Hôm nay,  

Andrew Lloyd Webber viết nhạc kịch mới, đề tài về “Mona Lisa” mất tích năm 1911

03/07/202600:00:00(Xem: 98)
Mona Lisa

Bức Mona Lisa hiện đang được trưng bày tại phòng Salle des États của bảo tàng Louvre, Paris. Ảnh Wiki.

 
Andrew Lloyd Webber, người được xem như nhà soạn nhạc thành công nhất của sân khấu nhạc kịch hiện đại, nay lại tìm đến một đề tài nghe qua tưởng chừng đã quen: câu chuyện bức Mona Lisa một lần âm thầm rời khỏi Louvre rồi bặt vô âm tín suốt hơn hai năm trời.

Khán giả yêu nhạc kịch đã thuộc nằm lòng những “giấc mộng giữa ban ngày” của Lloyd Webber: hồ nước ngầm dưới Nhà hát Opera Paris, bầy mèo Jellicle mong được bước sang cõi Heaviside, hay vị pharaoh Ai Cập cất tiếng ca như Elvis nói mộng. Nay, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật. Với dự án mới, ông quay sang một “biểu tượng thị giác” quen thuộc, thay vì những nhân vật hư cấu, ông muốn kể chuyện một hình ảnh thật, nhưng đã hóa biểu tượng đến mức gần như siêu thực: nụ cười Mona Lisa.

Trong một cuộc phỏng vấn gần đây, Lloyd Webber cho biết: “Đó là câu chuyện có thật về việc Mona Lisa đã biến mất… rồi lại xuất hiện ở Ý.” Rồi ông bỏ lửng, chỉ cho biết sẽ lui vào chỗ yên tĩnh để cặm cụi viết, chưa vội tiết lộ thêm điều gì.

Hiện tại, Lloyd Webber vẫn đang bận rộn với nhiều dự án khác, trong đó có vở The Illusionist (phỏng theo phim năm 2006), cùng việc bảo trợ cho Cats: The Jellicle Ball—một phiên bản tái dựng Cats theo phong cách ballroom queer, vừa ra mắt Broadway hồi đầu tháng 4.

Vụ trộm làm chấn động thế giới nghệ thuật

Đối với thế giới nghệ thuật, Mona Lisa từ lâu đã là “màn trình diễn lớn nhất”. Louvre, nơi treo bức tranh ấy, vẫn là bảo tàng đông khách nhất hoàn cầu, và người ta ước tính khoảng tám phần mười du khách đặt chân đến đây chỉ để được thấy tận mắt tuyệt tác của Leonardo da Vinci. Mỗi ngày, từng đoàn người chờ đợi, chen vai thích cánh trong một căn phòng chật chội để nhìn cho được bức chân dung chỉ vào khoảng ba chục phân vuông.

Đầu thế kỷ XX, trong giới học giả, tên tuổi Mona Lisa đã vang từ lâu; nhưng với công chúng nói chung, cái danh ấy khi ấy vẫn còn chưa mấy chói sáng. Nhận thấy bức tranh ngày một được chú ý, Louvre quyết định đặt nó sau một lớp kính bảo vệ. Một trong những người trực tiếp lắp kính là Vincenzo Peruggia, thợ kính kiêm thợ sơn người Ý. Chính vì từng “đặt nàng vào khung”, Peruggia hiểu hơn ai hết cách đưa nàng ra khỏi đó.

Ngày 21 tháng 8 năm 1911, vào một hôm Louvre đóng cửa, Peruggia,—khoác lên người chiếc áo công nhân, lẻn vào bảo tàng, tháo Mona Lisa khỏi khung rồi mang đi. Mãi 28 tiếng sau, vụ việc mới bị phát giác: một họa sĩ đến Louvre để vẽ lại bức tranh, chỉ thấy bức tường trơ trọi. Ban đầu, nhà chức trách còn tưởng tranh được tháo xuống để chụp ảnh. Chỉ đến lúc hỏi người phụ trách chụp hình, rồi gặp chiếc khung bỏ quên trong cầu thang, họ mới hay rằng bức tranh đã thực sự bị lấy đi.

Louis Lépine, quan Cảnh sát trưởng Paris, khi nói với báo chí đã cho rằng đây có thể là một vụ phá hoại nội bộ hoặc một màn chuẩn bị tống tiền chính phủ. Ông tỏ ra tin rằng tranh sớm muộn cũng sẽ tìm lại được. Nhưng những ngày, những tháng sau đó trôi qua trong vô vọng—Mona Lisa biến mất không để lại dấu vết.

Nhà chức trách ráo riết điều tra, không ít kẻ vô can bị đưa vào vòng nghi vấn, có cả Pablo Picasso, khi ấy đang sống tại Paris. Peruggia cũng bị mời về nhà riêng để thẩm vấn, nhưng hắn không gây ấn tượng gì đáng ngờ. Bức tranh lúc ấy vẫn nằm yên trong chiếc hòm gỗ ở căn phòng của hắn.


Hai năm trôi qua, vụ án vẫn không nhúc nhích. Peruggia trở về Ý, Mãi đến cuối năm 1913, Peruggia mới lộ diện khi liên lạc với một nhà buôn nghệ thuật tại Ý để đòi tiền chuộc và khoe đang giữ bức tranh—nhà buôn nọ lập tức báo với cảnh sát, Peruggia bị bắt, và từ đó vụ trộm Mona Lisa trở thành một thiên truyện giật gân, kéo theo những dòng người hiếu kỳ chen chúc đến xem cho biết mặt “bức tranh từng bị đánh cắp”.

Từ một bức tranh ít người chú ý thành biểu tượng toàn cầu

Khi Leonardo qua đời năm 1519, vua Francis I của Pháp đã mua lại Mona Lisa. Bức tranh từng treo trong phòng ngủ của Napoleon một thời gian, rồi về Louvre vào đầu thế kỷ XIX và ở đó cho đến ngày mất tích năm 1911. Trớ trêu thay, chính khoảng trống trên tường Louvre, nơi bức tranh từng treo, lại là thứ khiến thiên hạ lần đầu chú ý mạnh mẽ đến nó.

Trước năm 1911, tác phẩm này không phải là điểm nhấn nổi bật nhất ngay trong phòng trưng bày của nó. Nhưng khi biến mất, hàng ngàn người—trong đó có cả Franz Kafka—đổ xô đến Louvre chỉ để nhìn… khoảng trống nơi bức tranh từng treo.

Sau khi Peruggia bị bắt, hắn khai rằng mình chỉ muốn đưa bức tranh về “quê hương Ý”, vì tác giả là người Ý, và từng viết thư đòi tiền với câu mở đầu: “Tác phẩm bị đánh cắp của Leonardo da Vinci hiện đang nằm trong tay tôi.” Tại Ý, nhiều người coi Peruggia như một kẻ anh hùng lãng tử, dám “cướp lại” một báu vật cho tổ quốc. Động cơ thực sự đến nay vẫn còn gây tranh luận; nhưng có điều gần như chắc chắn: chính vụ trộm ấy đã làm nên danh tiếng lẫy lừng của Mona Lisa.

Sau khi được tìm thấy, tranh được triển lãm ngắn ngày tại Ý rồi đưa về lại Louvre. Trong hai ngày đầu tiên bức tranh trở lại Paris, hơn một trăm ngàn người đã đứng chật cứng bảo tàng để được nhìn kỹ nụ cười bí ẩn ấy thêm một lần.

Sau khi được thu hồi, Mona Lisa được trưng bày tạm thời tại Ý trước khi trở lại Pháp. Riêng hai ngày đầu tái xuất tại Louvre đã thu hút hơn 100.000 lượt khách.

Kể từ đó, Mona Lisa không chỉ là một tác phẩm hội họa mà còn là một bóng hình ám ảnh văn hóa. Người đời gặp nó qua vô số phiên bản: từ những nghịch ngợm của Marcel Duchamp, những tấm in của Andy Warhol, đến những câu chuyện Ray Bradbury, các phim Glass Onion hay những tiểu thuyết trinh thám kiểu The Da Vinci Code, chưa kể vô số ca khúc lấy tên nàng làm nhan đề.

Một đề tài “đúng chất Lloyd Webber”

Andrew Lloyd Webber là người của công chúng. The Phantom of the Opera—vở nhạc kịch nổi tiếng nhất của ông—đã đứng sân khấu Majestic Theatre trên Broadway suốt 35 năm, lập kỷ lục là vở diễn có thời gian trình diễn dài nhất trong lịch sử nơi này, và doanh thu vượt quá một tỷ Mỹ kim. Vở diễn ấy cũng được dịch và trình diễn ở hàng chục ngôn ngữ khác nhau, đem lại số tiền còn hơn nhiều phim ăn khách.

Câu chuyện Mona Lisa hội đủ những yếu tố mà Lloyd Webber ưa chuộng: bí ẩn, kịch tính, nhân vật lập dị và sức hấp dẫn đại chúng. Nếu được dàn dựng, đây có thể là một vở nhạc kịch kết hợp giữa lịch sử, trinh thám và huyền thoại nghệ thuật—một “đại cảnh” mới trên sân khấu Broadway.

Cung Mi sưu tầm/biên tập

Nguồn: phỏng theo bài Andrew Lloyd Webber Says He’s Writing a New Musical About the Time the ‘Mona Lisa’ Vanished Without a Trace in 1911, trên Smithsonian magazine.
 

Ngày triển lãm: từ 28 tháng 8 đến 25 tháng 10, năm 2026 Tiếp tân khai mạc: Thứ Bảy, 29 tháng 8, 11am - 2pm RSVP: https://bit.ly/MakeitHomeReception Huntington Beach Art Center 538 Main St, Huntington Beach, CA 92648 Giờ mở cửa phòng triển lãm: Thứ Ba: 12pm-8pm; Thứ Tư và thứ Năm: 12pm-6pm; từ Thứ Sáu đến Chủ Nhật: 12pm-5pm
LTS: Buổi Ra Mắt Các Tuyển Tập Thơ, Truyện, Nhạc, Phê Bình Văn Học của Ngu Yên sẽ được tổ chức tại Little Sài Gòn vào chiều Chủ Nhật, 23 tháng 8, lúc 3:30 giờ chiều tại Coffee Factory. Việt Báo và Ngu Yên thân mời quý văn hữu, thân hữu, độc giả đến tham dự, gặp gỡ và hội thoại với tác giả. Trong loạt bài viết sắp tới về chương trình RMS, Vũ Tiến sẽ lần lược giới thiệu những cuốn sách mới sắp "trình làng". Mời bạn đọc cùng bước vào trang sách với bài thứ nhất, về Làng Sơn Dầu.
Tôi được họa sĩ Paulina Đàm tặng một tập sách ảnh có tên Purple Skies gồm 21 bức tranh trừu tượng biểu hiện của cô, và một số bài thơ của các tác giả xen kẽ với tranh mang tính minh họa ý nghĩa các bức tranh này. Tôi quen biết họa sĩ Paulina không lâu, và cũng chưa từng có dịp xem tranh của cô. Tuy nhiên, dẫu tập sách ảnh có những hạn chế trong việc trình bày tranh nhưng với tôi đấy cũng là một kiểu triển lãm bỏ túi, và tôi rất thích thú với những tấm tranh đặc trưng trừu tượng biểu hiện (abstract expressionism) này của Paulina. Tôi không phải là người phê bình hội họa mà chỉ là kẻ thích xem tranh thế thôi. Nghệ thuật ngoài hình thái văn học, âm nhạc, tôi đặc biệt thích thú tranh vẽ, và lúc nào cũng mang đầy ắp tâm trạng của kẻ khao khát một chân trời mỗi khi được xem tranh.
Ngày 31 tháng 5 năm 2026, nhằm ngày Rằm tháng 4 năm Bính Ngọ, là ngày Lễ Phật Đản, kỷ niệm ngày đức Phật Thích Ca Mâu Ni sinh ra đời cách nay 2650 năm tại nước Ca-tỳ-la-vệ ở phía bắc Ấn Độ. Ngày đức Phật ra đời đánh dấu một cột mốc lịch sử quan trọng trong thế giới của chúng ta, bởi vì đức Phật là người đã mở toang cánh cửa tự do cho nhân loại. Nạn kỳ thị giai cấp trong xã hội Ấn Độ thời Phật rất phổ biến và khắc nghiệt. Giai cấp tăng lữ Bà-la-môn đứng trên đỉnh xã hội vì nắm độc quyền tâm linh và tế tự theo truyền thống thánh điển Vệ-đà. Chỉ có giai cấp Bà-la-môn mới có được quyền mặc khải từ thần linh để giảng giải và thực hành lễ nghi tế tự. Tiếp theo là giai cấp Sát-đế-lợi thuộc thành phần vua chúa quan quyền, rồi tới giai cấp Phệ-xá là thành phần làm ăn buôn bán và lao động, và sau cùng là giai cấp Thủ-đà-la là thành phần công dân hạng tư và bị đối xử như nô lệ. Nhưng đức Phật không thừa nhận sự phân biệt và kỳ thị giai cấp đó khi Ngài nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng như
Bức Mona Lisa của Leonardo da Vinci sẽ được đưa sang một không gian trưng bày riêng tại Viện Bảo Tàng Louvre, trong một kế hoạch đại trùng tu lớn nhằm giảm cảnh chen chúc, tăng an ninh và sửa chữa hạ tầng tại viện bảo tàng đông khách nhất thế giới. Theo Christian Thorsberg, viết trên Smithsonian Magazine ngày 19 tháng 5 năm 2026, giới chức Pháp vừa chọn nhóm kiến trúc sư quốc tế đảm trách công trình được mô tả như một “thời Phục Hưng mới” cho Louvre. Dự án có thể tốn tới $1 tỷ, với mục tiêu giải quyết tình trạng quá tải kéo dài nhiều năm qua.
Lebanon, nơi dân số ước tính năm 2021 là 5,592,631 người, trong đó 95% là sắc tộc Ả Rập, 4% là sắc dân Armenian, 1% các sắc dân khác. Nhưng chính tôn giáo dị biệt cũng là một cội nguồn chia rẽ: 28.7% theo Hồi giáo Sunni, 28.4% Hồi giáo Shia, 0.6% các hệ phái Hồi giáo khác; 22% Công giáo hệ Maronite, 8% Chính thống giáo Hy lạp, 5.2% theo đạo Druze, 1% Tin lành Phúc âm, và còn lại là các tôn giáo khác. Lịch sử hiện đại của Lebanon là một quá trình chuyển mình từ hình ảnh “Thụy Sĩ của Trung Đông” sang một quốc gia được định hình bởi sự kiên cường giữa bối cảnh sụp đổ toàn diện của hệ thống. Được lập quốc vào năm 1920 với tên gọi Đại Lebanon dưới sự ủy trị của Pháp, quốc gia này đã giành được độc lập vào năm 1943. Hệ thống chính trị độc đáo của đất nước—dựa trên “Hiệp ước Quốc gia” về chia sẻ quyền lực giữa các giáo phái—ban đầu đã kiến tạo nên một thời kỳ hoàng kim của sự thịnh vượng về văn hóa và tài chính. Sự ổn định này đã tan vỡ vào năm 1975 với sự bùng nổ của cuộc Nội chiến kéo dài
Nhiếp ảnh không còn là việc ghi lại thế giới như nó tồn tại. Trong thời đại đương đại, máy ảnh đã trở thành một công cụ tư duy, một phương tiện để người cầm máy đặt câu hỏi, phản biện, và kiến tạo ý nghĩa. Mỗi lần bấm máy là một lần người chụp lựa chọn: lựa chọn cái gì được nhìn thấy, cái gì bị cắt ra ngoài khung hình, khoảnh khắc nào xứng đáng tồn tại mãi mãi. Đó là một quyền lực nhỏ nhưng đầy tính triết học.
Có những bài hát viết để ru người ngủ. Có những bài hát viết để kể chuyện tình. Và có những bài hát viết để không ai có thể quên. Thời Hoàng Hôn Của Ý Niệm của Hà Thúc Sinh là ca khúc để nhớ, nhưng không phải vì nó đẹp đến mức người ta không thể quên, mà vì nó đau đến mức người ta không thể không nhớ. Đây là một bài hát mà nghe xong, người ta không muốn nghe lại, nhưng không thể nào xóa được khỏi tâm trí. Đây là loại nghệ thuật mà Adorno đã từng nói tới khi ông viết về văn học sau Auschwitz: nghệ thuật không còn để mua vui, mà để làm chứng cho những điều đáng lẽ ra không nên xảy ra.
Mới ngày nào chỉ là một ý tưởng, vậy mà VAALA Viet Book Fest năm nay đã bước vào năm thứ Năm.
Tháng Tư vừa mới chớm, trái tim của những người con Việt hải ngoại bắt đầu rỉ máu, vết thương của 51 năm qua vẫn mãi chưa bao giờ lành, một khi quê hương đất mẹ vẫn đang bị cầy xéo, dân vẫn khốn đốn, nền tự do dân quyền không có, những cựu chiến binh VNCH với thân hình còi rọc, như những phế nhân lầm lũi sống ở tận đáy xã hội của đất nước nơi mình được sanh ra; họ là những minh chứng sống cho thấy dưới chế độ xã hội chủ nghĩa Cộng Sản sau 51 năm, đời sống không khả quan hơn, vẫn đói khát, bị vùi dập, kiểm soát, bị trả thù đến bao nhiêu kiếp đời, bọn người chiến thắng vẫn chưa vừa lòng!
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.