Hôm nay,  

Ai Kỳ Hơn Ai?

19/10/200700:00:00(Xem: 9891)

...Giữa Hoa Kỳ và Thổ Nhĩ Kỳ, ai sẽ đoạt giải"...

Chỉ hai tiếng đồng hồ trước khi đứng cùng lãnh đạo Quốc hội Hoa Kỳ để chào đón đức Đạt Lai Lạt Ma trong sảnh đường Rotunda của tòa nhà Quốc hội, Tổng thống George W. Bush đã có một cuộc họp báo nẩy lửa.

Nẩy lửa vì trong cuộc họp báo, ông mạnh lời đả kích Quốc hội - xin hiểu là đảng Dân chủ đa số - không làm tròn nhiệm vụ trong một số lãnh vực. Ông Bush liệt kê rất dài các lãnh vực đó: bảo hiểm sức khoẻ, an ninh nội địa, ngân sách quốc gia, giáo dục, gia cư, ngoại thương, trợ giúp cựu chiến binh, tăng cường quyền hạn tư pháp. Và ông kết thúc danh mục về sự bất cập của Quốc hội Dân chủ bằng một khiếm khuyết khác: chẳng những không làm đủ nhiệm vụ cho quốc dân lại còn mau mắn thi hành một việc thừa thãi và bất hợp thời, là ra nghị quyết lên án xứ Thổ Nhĩ Kỳ (Turkey) về tội diệt chủng năm 1915.

Sau cuộc họp báo căng thẳng tới bốc lửa, ông qua Quốc hội dự lễ trao tặng huy chương vàng, sự tôn vinh cao quý nhất của Quốc hội Hoa Kỳ dành cho một nhân vật dân sự. Lần này là đức Đạt Lai Lạt Ma của Tây Tạng.

Vị lãnh đạo tối cao của Phật giáo Tây Tạng có thể không biết là các chủ nhà đang cùng vinh danh mình thực ra cũng đang đấu trí và đấu võ với nhau, theo đúng quy luật dân chủ. Trong sảnh đường Rotunda trang trọng của Quốc hội, Hoa Kỳ có một bộ mặt văn minh và thống nhất khi tuyên dương một nhân vật xuất chúng và đặc biệt như đức Đạt Lai Lạt Ma, và gián tiếp thông báo cho lãnh đạo Trung Quốc rằng đã đến lúc họ nên trực tiếp nói chuyện với vị lãnh đạo Tây Tạng.

Nhưng, ở từ rất xa, lãnh đạo một quốc gia khác là Thổ Nhĩ Kỳ tại thủ đô Ankara cũng theo dõi rất sát những tranh chấp quan điểm trong nội tình Hoa Kỳ.

Ankara muốn biết rằng đề nghị của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện có được cả Quốc hội Mỹ thông qua hay không, để lên án dân Thổ Nhĩ Kỳ về tội diệt chủng năm 1915, khi xứ này còn là một phần của Đế quốc Hồi giáo Ottoman. Tại cuộc họp báo sáng 17, Tổng thống Bush kêu gọi Quốc hội là đừng làm việc đó vào lúc này, như quan điểm của tất cả các cựu Ngoại trưởng còn sống của Hoa Kỳ, thuộc cả hai đảng. Lý do là sẽ gây phản tác dụng, vào một thời điểm cực kỳ nhạy cảm tại một địa điểm cực nóng, là Iraq.

Dư luận Hoa Kỳ có thể không cần biết tới sự quan tâm theo dõi của Ankara, nhưng họ cần biết là giá dầu thô trên thế giới đã tăng vọt tới mức kỷ lục là hơn 87 Mỹ kim một thùng, tăng chín đồng trong có một tuần. Chỉ vì quyết định lên án của Ủy ban Ngoại giao Hạ viện Hoa Kỳ, và phản ứng gay gắt của Thổ Nhĩ Kỳ khi họ chuẩn bị đưa quân vào Iraq.

Nếu có phải trả tiền xăng đắt hơn trong mấy tuần tới, dân Mỹ nên biết rằng điều ấy xuất phát từ sự bất ổn tại Vịnh Á Rập, và do một quyết định lạc quẻ của một số đại diện dân cử bên đảng Dân chủ. Đứng đầu là Dân biểu Chủ tịch Hạ viện, bà Nancy Pelosi, một người đã sốt sắng vận động việc tôn vinh đức Đạt Lai Lạt Ma.

Vì sao Quốc hội Dân chủ lại chọn lúc này để gây hấn với một đồng minh của Hoa Kỳ tại Iraq là Thổ Nhĩ Kỳ" Nếu đã vì đạo tắc, quy tắc về đạo lý, để không quên những việc làm sai quấy của nhân loại trong quá khứ thì vì sao không nhân dịp này ra một nghị quyết lên án Trung Quốc đã tàn sát hơn một triệu dân Tây Tạng sau khi công khai xâm lăng cứ này vào năm 1950 và ngang ngược tấn công thẳng vào thủ đô Lhasa vào năm 1959"

Đảm lược và lý trí của Quốc hội Hoa Kỳ là điều gì đó vượt ra khỏi lý trí của người bình thường và Thổ Nhĩ Kỳ có thấy Mỹ là kỳ quá thì cũng chẳng sai. Nhưng, lãnh đạo của họ có nhiệm vụ sâu xa hơn và phải nhìn rộng hơn một phản ứng nông nổi và ấu trĩ của Quốc hội Mỹ.

Họ phải suy nghĩ lại về chỗ đứng của mình.

Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ đã dùng một thành ngữ của dân Thổ, về hậu quả thì rất gần với câu nói của dân Việt, là già néo đứt dây. "Khi dây đã quá căng thì thà đứt cho xong!" là lời tuyên bố của ông Recep Tayyip Erdogan, người mới được dân Thổ tái tín nhiệm với một tỷ lệ phiếu rất cao cách đây đúng ba tháng. Với ông, "cho đứt dây" có nghĩa là cây  Thổ muốn lặng mà gió Mỹ chẳng muốn dừng, nên Thổ sẽ đổ quân vào Iraq để giải quyết cho sạch mối lo xuất phát từ dân Kurd.

Nó cũng gai góc như mối lo với dân Armenia ngày xưa, cách đây gần một thế kỷ.

Ngày xưa, Đế quốc Ottoman, tiền thân vĩ đại của Thổ Nhĩ Kỳ, là một chế độ Hồi giáo nhưng chấp nhận đa nguyên đa chủng. Đế quốc này nằm giữa một trục giao lưu vừa Đông-Tây (qua biển Địa Trung Hải) vừa Nam-Bắc, qua biển Caspian.

Thế rồi Thế chiến thứ nhất bùng nổ vì những tranh chấp của Âu châu, và đế quốc này lãnh hoạ sau đó. Giữa giải pháp dung hoà đặc tính đa nguyên vì đa chủng và đa văn hoá, với giải pháp củng cố sức mạnh quốc gia trong một xã hội thuần chủng, họ ngả theo giải pháp thứ hai. Giữa những biến động long trời lở đất của cả thế giới, tinh thần quốc gia dân tộc được dân Thổ đề cao. Đấy là lúc liệt cường dùng dao giải phẫu Đế quốc Ottoman theo kiểu Tây phương tại hội nghị Sèvres- nghĩa là ngang ngược: cho xứ này một mảnh, xứ kia một góc, bất chấp thực tế sắc tộc ở tại chỗ.

Thí dụ như xứ Hy Lạp (Grece) lại được phần béo bở là mạn Bắc của biển Dardanelles; còn Armenia có một lãnh thổ quá lớn cho một dân số quá nhỏ; và dân Kurd thì có đủ yếu tố đòi hỏi quyền độc lập mà lại không có lãnh thổ, để trở thành một quốc gia. Cụ thể là dân Kurd mà lập quốc là dân Turkey thấy sự toàn vẹn lãnh thổ của họ bị đe dọa.

Hoà ước thành Sevres vào năm 1920 đã gieo mầm loạn cho Thổ Nhĩ Kỳ và sau ba năm tranh đấu để đòi lại đất đai đã bị liệt cường chia vụn cho Hy Lạp, Armenia và người Kurd, họ luôn luôn hoài nghi tinh thần giải phẫu vô trách nhiệm của các nước Tây phương. Việc họ tàn sát dân Armenia từ năm 1915 đến 1920 là điều không tha thứ được, nhưng phải được hiểu như một phản ứng sợ hãi. Phản ứng tâm lý đó vẫn còn sau khi Thổ Nhĩ Kỳ giành độc lập và ra khỏi tinh thần đa nguyên của Đế quốc Ottoman đã bị khai tử.

Ngày nay, nếu họ luôn luôn trú quân tại miền Bắc Iraq để lập vùng trái độn trong khu vực sinh hoạt của dân Kurd, tại Turkey và Iraq, người ta có thể hiểu ra. Quốc hội Mỹ không xem bản đồ hay đọc lịch sử nên khỏi cần hiểu chuyện ấy. Dân Mỹ đã bầu lên cấp lãnh đạo như vậy càng khỏi cần hiểu chuyện ấy! Và không biết rằng quân số của Turkey đang trú đóng tại miền Bắc Iraq còn cao hơn 160 ngàn lính Mỹ tại Iraq. Vì không hiểu nên, một lần nữa lại đòi giật đuôi cọp.

Năm 1991, sau khi tấn công Iraq để giải phóng Kuweit, Hoa Kỳ vào thời Bush cha đã tặng Turkey một món quà độc bất ngờ, cứ tưởng như chính đáng, là muốn cho dân Kurd được tự trị tại miền Bắc Iraq, tiếp giáp với vùng sinh hoạt của dân Kurd ở Turkey. Dân Kurd này mà đấu tranh để giành độc lập là cả Iraq lẫn Turkey sẽ loạn to. Vì vậy, năm 1995, Turkey đã tung vào Iraq 35 ngàn quân để đàn áp cuộc nổi dậy của người Kurd.

Bây giờ, nỗi ám ảnh nguyên thủy của dân Thổ đang tái diễn khi dân Kurd tại Iraq đang có nhiều quyền hạn hơn vì hợp tác chặt chẽ với Hoa Kỳ. Và còn đang vận động đầu tư quốc tế vào các giếng dầu trong vùng kiểm soát của họ. Nhìn từ Ankarra, đấy là điều đáng ngại khi mà lực lượng cực đoan nhất của dân Kurd, đảng Công nhân Kurdistan PKK (một nhóm phiến loạn bị Hoa Kỳ lên án là khủng bố) lại tấn công các căn cứ quân sự của Turkey và rút chạy qua biên giới Iraq.

Turkey cần sự hợp tác của Hoa Kỳ để giải quyết bài toán của họ, và sẽ hợp tác với Chính quyền Bush để giải quyết bài toán Iraq của Mỹ. Giữa thời điểm ấy, Quốc hội Mỹ lại kết án dân Thổ về một tội ác xảy ra gần trăm năm trước!

Ngày 15 vừa qua, người cầm đầu quân đội Hoa Kỳ, Đô đốc Chủ tịch Bộ tham mưu Liên quân Michael Mullen đã phải gọi thẳng vị tương nhiệm là Đại tướng Yasar Buyukanit để nói chuyện về những hậu quả của dự luật kết án Turkey đang được Quốc hội Mỹ cứu xét. Nếu chuyện đáng tiếc ấy thành hình, nhẹ nhất thì quân lực Hoa Kỳ cũng hết được dùng căn cứ không quân Incrilik của xứ Turkey, tức là sẽ gặp trở ngại lớn về tiếp liệu cho các đơn vị Mỹ tại Iraq. Nặng hơn nữa, lính Thổ sẽ nhập trận tại miền Bắc Iraq để tấn công dân Kurd, và kế hoạch ổn định của Mỹ sẽ cháy như bó đuốc!

Trong hơn nửa thế kỷ, Thổ Nhĩ Kỳ đã là đồng minh chiến lược của Hoa Kỳ và thành viên khả tín trong Minh ước NATO suốt thời Chiến tranh lạnh. Thổ Nhĩ Kỳ cũng là một đồng minh kín đáo của Israel trong tình trạng sôi bỏng tại Trung Đông, và mãi tới gần đây có thể còn báo tin ngầm cho Israel trong vụ phi cơ Do Thái tấn công một căn cứ nguyên tử của Syria vào ngày mùng sáu vừa qua. Sự hợp tác ấy đang bị bào mỏng, và có thể dứt, như Thủ tướng Tayyip Erdogan đã cảnh báo.

Lý do gắn bó năm xưa của Thổ Nhĩ Kỳ là Hoa Kỳ giữ vai trò một siêu cường ổn định, cho phép họ gìn giữ được an ninh và phát triển thành một quốc gia tân tiến. Với vị trí của mình là một cường quốc trong khu vực, Thổ Nhĩ Kỳ sẵn sàng là đồng minh của thế lực ổn định, là Hoa Kỳ. Nhưng khi tấn công Iraq và quậy nát trật tự cũ trong khu vực, Hoa Kỳ đã khiến dân Thổ chột dạ. Nhìn từ quan điểm của dân Thổ, Ankara có lý do chống lại việc Mỹ vào Iraq năm 2003 và chỉ còn giữ vai trò yểm trợ rất thứ yếu, và canh chừng mối nguy của dân Kurd, một đồng minh khác của Mỹ trong khu vực.

Lãnh đạo Thổ Nhĩ Kỳ đang cân nhắc ngần ấy rủi ro trong khu vực: Iran nay đã trở thành một cường quốc sát nách và hết sợ đối thủ truyền kiếp là Iraq. Liên bang Nga nay đã đứng dậy, khống chế toàn khu vực Caspian và muốn quay về Địa Trung Hải. Trong khi ấy, dân Kurd đã mơ ước sẽ có ngày lập quốc từ những mảnh vụn tại Iraq, Turkey và Iran, thành Cộng hoà Kurdistan có dầu khí!

Giữa những rủi ro ấy họ cần xem lại là Hoa Kỳ có thiện chí và đáng tin tới mức nào, hay sẽ như liệt cường thời 1920, xé nát cả khu vực này do những tính toán thiển cận của Washington. Họ đang được Tổng thống Bush trấn an và kêu gọi kiên nhẫn thì lại bị Quốc hội Dân chủ vỗ mặt.

Quốc hội Mỹ muốn dùng dân Thổ phá nát kế hoạch Iraq của Chính quyền Bush. Vừa phải vuốt mặt, lãnh đạo Thổ vừa suy tính xem là họ có nên làm trò đánh lén không công ấy hay chăng.

Thành thử, giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Hoa Kỳ, ai kỳ hơn ai thì ai cũng rõ.

Nếu chưa rõ thì có thể hỏi lại Quốc hội Mỹ, rằng dân Mỹ từ đâu tới để lập quốc trên xứ này, và những người Mỹ nguyên thủy, thổ dân Mỹ, đã bị diệt chủng ra sao" Một lễ Tạ ơn hàng năm để cám ơn thổ dân Mỹ về mấy con Turkey thực ra chưa đủ xoá tội đâu. Việc cho mở sòng bài để kiếm bạc triệu với lý do trợ cấp cho một số thổ dân Mỹ cũng thế!

Vì sao không sờ vào gáy mình mà lại còn muốn hỏi tội xứ Turkey, và hùng dũng lặng thinh về tội ác tày trời của rất nhiều xứ khác" Kỳ cục!

Xin nói ngay cho khỏi mất công nghiêm mặt: đây không phải bài thần học, cũng chẳng phải sớ tâu lên Vatican, lại càng không phải bản tự kiểm của ban vận động tranh cử nào. Đây chỉ là một mẩu tạp ghi nhỏ, viết trong lúc thiên hạ đang cãi nhau đỏ mặt và người viết đang nghe một câu hát quen thuộc: Yêu tôi hay yêu đàn? Hay hợp thời hơn: Yêu Trump hay Yêu Ngài?
Theo một bài phân tích đăng trên The Conversation ngày 13 tháng 4 năm 2026, thất bại bầu cử của Viktor Orbán tại Hung Gia Lợi không chỉ khép lại 16 năm cầm quyền của một chính thể ngày càng thiên về độc đoán, mà còn vang dội ra ngoài biên giới nước này, từ Mạc Tư Khoa đến Hoa Thịnh Đốn, như một lời cảnh cáo đối với thứ chính trị đặt trên chia rẽ, bất mãn và chủ nghĩa dân tộc cực đoan.
Diễn biến chính trị gần đây tại Việt Nam đang đặt ra một vấn đề nền tảng của mọi nhà nước hiện đại, rằng quyền lực chính trị quyền lực đang được kiểm soát bằng cơ chế nào? Và liệu còn tồn tại bất kỳ không gian nào cho việc kiểm soát đó hay không? Sau Đại hội đảng Cộng Sản, việc Tô Lâm trở thành Tổng Bí thư, rồi mới đây, tiếp tục được Quốc hội bầu kiêm nhiệm thêm chức vụ Chủ tịch nước, không đơn thuần là một sự sắp xếp nhân sự. Mà đây là một bước dịch chuyển mang tính nền tảng, làm thay đổi hoàn toàn cách thức vận hành quyền lực trong hệ thống chính trị Việt Nam theo chiều hướng đầy rủi ro. Nếu nhìn bề ngoài, đây có thể được diễn giải như một bước tăng hiệu quả lãnh đạo. Nhưng dưới lăng kính chính trị học, đó là một bước tiến rõ rệt của quá trình tập trung quyền lực. Khi hai vị trí vốn đại diện cho hai trục quyền lực, gồm đảng và nhà nước được hợp nhất vào một cá nhân, thì câu chuyện không còn là phân công nữa, mà là hội tụ quyền lực vào một điểm gần như tuyệt đối.
Tháng Tư đến, như sự chờ đợi hàng năm từ một thế giới đang oằn mình chống chọi với những vết thương do chiến tranh tàn khốc gây ra. Họ mong mỏi dù chỉ vài ngày, vài giờ ngắn ngủi, không có tiếng súng, bom rơi, đạn nổ, để thật sự được hít thở không khí hòa bình, nhất là vào dịp Lễ Phục Sinh – một mùa lễ tràn đầy thông điệp của hy vọng. Thế nhưng có những âm thanh lạc điệu, chói tai đã len lỏi vào niềm vui thiêng liêng nhất của người Kitô giáo vào buổi sáng ngày Chúa Nhật Phục Sinh, 5/4/2026. Âm thanh đó khiến bất kỳ ai nghe thấy cũng sững sờ.
Ngay trước khi tối hậu thư của Mỹ gởi cho Iran hết hạn, Mỹ và Iran đã đồng ý về một lệnh ngừng bắn tạm thời cùng kế hoạch đàm phán cho một hòa ước dài hạn. Công luận và giới chính trị trên toàn thế giới thở phào nhẹ nhõm khi một thảm họa nhân đạo quy mô lớn đã được tránh khỏi, và nền văn minh rực rỡ của Iran không bị phá hủy như những lời đe dọa trước đó. Một niềm hy vọng mong manh về hòa bình cho Iran đã được nhen nhúm. Tuy nhiên, các chuyên gia cảnh báo rằng không nên kỳ vọng quá mức...
Ngày xưa bên bờ sông Dịch Thủy nước Triệu, có một con bạng (sò) leo lên bờ mở to miệng nằm phơi nắng, con duật (cò) bay ngang liền sà xuống mổ lấy hạt ngọc trai. Con sò kẹp chặt lấy mỏ cò, đôi bên giằng co không ai chịu nhường ai. Đúng lúc ấy ngư ông đi qua, thản nhiên thò tay bắt cả hai vào rọ. Từ đó có câu “bạng duật tương trì, ngư ông đắc lợi”, nêu cảnh hai bên tranh chấp, tiêu diệt lẫn nhau, còn kẻ thứ ba ung dung thò tay hưởng lời. Trong cuộc chiến Iran hôm nay, Trump dùng sức mạnh hỏa lực và lời đe dọa tiêu diệt để ép đối phương, tưởng rằng chỉ cần ra tay siết cổ là có thể buộc thiên hạ phải khuất phục. Nhưng thế cục không vận hành đơn giản như vậy. Hai bên càng đối đầu, càng tự làm tổn hao sức lực, còn những nước đứng ngoài lại có cơ hội tranh thủ trục lợi. Người hiểu thời cuộc nhìn không khó đoán ra rằng trên bàn cờ này, bàn tay thứ ba đang chờ thâu tóm là ai.
Ngưng bắn, dĩ nhiên, vẫn hơn là không ngưng bắn. Phải nói điều này trước, và nói cho rõ. Bom đã thôi rơi xuống Iran. Tàu bè lại qua lại. Những người lẽ ra phải chết thì còn sống. Ai từng có mặt trong một vùng chiến sự đều biết: khi súng im tiếng, bầu trời không còn gào thét, chim lại bay, trẻ con lại nói ngoài đường, thì đó là một điều gần như thiêng liêng. Nhưng ngưng bắn không phải hòa bình. Và cuộc ngưng bắn này, nếu giữ được, có thể đã phải mua bằng một giá chiến lược rất đắt. Nếu mục tiêu chính của cuộc chiến là chấm dứt, hay ít ra làm suy yếu hẳn mối đe dọa từ chế độ Iran, thì sự thật khó nghe nhất lại là sự thật đơn giản nhất: Iran vẫn còn số uranium có độ tinh khiết rất cao. Và Iran cũng đã cho thấy họ có thể biến eo biển Hormuz, một trong những thủy lộ quan trọng nhất thế giới, thành một món hàng mặc cả mà không ai có thể làm ngơ.
Kể từ ngày 28/2, Mỹ và Israel đã tiến hành các cuộc tấn công Iran và ngày càng gia tăng cường độ với mục tiêu nhằm kết thúc chiến sự càng sớm càng tốt, đồng thời làm suy yếu hoặc lật đổ chế độ thần quyền. Hai mục tiêu chính được Trump công bố là phá hủy chương trình vũ khí hạt nhân và chấm dứt sự cai trị của giới giáo sĩ Hồi giáo...
Tình hình giữa Hoa Kỳ và Iran vào tháng 4 năm 2026 cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các áp lực quân sự, ngoại giao và chính trị trong nước. Trong những tuần gần đây, đã xảy ra việc cách chức các lãnh đạo quân sự cấp cao của Mỹ — bao gồm Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Tướng Randy George, cùng hai vị tướng khác — như một phần của cuộc cải tổ rộng lớn ảnh hưởng đến hơn một chục sĩ quan cấp cao. Đồng thời, Tổng thống Donald Trump đã sử dụng những lời lẽ ngày càng thô tục và mang tính khiêu khích đối với Iran. Tổng thể, những diễn biến này phản ánh một chiến lược rộng hơn, trong đó đàm phán cưỡng ép đã chạm đến giới hạn, khiến khả năng leo thang quân sự và chuẩn bị cho các chiến dịch trên bộ quy mô hạn chế trở nên ngày càng cao.
Ngày 28 tháng 2 năm 2026, Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump tuyên bố mục tiêu của Washington là chấm dứt chế độ thần quyền tại Iran và buộc Lực lượng Vệ binh Cách mạng (Islamic Revolutionary Guard Corps, IRGC) đầu hàng; nếu không, Hoa Kỳ sẽ sử dụng vũ lực, đồng thời chấm dứt mọi nỗ lực đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.