Hôm nay,  

Ai Kỳ Hơn Ai?

19/10/200700:00:00(Xem: 9887)

...Giữa Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ, ai sẽ đoạt giải"...

Chỉ hai tiếng đồng hồ trước khi đứng cùng lãnh đạo Quốc hội Hoa Kỳ để chào đón đức Đạt Lai Lạt Ma trong sảnh đường Rotunda của tòa nhà Quốc hội, Tổng thống George W. Bush đã có một cuộc họp báo nẩy lửa.

Nẩy lửa vì trong cuộc họp báo, ông mạnh lời đả kích Quốc hội - xin hiểu là đảng Dân chủ đa số - không làm tròn nhiệm vụ trong một số lãnh vực. Ông Bush liệt kê rất dài các lãnh vực đó: bảo hiểm sức khoẻ, an ninh nội địa, ngân sách quốc gia, giáo dục, gia cư, ngoại thương, trợ giúp cựu chiến binh, tăng cường quyền hạn tư pháp. Và ông kết thúc danh mục về sự bất cập của Quốc hội Dân chủ bằng một khiếm khuyết khác: chẳng những không làm đủ nhiệm vụ cho quốc dân lại còn mau mắn thi hành một việc thừa thãi và bất hợp thời, là ra nghị quyết lên án xứ Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) về tội diệt chủng năm 1915.

Sau cuộc họp báo căng thẳng tới bốc lửa, ông qua Quốc hội dự lễ trao tặng huy chương vàng, sự tôn vinh cao quý nhất của Quốc hội Hoa Kỳ dành cho một nhân vật dân sự. Lần này là đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng.

Vị lãnh đạo tối cao của Phật giáo Tây Tạng có thể không biết là các chủ nhà đang cùng vinh danh mình thực ra cũng đang đấu trí và đấu võ với nhau, theo đúng quy luật dân chủ. Trong sảnh đường Rotunda trang trọng của Quốc hội, Hoa Kỳ có một bộ mặt văn minh và thống nhất khi tuyên dương một nhân vật xuất chúng và đặc biệt như đức Đạt Lai Lạt Ma, và gián tiếp thông báo cho lãnh đạo Trung Quốc rằng đã đến lúc họ nên trực tiếp nói chuyện với vị lãnh đạo Tây Tạng.

Nhưng, ở từ rất xa, lãnh đạo một quốc gia khác là Thổ Nhĩ Kỳ tại thủ đô Ankara cũng theo dõi rất sát những tranh chấp quan điểm trong nội tình Hoa Kỳ.

Ankara muốn biết rằng đề nghị của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện có được cả Quốc hội Mỹ thông qua hay không, để lên án dân Thổ Nhĩ Kỳ về tội diệt chủng năm 1915, khi xứ này còn là một phần của Đế quốc Hồi giáo Ottoman. Tại cuộc họp báo sáng 17, Tổng thống Bush kêu gọi Quốc hội là đừng làm việc đó vào lúc này, như quan điểm của tất cả các cựu Ngoại trưởng còn sống của Hoa Kỳ, thuộc cả hai đảng. Lý do là sẽ gây phản tác dụng, vào một thời điểm cực kỳ nhạy cảm tại một địa điểm cực nóng, là Iraq.

Dư luận Hoa Kỳ có thể không cần biết tới sự quan tâm theo dõi của Ankara, nhưng họ cần biết là giá dầu thô trên thế giới đã tăng vọt tới mức kỷ lục là hơn 87 Mỹ kim một thùng, tăng chín đồng trong có một tuần. Chỉ vì quyết định lên án của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Hoa Kỳ, và phản ứng gay gắt của Thổ Nhĩ Kỳ khi họ chuẩn bị đưa quân vào Iraq.

Nếu có phải trả tiền xăng đắt hơn trong mấy tuần tới, dân Mỹ nên biết rằng điều ấy xuất phát từ sự bất ổn tại Vịnh Á Rập, và do một quyết định lạc quẻ của một số đại diện dân cử bên đảng Dân chủ. Đứng đầu là Dân biểu Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosi, một người đã sốt sắng vận động việc tôn vinh đức Đạt Lai Lạt Ma.

Vì sao Quốc hội Dân chủ lại chọn lúc này để gây hấn với một đồng minh của Hoa Kỳ tại Iraq là Thổ Nhĩ Kỳ" Nếu đã vì đạo tắc, quy tắc về đạo lý, để không quên những việc làm sai quấy của nhân loại trong quá khứ thì vì sao không nhân dịp này ra một nghị quyết lên án Trung Quốc đã tàn sát hơn một triệu dân Tây Tạng sau khi công khai xâm lăng cứ này vào năm 1950 và ngang ngược tấn công thẳng vào thủ đô Lhasa vào năm 1959"

Đảm lược và lý trí của Quốc hội Hoa Kỳ là điều gì đó vượt ra khỏi lý trí của người bình thường và Thổ Nhĩ Kỳ có thấy Mỹ là kỳ quá thì cũng chẳng sai. Nhưng, lãnh đạo của họ có nhiệm vụ sâu xa hơn và phải nhìn rộng hơn một phản ứng nông nổi và ấu trĩ của Quốc hội Mỹ.

Họ phải suy nghĩ lại về chỗ đứng của mình.

Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ đã dùng một thành ngữ của dân Thổ, về hậu quả thì rất gần với câu nói của dân Việt, là già néo đứt dây. "Khi dây đã quá căng thì thà đứt cho xong!" là lời tuyên bố của ông Recep Tayyip Erdogan, người mới được dân Thổ tái tín nhiệm với một tỷ lệ phiếu rất cao cách đây đúng ba tháng. Với ông, "cho đứt dây" có nghĩa là cây  Thổ muốn lặng mà gió Mỹ chẳng muốn dừng, nên Thổ sẽ đổ quân vào Iraq để giải quyết cho sạch mối lo xuất phát từ dân Kurd.

Nó cũng gai góc như mối lo với dân Armenia ngày xưa, cách đây gần một thế kỷ.

Ngày xưa, Đế quốc Ottoman, tiền thân vĩ đại của Thổ Nhĩ Kỳ, là một chế độ Hồi giáo nhưng chấp nhận đa nguyên đa chủng. Đế quốc này nằm giữa một trục giao lưu vừa Đông-Tây (qua biển Địa Trung Hải) vừa Nam-Bắc, qua biển Caspian.

Thế rồi Thế chiến thứ nhất bùng nổ vì những tranh chấp của Âu châu, và đế quốc này lãnh hoạ sau đó. Giữa giải pháp dung hoà đặc tính đa nguyên vì đa chủng và đa văn hoá, với giải pháp củng cố sức mạnh quốc gia trong một xã hội thuần chủng, họ ngả theo giải pháp thứ hai. Giữa những biến động long trời lở đất của cả thế giới, tinh thần quốc gia dân tộc được dân Thổ đề cao. Đấy là lúc liệt cường dùng dao giải phẫu Đế quốc Ottoman theo kiểu Tây phương tại hội nghị Sèvres- nghĩa là ngang ngược: cho xứ này một mảnh, xứ kia một góc, bất chấp thực tế sắc tộc ở tại chỗ.

Thí dụ như xứ Hy Lạp (Grece) lại được phần béo bở là mạn Bắc của biển Dardanelles; còn Armenia có một lãnh thổ quá lớn cho một dân số quá nhỏ; và dân Kurd thì có đủ yếu tố đòi hỏi quyền độc lập mà lại không có lãnh thổ, để trở thành một quốc gia. Cụ thể là dân Kurd mà lập quốc là dân Turkey thấy sự toàn vẹn lãnh thổ của họ bị đe dọa.

Hoà ước thành Sevres vào năm 1920 đã gieo mầm loạn cho Thổ Nhĩ Kỳ và sau ba năm tranh đấu để đòi lại đất đai đã bị liệt cường chia vụn cho Hy Lạp, Armenia và người Kurd, họ luôn luôn hoài nghi tinh thần giải phẫu vô trách nhiệm của các nước Tây phương. Việc họ tàn sát dân Armenia từ năm 1915 đến 1920 là điều không tha thứ được, nhưng phải được hiểu như một phản ứng sợ hãi. Phản ứng tâm lý đó vẫn còn sau khi Thổ Nhĩ Kỳ giành độc lập và ra khỏi tinh thần đa nguyên của Đế quốc Ottoman đã bị khai tử.

Ngày nay, nếu họ luôn luôn trú quân tại miền Bắc Iraq để lập vùng trái độn trong khu vực sinh hoạt của dân Kurd, tại Turkey và Iraq, người ta có thể hiểu ra. Quốc hội Mỹ không xem bản đồ hay đọc lịch sử nên khỏi cần hiểu chuyện ấy. Dân Mỹ đã bầu lên cấp lãnh đạo như vậy càng khỏi cần hiểu chuyện ấy! Và không biết rằng quân số của Turkey đang trú đóng tại miền Bắc Iraq còn cao hơn 160 ngàn lính Mỹ tại Iraq. Vì không hiểu nên, một lần nữa lại đòi giật đuôi cọp.

Năm 1991, sau khi tấn công Iraq để giải phóng Kuweit, Hoa Kỳ vào thời Bush cha đã tặng Turkey một món quà độc bất ngờ, cứ tưởng như chính đáng, là muốn cho dân Kurd được tự trị tại miền Bắc Iraq, tiếp giáp với vùng sinh hoạt của dân Kurd ở Turkey. Dân Kurd này mà đấu tranh để giành độc lập là cả Iraq lẫn Turkey sẽ loạn to. Vì vậy, năm 1995, Turkey đã tung vào Iraq 35 ngàn quân để đàn áp cuộc nổi dậy của người Kurd.

Bây giờ, nỗi ám ảnh nguyên thủy của dân Thổ đang tái diễn khi dân Kurd tại Iraq đang có nhiều quyền hạn hơn vì hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ. Và còn đang vận động đầu tư quốc tế vào các giếng dầu trong vùng kiểm soát của họ. Nhìn từ Ankarra, đấy là điều đáng ngại khi mà lực lượng cực đoan nhất của dân Kurd, đảng Công nhân Kurdistan PKK (một nhóm phiến loạn bị Hoa Kỳ lên án là khủng bố) lại tấn công các căn cứ quân sự của Turkey và rút chạy qua biên giới Iraq.

Turkey cần sự hợp tác của Hoa Kỳ để giải quyết bài toán của họ, và sẽ hợp tác với Chính quyền Bush để giải quyết bài toán Iraq của Mỹ. Giữa thời điểm ấy, Quốc hội Mỹ lại kết án dân Thổ về một tội ác xảy ra gần trăm năm trước!

Ngày 15 vừa qua, người cầm đầu quân đội Hoa Kỳ, Đô đốc Chủ tịch Bộ tham mưu Liên quân Michael Mullen đã phải gọi thẳng vị tương nhiệm là Đại tướng Yasar Buyukanit để nói chuyện về những hậu quả của dự luật kết án Turkey đang được Quốc hội Mỹ cứu xét. Nếu chuyện đáng tiếc ấy thành hình, nhẹ nhất thì quân lực Hoa Kỳ cũng hết được dùng căn cứ không quân Incrilik của xứ Turkey, tức là sẽ gặp trở ngại lớn về tiếp liệu cho các đơn vị Mỹ tại Iraq. Nặng hơn nữa, lính Thổ sẽ nhập trận tại miền Bắc Iraq để tấn công dân Kurd, và kế hoạch ổn định của Mỹ sẽ cháy như bó đuốc!

Trong hơn nửa thế kỷ, Thổ Nhĩ Kỳ đã là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và thành viên khả tín trong Minh ước NATO suốt thời Chiến tranh lạnh. Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một đồng minh kín đáo của Israel trong tình trạng sôi bỏng tại Trung Đông, và mãi tới gần đây có thể còn báo tin ngầm cho Israel trong vụ phi cơ Do Thái tấn công một căn cứ nguyên tử của Syria vào ngày mùng sáu vừa qua. Sự hợp tác ấy đang bị bào mỏng, và có thể dứt, như Thủ tướng Tayyip Erdogan đã cảnh báo.

Lý do gắn bó năm xưa của Thổ Nhĩ Kỳ là Hoa Kỳ giữ vai trò một siêu cường ổn định, cho phép họ gìn giữ được an ninh và phát triển thành một quốc gia tân tiến. Với vị trí của mình là một cường quốc trong khu vực, Thổ Nhĩ Kỳ sẵn sàng là đồng minh của thế lực ổn định, là Hoa Kỳ. Nhưng khi tấn công Iraq và quậy nát trật tự cũ trong khu vực, Hoa Kỳ đã khiến dân Thổ chột dạ. Nhìn từ quan điểm của dân Thổ, Ankara có lý do chống lại việc Mỹ vào Iraq năm 2003 và chỉ còn giữ vai trò yểm trợ rất thứ yếu, và canh chừng mối nguy của dân Kurd, một đồng minh khác của Mỹ trong khu vực.

Lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đang cân nhắc ngần ấy rủi ro trong khu vực: Iran nay đã trở thành một cường quốc sát nách và hết sợ đối thủ truyền kiếp là Iraq. Liên bang Nga nay đã đứng dậy, khống chế toàn khu vực Caspian và muốn quay về Địa Trung Hải. Trong khi ấy, dân Kurd đã mơ ước sẽ có ngày lập quốc từ những mảnh vụn tại Iraq, Turkey và Iran, thành Cộng hoà Kurdistan có dầu khí!

Giữa những rủi ro ấy họ cần xem lại là Hoa Kỳ có thiện chí và đáng tin tới mức nào, hay sẽ như liệt cường thời 1920, xé nát cả khu vực này do những tính toán thiển cận của Washington. Họ đang được Tổng thống Bush trấn an và kêu gọi kiên nhẫn thì lại bị Quốc hội Dân chủ vỗ mặt.

Quốc hội Mỹ muốn dùng dân Thổ phá nát kế hoạch Iraq của Chính quyền Bush. Vừa phải vuốt mặt, lãnh đạo Thổ vừa suy tính xem là họ có nên làm trò đánh lén không công ấy hay chăng.

Thành thử, giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ, ai kỳ hơn ai thì ai cũng rõ.

Nếu chưa rõ thì có thể hỏi lại Quốc hội Mỹ, rằng dân Mỹ từ đâu tới để lập quốc trên xứ này, và những người Mỹ nguyên thủy, thổ dân Mỹ, đã bị diệt chủng ra sao" Một lễ Tạ ơn hàng năm để cám ơn thổ dân Mỹ về mấy con Turkey thực ra chưa đủ xoá tội đâu. Việc cho mở sòng bài để kiếm bạc triệu với lý do trợ cấp cho một số thổ dân Mỹ cũng thế!

Vì sao không sờ vào gáy mình mà lại còn muốn hỏi tội xứ Turkey, và hùng dũng lặng thinh về tội ác tày trời của rất nhiều xứ khác" Kỳ cục!

Vào cái đêm thất bại đó, Thomas Massie đã nói với đám đông những người ủng hộ một điều mà suốt nhiều năm qua, chẳng ai trong đảng của ông dám nói to thành lời: "Nếu nhánh lập pháp lúc nào cũng bỏ phiếu theo ý tổng thống, thì quả thực chúng ta đang có một vị vua.”
Tưởng đâu chuyện tổng thống Donald Trump kiện Sở Thuế đòi 10 tỉ đô là màn “thay trời hành đạo”, đòi bồi thường cho vụ hồ sơ thuế bị IRS làm lộ. Dè đâu chỉ là màn mượn đầu heo IRS để nấu nồi cháo gần 1,8 tỉ rồi dọn ra cho phe mình xì xụp.
Trong bối cảnh Hoa Kỳ hiện đang bị chia rẽ sâu sắc bởi chính trị nội bộ, làm phật ý các đồng minh, và một lần nữa lại bị cuốn vào cuộc chiến tại Vùng Vịnh Ba Tư, đây dường như là thời điểm thuận lợi để Trung Quốc nắm lấy vai trò lãnh đạo toàn cầu. Tuy nhiên, Bắc Kinh lại tránh việc tận dụng những xung đột này bằng cách đưa ra một lập trường công khai mạnh mẽ. Thay vì đối đầu với Hoa Kỳ thông qua việc bảo vệ Iran—một đối tác chiến lược lâu năm trong khu vực—Trung Quốc chỉ cung cấp sự hỗ trợ gián tiếp và phần lớn vẫn đứng ngoài cuộc.
Theo những tài liệu bán chính thống, đặc biệt một bài nghiên cứu tựa đề Jester của tác giả Kivak, Rebeccad đăng trên trang học thuật EBSCO, câu "Gã hề là người duy nhất được phép chế giễu nhà vua" gần như là đúng trong truyền thống cung đình châu Âu thời Trung Cổ và Phục Hưng. Họ sử dụng tài hóm hỉnh, bài hát, câu đố hoặc tiểu phẩm để “móc” vua chúa, chỉ ra các sai lầm hoặc chính sách sai lầm của vua mà không bị trừng phạt. Nước Mỹ, xứ sở tự hào là nền cộng hòa không vua, vô hình trung đã trao vai trò đó cho truyền hình đêm khuya. Và trong suốt hơn một thập niên, có lẽ không ai cầm thứ vũ khí ấy với độ chính xác cao, căm phẫn và duyên dáng bi thương hơn Stephen Colbert.
Cô tự nhủ, cũng chưa đến nỗi nào. Anh la hét, chửi mắng, nhưng chưa hẳn đánh cô. Anh sỉ nhục người khác, nhưng vì cô hiểu và yêu anh, cô tin mình sẽ không bị đối xử như thế. Hồi mới quen anh, cô có việc làm, đủ ăn đủ xài. Bây giờ, móc túi không đủ tiền đổ xăng, cô cũng không một lần oán anh. Bị anh dụ ngọt, gạt hết lần này tới lần khác, cô ôm khư khư vào lòng cái lần đầu hiếm hoi anh cho cô cảm giác mình được bảo vệ, bênh vực. Chỉ một cái ôm, một câu nói “mình em hiểu anh thôi” là đủ vốn liếng để cô tự nuôi sống mối “tình anh với em” dài tập trong đầu.
Diversity, Equity, Inclusion — viết tắt DEI — dịch nôm là “Đa dạng, Công bằng, Hòa nhập”, là một khái niệm đã trải qua nhiều chặng lịch sử ở Hoa Kỳ. Sau phong trào dân quyền thập niên 1960, trọng tâm là “cơ hội bình đẳng”: chấm dứt phân biệt chủng tộc, mở cánh cửa trường học và công sở cho người da màu. Về sau, với chính sách “affirmative action”, chính quyền, đại học và doanh nghiệp chủ động nâng đỡ các nhóm thiểu số, không chỉ để bù đắp bất công lịch sử, mà còn để điều chỉnh cơ cấu nhân sự cho tương xứng với diện mạo dân số mới: một lực lượng lao động đa sắc tộc, đa văn hóa cần có mặt trong vị trí chuyên môn, quản trị và phục vụ công cộng. Những chương trình ấy vì thế vừa đáp ứng yêu cầu công bằng, vừa phục vụ nhu cầu thực tế của một xã hội ngày càng đa dạng.
Bản tin có tựa đề "Trump Eyes 250 Pardons to Celebrate America's 250th Birthday" trên tờ Wall Street Journal hôm nay, thứ Tư, 13/5, là một dòng chữ không thể bỏ qua. Nó không phải là một niềm vui để san sẻ với người được ân xá. Nó là câu chuyện về công lý hay công bằng. Nó là một câu chuyện về quyền lực, về tiền bạc, và về ai được gì trong thế giới của chúng ta. Nó là một câu chuyện mà chúng ta, những người đã đang bị chính quyền lừa dối, những người đã mất tiền của mình vào các tượng đài, phòng khiêu vũ, các chuyến đi đánh golf hàng tuần, cần phải chú ý đến.
Vào ngày 28/4/2026, một sự kiện hiếm hoi đã diễn ra bên trong Quốc Hội Hoa Kỳ. Vua Charles III của Vương quốc Anh đã có bài diễn văn trước phiên họp lưỡng viện Quốc Hội, trở thành vị quân vương Anh thứ hai trong lịch sử làm điều này. Vua Charles III mở đầu bài diễn văn bằng sự hài hước và khiêm tốn, sự kết hợp mà những người quyền lực hiếm khi làm được. Ông thừa nhận mối căng thẳng lịch sử giữa Anh và Mỹ, rồi cười nhẹ khi nhắc rằng ông là hậu duệ đời thứ sáu của Vua George III, vị quân vương mà các nhà sáng lập Hoa Kỳ đã nổi dậy chống lại.
Chủ Nhật đối với tôi là một thứ giao kèo âm thầm với chính mình. Đó là ngày ráng thu mình trong bốn bức tường nhà, không hội hè, không sự vụ, không để thiên hạ lôi đi đâu. Buổi sáng cà-phê với chính mình, rồi ra vườn lom khom nhổ cỏ, tưới rau, ngó xem có thêm cái chồi non lá mới nào. Rồi trở vào bàn mở computer gõ bài cho mục “Trước Thời Cuộc” mỗi tuần. Sáng nay cũng vậy, chỉ khác ở chỗ khi màn hình sáng lên, tôi thấy cái đầu mình… đuối. Không phải vì hết chuyện để nói. Thời buổi này đề tài dư thừa. Chỉ là cái đầu dường như do dự, ngần ngại. Nó muốn quay trở ra vườn hơn là bước vào cái thế giới bất an đang chờ trên màn hình.
Ngày 29–4–2026, Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ ban hành một phán quyết được coi là bước ngoặt, cho phép thu hẹp quyền lực lá phiếu của các nhóm thiểu số tại Hoa Kỳ, khi tuyên bố một đơn vị bầu cử đa số da đen ở Louisiana là “gerrymander vi hiến” và đồng thời thay đổi cách hiểu Đạo Luật Quyền Bầu Cử (Voting Rights Act – VRA). Với tỷ số 6–3, đa số bảo thủ trong tòa cho rằng bang Louisiana đã vi phạm luật khi vẽ thêm đơn vị quốc hội thứ nhì có đa số cử tri da đen. Thẩm phán Samuel Alito, viết thay cho đa số, khẳng định tòa vẫn duy trì một trụ cột của Đạo Luật Quyền Bầu Cử là điều khoản 2, vốn cấm mọi “thực hành hay thủ tục bầu cử mang tính kỳ thị dựa vào chủng tộc, màu da hoặc các nhóm thiểu số ngôn ngữ” được liệt kê trong đạo luật.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.