương đối giữ được trật tự và sự ổn định để không rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng. Tuy nhiên, mấy năm gần đây thế giới ngày càng bất ổn vì một vài cường quốc bất chấp luật pháp quốc tế đã dùng vũ lực quân sự
Phía Cửa Bắc chợ Bến Thành, có một người đàn ông mấy mươi năm qua rất quen thuộc với người Sài Gòn. Có thể người ta không biết tên ông là Tạ Hữu Ngọc, nhưng nhắc đến người thợ sửa giày ở chợ Bến Thành, người Sài Gòn sẽ nhớ ngay đến ông. Giới thương gia, nghệ sĩ thường mang những đôi giày sang trọng, đắt tiền, nhờ ông sửa lại, vừa chân, để họ tự tin sải bước. Đôi giày càng vừa chân, càng thoải mái, người ta càng tự tin bước đến vạch thành công. Thế mà ở trời Tây xa xôi, có một anh chàng, đã phải loay hoay sửa mãi đôi giày của mình, chỉ để…vừa chân một người khác.
Về Thụy Điển thăm nhà vài tuần, đi tàu điện, uống cà phê, lang thang qua những góc phố, vỉa hè. Nhìn cách xã hội ở đây vận hành, tôi nghĩ đến những cuộc tranh luận ồn ào vô căn cứ của người Việt ở Mỹ về “xã hội chủ nghĩa”. “Xã hội chủ nghĩa Bắc Âu” thực ra chẳng hề giống với thứ “xã hội chủ nghĩa” mà Việt Nam từng trải qua. Đây cũng không phải cái “xã hội chủ nghĩa” mà nhiều người Việt ở Mỹ thường mang ra chụp mũ trong những cuộc cãi vã chính trị. Ba khái niệm tưởng cùng tên, nhưng bản chất rất khác nhau. Chỉ là từ lâu chúng vẫn bị đánh đồng một sàng một cách vô tình hay cố ý.
Ngày 5.03.2026, Khalaf Ahmad Al Habtoor đã công bố một bức thư sắc bén và thẳng thừng (1) gửi tới Tổng thống Donald Trump liên quan đến Iran, cũng như tầm ảnh hưởng của Benjamin Netanyahu trong việc định hình chính sách của Mỹ. Mặc dù các chính phủ vùng Vịnh không công khai ủng hộ hay bác bỏ bức thư này, sự im lặng của họ đã được hiểu như một dấu hiệu cho thấy những mối quan ngại của Habtoor đang âm thầm cộng hưởng trong khu vực.
Ngày 8/10/2025, trang mạng xã hội White House đăng tấm ảnh của tổng thống, tay ôm chồng hồ sơ, bước đi khoan thai trong Bạch Cung dưới ánh nắng vàng nhẹ chiếu qua gương mặt, đủ để lộ vẻ đăm chiêu về một chiến lược “Make America Great Again.” Tấm hình nổi bật thêm với dòng chữ to “THE PEACE PRESIDENT.” Trong những tháng trước cuộc bầu cử tổng thống năm 2024, một lời hứa vang vọng khắp các tiểu bang “chiến trường”, lặp đi lặp lại trong các cuộc phỏng vấn trên truyền hình, tạo ra sự tin tưởng gần như tuyệt đối: “Tôi sẽ bảo đảm an toàn cho con gái, con trai của quý vị. Tôi vốn dĩ là tổng thống đầu tiên của nước Mỹ thời hiện đại không châm ngòi những cuộc chiến mới, ” ứng cử viên Donald Trump tuyên bố.
Chúng ta đang sống trong một thời kỳ khủng hoảng niềm tin sâu rộng, khi những biến cố dồn dập khiến nhiều người rơi vào trạng thái hoang mang. Gần đây, vụ án Jeffrey Epstein đã trở thành tâm điểm tranh luận toàn cầu, buộc công chúng phải nhìn lại hình ảnh của giới tinh hoa quyền lực trong chính trường và thương trường quốc tế – những tầng lớp từng được xem là biểu tượng của trí thức và các giá trị đạo đức trong thượng tầng xã hội. Nhiều sự thật được phơi bày, trong khi nỗ lực phục hồi công lý vẫn còn được chờ đợi thực thi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.