Hôm nay,  

“cái Tôi” Chung

17/05/200700:00:00(Xem: 9368)

  Hơn 30 năm trôi qua kể từ tháng 04, 1975 - cái mốc đánh dấu sự ra đi và hình thành cộng đồng người Việt hải ngoại trên toàn thế giới, trong đó phải kể đến việc chính phủ Mỹ đã dang rộng vòng tay đón nhận Quân Cán Chính miền Nam sang định cư tại Hoa Kỳ dưới dạng tị nạn chính trị vào năm 1990. Cũng từ đó các đoàn thể chính trị, các hội đoàn ái hữu, các hội cựu quân nhân, các hội đoàn văn học nghệ thuật v. v… đã được nhanh chóng thành lập để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt riêng cho từng tổ chức của người Việt hải ngoại. Song song cũng có một số tổ chức mang nhiều danh xưng khác nhau như: Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia, Liên Hội Người Việt, Hiệp Hội Người Việt nhưng mục đích chung vẫn là: đại diện cho tiếng nói của cộng đồng người Việt ở địa phương với chính quyền, tranh đấu cho quyền lợi của đồng hương, đấu tranh bảo vệ chính nghĩa quốc gia dưới cờ vàng ba sọc đỏ, nuôi dưỡng và bảo vệ truyền thống văn hóa dân tộc nơi xứ người.

Sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở hải ngoại nhắm vào hai mục tiêu chính: chi"nh trị và văn học nghệ thuật. Các sinh hoạt chính trị thường do các hội đoàn như Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, Hội Cựu SVSQ Thủ Đức, Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH… Về Văn học Nghệ thuật có các tổ chức như Thi Đàn Hương Việt, Thi Đa"n Lạc Việt, Thi Đàn Trầm Hương, Hoa Tiên Thanh Khí, Cơ Sở Cội Nguồn, Hội Thơ Tài Tử VNHN, Liên Hiệp Báo Chí Truyền Thông v.v… Phải nói một cách công bằng trong những năm qua cộng đồng người Việt tỵ nạn đã làm được nhiều việc tốt đẹp trên cả hai mặt chính trị và văn hóa. Bên cạnh ưu điểm này còn không ít những khuyết điểm, đó là sự bất đồng ý kiến, thiếu hiểu biết lẫn nhau, giữa cá nhân và tập thể phát xuất từ lòng tự ái, do cái "Ngã" quá lớn của một cá nhân hay cái 'Tôi" trùm lấp của một tập thể, gây ra sự lủng củng nội bộ, mất hòa khí đoàn kết, làm suy giảm hiệu năng phục vụ cho cộng đồng.

Có một điều khá nghịch lý là khi chúng ta đứng ra thành lập một Liên Hội hay một Hiệp Hội nào đó với mục đích tạo nên sự kết hợp để cùng chung sức gánh vác việc cộng đồng, nhưng vô hình trung lại tạo ra một khoảng cách mới giữa các hội đoàn. Một ví dụ điển hình là Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH Dallas-FortWorth (Texas) đã không được sự hưởng ứng của Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị và Hội Cựu Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức.

Trong buổi họp mặt Tân Niên 2007 của Liên Hội CCSVNCH-DFW chiều ngày Chủ Nhật, 12-03-2007 tại Trụ sở Cộng đồng Người Việt QG Arlington, có khoảng 60 người tham dự, trong số đó có một vài thành viên của Hội CTNCT và Hội SQTBTD (nhưng không đại diện cho hội nhà). Sau phần báo cáo thành tích hoạt động trong năm qua và đường hướng hoạt động trong năm 2007, là phần phát biểu ý kiến rất sôi nổi xoáy quanh vấn đề đoàn kết giữa các hội đoàn trong khu vực thành phố Dallas và Fort-Worth, nổi bật nhất là sự đồng tình mời gọi gia nhập Liên Hội đối với hai hội đoàn đã đề cập ở trên.

Một sĩ quan niên trưởng với lời lẽ ôn tồn và giọng nói tha thiết đã động viên tinh thần hiểu biết và thông cảm của anh em cựu quân nhân và các đoàn thể hầu tạo sức mạnh cho cộng đồng người Việt Quốc gia để góp công sức vào sự nghiệp đấu tranh chung cho tự do dân chủ ở quê nhà. Thông thường trong một buổi họp cần phải có sự tranh luận để đi đến một giải pháp chung và dĩ nhiên không thể tránh được những ý kiến bất đồng đôi khi làm phật lòng nhau, nhưng nếu mỗi chúng ta biết lấy tinh thần dân chủ làm trọng thì những dị biệt, tị hiềm đó sẽ nhanh chóng được thay thế bằng hòa khí đoàn kết - mẫu số chung mà các hội đoàn, tổ chức của người Việt hải ngoại đang tìm.

Hiện nay công cuộc đấu tranh trên mặt trận chính trị hay văn hóa trong phạm vi sinh hoạt cộng đồng đều do lớp người thuộc thế hệ thứ nhất hay thứ hai đảm trách. Thế hệ thứ nhất nay đã bước vào tuổi 60, 70, hay 80. Thế hệ thứ hai cũng đã từ 30, 40, hay 50. Thế hệ thứ nhất rồi sẽ lần lượt ra đi, để lại cho các thế hệ con cháu đầy khả năng và nhiệt tình tuổi trẻ kế tiếp trách nhiệm. Phải thành thật nhìn nhận rằng thế hệ đàn anh đã ít nhiều lầm lỗi trong khi đi tìm cái "danh" và cái "lợi" riêng tư trong sinh hoạt chung của cộng đồng. Điều này đã làm mất đi phần nào niềm tin của đồng hương và tuổi trẻ đối với giới lãnh đạo trong công cuộc đấu tranh chung và cũng là đầu mối gây ra sự chia rẻ trong cộng đồng.

 Tuy nhiên, chúng ta không thể không vui mừng khi những thế hệ kế tiếp đã và đang tự khẳng định vị trí của mình, mạnh dạn vững bước hơn trong những sinh hoạt của chính quyền Mỹ với các chức vụ Thị Trưởng, Dân Biểu, Nghị Viên…

Trăn trở hiện nay của chúng ta trong cộng đồng người Việt hải ngoại là sự thiếu đoàn kết nhất trí giữa các đảng phái chính trị, các hội đoàn, đoàn thể gây ra bởi nhiều lý do khác nhau: dị biệt quan điểm, xung khắc quyền lợi, hoặc xung khắc cá tính, ghen ghét, đố kỵ v.v…Do những khuyết điểm đó mà người Việt chúng ta chưa có được một tổ chức thực sự chính thức đại diện cho toàn thể khối người Việt ở Hoa Kỳ để tiếng nói của ta được lắng nghe trên bình diện quốc gia và được chính quyền Mỹ chú ý. Ở các địa phương, chúng ta có tổ chức bầu cử để chọn người ra gánh vác công việc cộng đồng, nhưng có nơi lại bầu ra đến hai vị Chủ tịch lãnh đạo cộng đồng, không khác gì một nước có hai ông vua trị vì.

Người Pháp đô hộ Việt Nam mấy chục năm có nhận xét một điều thấy cũng chí lý: "Mỗi người Việt Nam là một ông quan". Ai cũng muốn đứng trên người khác không chịu dưới trướng ai, lòng tự ái quá cao nên sinh ra đố kỵ, ganh tỵ, kể xấu người khác (đoàn thể khác) mục đích để đề cao cái "ngã" và hạ thấp cái "tha ngã". Cái "Tôi riêng" đã lấn át cái "Công chung". Cái "danh lợi" làm lu mờ cái giá trị tinh thần truyền thống cao quý của tiền nhân để lại. Việc phân hóa vì dị biệt lập trường chính trị của các phe phái không dễ gì giải quyết được, nên chúng tôi chỉ xin mạo muội nêu lên vài ý kiến thô thiển liên quan đến phương thức giảm thiểu sự phân hóa do xung khắc quyền lợi và xung khắc cá tính mà thôi. Mong sao những người đương ra gánh vác chuyện cộng đồng dám quên đi cái "Tôi riêng", quên đi cái quyền lợi riêng tư, để phục vụ cho đồng hương, và đoàn thể của mình một cách đắc lực và hiệu quả hơn, đồng thời nêu gương sáng phục vụ cho thế hệ kế tiếp noi theo. Chúng tôi trộm nghĩ nếu mọi người ai cũng nghĩ đến cái giá trị tinh thần và quên đi cái giá trị vật chất trong khi phục vụ tha nhân, quên đi cái "Tôi riêng" mà nghĩ đến cái "Tôi chung" để hòa mình cùng tập thể thì hạnh phúc cho cộng đồng Việt Nam hải ngoại biết bao!

Viết đến đây tôi chợt nghĩ đến "Thằng Ăn Cắp" trong chuyện cổ tích Ấn Độ. Một thương gia nọ đi làm ăn xa mười năm sau mới trở về làng cũ. Khi ngang qua một ngôi chùa, ông nghỉ chân dưới tàn cây đa và vào chùa cầu Phật. Khi ra đi ông bỏ quên gói hành lý với số vàng làm ăn dành dụm trong mười năm trời. Một nông dân làng bên theo thói quen đi ngang qua chùa cũng ghé nghỉ chân và cầu Phật đã nhặt được gói hành lý.

Về đến nhà, ông mở gói hành lý trước mặt vợ và thấy có một số vàng. Ông nói với vợ số vàng này không phải do mình làm ra, bèn đem gói hành lý cất vào rương và khóa kỹ lại. Sau đó ông treo bảng trước cửa nhà báo ai mất gói hành lý thì đến nhận. Người thương gia về đến nhà mới biết mình đã bỏ quên gói hành lý ở chùa bèn quay lại tìm nhưng không thấy. Ông buồn rầu trở về, khi ngang qua nhà người nông dân thấy bảng treo trước cửa liền vui mừng vào xin nhận lại. Sau khi hỏi thăm dò mấy câu, anh nông dân trao lại gói quà cho người thương gia.

Cảm kích lòng tốt của anh nông dân, người thương gia tặng một nửa số vàng nhưng anh nông dân không nhận và nói: "Trả lại một vật không phải của mình là một việc bình thường, có gì đâu mà bác phải đền ơn." Người thương gia đáp lại: "Bác đã làm một điều thiện được đền ơn là phải lẽ". Anh nông dân lại nói: "Làm việc thiện là nghĩa vụ tự nhiên, xưa nay vẫn vậy, không phải cái cớ để đòi tiền thưởng, cũng như lòng yêu quê hương, yêu tổ quốc không phải là cái cớ để được trả công; vàng của bác do công sức làm ra thì bác hưởng, tôi có góp công lao gì vào đấy đâu mà được chia phần" Xin bác để tôi được sống yên vui với cảnh nghèo của tôi hơn là sống trong giàu có nhờ của cải người khác".

Người thương gia lặng thinh ra về, bất thần để lại túi vải đựng nửa số vàng lên bàn rồi bỏ chạy với ý muốn bắt buộc anh nông dân phải nhận sự trả ơn. Người nông dân vội nhặt gói vàng chạy đuổi theo, miệng hô hoán: "Bớ người ta, bắt thằng ăn cắp! Bắt lấy thằng ăn cắp!" Dân làng chạy ra hỏi: "Nó ăn cắp cái gì của bác"" Người nông dân trả lời: "Nó muốn ăn cắp cái tâm công chính và lòng chân thật của tôi từ ngày tôi theo Phật".Đó là câu chuyện cổ tích. Thời nay cũng có câu chuyện mất của mà tìm lại được giống như chuyện vừa kể trên, nhưng nó lại mang tính "hiện đại" khác với "cổ xưa". Câu chuyện xảy ra tại Dallas rất gần đây. Một bà đầm Mỹ đi Taxi bỏ quên cái xách tay trên xe đựng $30,000 đô. Người tài xế đem số tiền này đến sở cảnh sát nhờ trao lại cho chủ nhân. Bà đầm Mỹ nói lời cám ơn và tặng bác tài xế $100 đô. Theo chuyện kể, người tài xế nhận số tiền nầy và nói cũng vừa đủ trả tiền mua xăng và thì giờ đi báo cảnh sát!

Sự khác biệt giữa hai câu chuyện mất của là sự định lượng giá trị tinh thần, vật chất, và cái giá trị thực tiễn của nó. Độ cảm kích đối với lòng tốt của tha nhân ngày xưa khác với ngày nay, và cử chỉ nhận một số tiền rất nhỏ so với số tiền đem trả lại là một sự kiện được coi như tiêu biểu cho lối sống thực tế của người Mỹ. Người đời nếu thiếu đi lòng công chính, chân thật sẽ không hiểu được ý nghĩa thâm sâu của câu chuyện "Thằng Ăn Cắp" và "Mất Của" này.

Kể lại hai câu chuyện trên chúng tôi có ý muốn đề cao giá trị tinh thần cao quý muôn đời đáng được truyền tụng. Những nhân vật trong chuyện dám hy sinh cái "Tôi riêng" mà hòa mình cái "Tôi Chung" vào với tha nhân, dám hy sinh cái nhu cầu vật chất riêng tư để đổi lấy sự an bình hạnh phúc cho mỗi người. Nếu chúng ta cũng làm được như vậy, thì việc xây dựng một cộng đồng Việt Nam vững mạnh ở hải ngoại chắc chắn sẽ thành tựu một cách tốt đẹp. Mong thay!

Dallas, TX, 3-2007

Mười năm, 20 năm, và nhiều hơn nữa, khi lịch sử kể lại buổi chuyển giao quyền lực hứa hẹn một triều đại hỗn loạn của nước Mỹ, thì người ta sẽ nhớ ngay đến một người đã không xuất hiện, đó là cựu Đệ Nhất Phu Nhân Michelle Obama.
Chiến tranh là chết chóc, tàn phá và mất mát! Có những cuộc chiến tranh vệ quốc mang ý nghĩa sống còn của một dân tộc. Có những cuộc chiến tranh xâm lược để thỏa mãn mộng bá quyền của một chế độ hay một bạo chúa. Có những cuộc chiến tranh ủy nhiệm giữa hai chủ nghĩa, hai ý thức hệ chỉ biến cả dân tộc thành một lò lửa hận thù “nồi da xáo thịt.” Trường hợp sau cùng là bi kịch thống thiết mà dân tộc Việt Nam đã gánh chịu! Hệ lụy của bi kịch đó mãi đến nay, sau 50 năm vẫn chưa giải kết được. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, một nữ chiến binh cộng sản miền Bắc có tên là Dương Thu Hương khi vào được Sài Gòn và chứng kiến cảnh nguy nga tráng lệ của Hòn Ngọc Viễn Đông thời bấy giờ đã ngồi bệch xuống đường phố Sài Gòn và khóc nức nở, “khóc như cha chết.” Bà khóc “…vì cảm thấy cuộc chiến tranh là trò đùa của lịch sử, toàn bộ năng lượng của một dân tộc dồn vào sự phi lý, và đội quân thắng trận thuộc về một thể chế man rợ. Tôi cảm thấy tuổi trẻ của tôi mất đi một cách oan uổng ...
Ngày 30 tháng 4 năm 2025 là một ngày có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong lịch sử Việt Nam đương đại, cũng là dịp để chúng ta cùng nhau hồi tưởng về ngày 30 tháng 4 năm 1975 và những gì mà dân tộc đã sống trong 50 năm qua. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã kết thúc chiến tranh và đáng lẽ phải mở ra một vận hội mới huy hoàng cho đất nước: hoà bình, thống nhất và tái thiết hậu chiến với tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc. Nhưng thực tế đã đánh tan bao ước vọng chân thành của những người dân muốn có một chỗ đứng trong lòng dân tộc.
Điều thú vị nhất của nghề làm báo là luôn có sự mới lạ. Ngày nào cũng có chuyện mới, không nhàm chán, nhưng đôi khi cũng kẹt, vì bí đề tài. Người viết, người vẽ, mỗi khi băn khoăn tìm đề tài, cách tiện nhất là hỏi đồng nghiệp. Ngày 26 tháng 3, 1975, hoạ sĩ Ngọc Dũng (Nguyễn Ngọc Dũng: 1931-2000), người dùng bút hiệu TUÝT, ký trên các biếm hoạ hàng ngày trên trang 3 Chính Luận, gặp người viết tại toà soạn, hỏi: “Bí quá ông ơi, vẽ cái gì bây giờ?”
Sau ngày nhậm chức, Tổng thống Donald Trump đã ban hành hàng loạt sắc lệnh hành pháp và bị một số tòa án tiểu bang chống đối và hiện nay có hơn 120 vụ tranh tụng đang được xúc tiến. Trump cũng đã phản ứng bằng những lời lẽ thoá mạ giới thẩm phán và không thực thi một số phán quyết của tòa án. Nghiêm trọng hơn, Trump ngày càng muốn mở rộng quyền kiểm soát hoạt động của các công ty luật và công tố viên nghiêm nhặt hơn. Trong khi các sáng kiến lập pháp của Quốc hội hầu như hoàn toàn bị tê liệt vì Trump khống chế toàn diện, thì các cuộc tranh quyền của Hành pháp với Tư pháp đã khởi đầu. Nhưng Trump còn liên tục mở rộng quyền lực đến mức độ nào và liệu cơ quan Tư pháp có thể đưa Trump trở lại vị trí hiến định không, nếu không, thì nền dân chủ Mỹ sẽ lâm nguy, đó là vấn đề.
Khi Bạch Ốc công bố công thức tính thuế lên các quốc gia với các thang thuế khác nhau, người ta nhận ra đó chỉ là một một phép tính toán học căn bản, chẳng liên quan đến kinh tế học hay mậu dịch lẫn các dữ liệu thực tế nào cả. Chúng chỉ là những số liệu vô nghĩa và phi lý. Việt Nam không đánh thuế hàng Mỹ đến 90% và đảo hoang của những chú chim cánh cụt có liên quan gì đến giao thương. Điều này thể hiện một đối sách vội vã, tự phụ và đầy cảm tính, cá nhân của Donald Trump nhằm tạo áp lực lên thế giới, buộc các nước tái cân bằng mậu dịch với Mỹ hơn là dựa trên nền tảng giao thương truyền thống qua các hiệp ước và định chế quốc tế. Hoặc nhỏ nhặt hơn, để trả thù những gì đã xảy ra trong quá khứ: Trump ra lệnh áp thuế cả những vật phẩm tâm linh từ Vatican đưa sang Mỹ như một thái độ với những gì đức Giáo Hoàng Francis từng bày tỏ.
Tổng thống Donald Trump vào hôm qua đã đột ngột đảo ngược kế hoạch áp thuế quan toàn diện bằng cách tạm dừng trong 90 ngày. Chỉ một ngày trước đó đại diện thương mại của Trump đã đến Quốc Hội ca ngợi những lợi ích của thuế quan. Tuần trước chính Trump đã khẳng định "CHÍNH SÁCH CỦA TÔI SẼ KHÔNG BAO GIỜ THAY ĐỔI". Nhưng Trump đã chịu nhiều áp lực từ những nhân vật Cộng Hòa khác, các giám đốc điều hành doanh nghiệp và thậm chí cả những người bạn thân thiết, đã phải tạm ngừng kế hoạch thuế quan, chỉ duy trì thuế căn bản (baseline tariff) 10% đối với tất cả những đối tác thương mại.
Trật tự thế giới là một vấn đề về mức độ: nó thay đổi theo thời gian, tùy thuộc vào các yếu tố công nghệ, chính trị, xã hội và ý thức hệ mà nó có thể ảnh hưởng đến sự phân phối quyền lực trong toàn cầu và ảnh hưởng đến các chuẩn mực. Nó có thể bị thay đổi một cách triệt để bởi các xu hướng lịch sử rộng lớn hơn và những sai lầm của một cường quốc. Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ vào năm 1989, và gần một năm trước khi Liên Xô sụp đổ vào cuối năm 1991, Tổng thống Mỹ George H.W. Bush đã tuyên bố về một "trật tự thế giới mới". Hiện nay, chỉ hai tháng sau nhiệm kỳ tổng thống thứ hai của Donald Trump, Kaja Kallas, nhà ngoại giao hàng đầu của Liên minh châu Âu, đã tuyên bố rằng "trật tự quốc tế đang trải qua những thay đổi ở mức độ chưa từng thấy kể từ năm 1945". Nhưng "trật tự thế giới" là gì và nó được duy trì hoặc phá vỡ như thế nào?
Hãy bắt đầu niềm tin này với câu nói của John Kelly, tướng thủy quân lục chiến hồi hưu, cựu Bộ trưởng Nội an, cựu chánh văn phòng của Donald Trump (2018): “Người phát điên vì quyền lực là mối đe dọa chết người đối với nền dân chủ.” Ông phát biểu câu này tại một hội nghị chuyên đề về nền Dân chủ ở Mount Vernon vào tháng 11/2024, ngay tại ngôi nhà của George Washington, vị tổng thống đầu tiên, người mở ra con đường cho nền dân chủ và tự do của Hoa Kỳ. Không đùa đâu! Tướng Kelly muốn nói, những người phát điên vì quyền lực ấy có thể giữ các chức danh khác nhau, thậm chí là Tổng Thống, nhưng trong thâm tâm họ là bạo chúa, và tất cả các bạo chúa đều có cùng một đặc điểm: Họ không bao giờ tự nguyện nhượng quyền lực.
Gần đây, Tổng thống Mỹ Donald Trump công bố áp dụng chính sách áp thuế 25% đối với ô tô nhập khẩu vào Mỹ, trước đó Trump cũng đã áp đặt biện pháp trừng phạt chung đối với Liên Âu, Canada, Mexico và Trung Quốc, nhưng lại tạm hoãn trong 30 ngày để cho Canada và Mexico thương thuyết. Các biện pháp bất nhất này gây nhiều hoang mang cho chính giới và doanh nghiệp các nước đối tác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.