Hôm nay,  

Thiếu nước

29/04/202408:04:00(Xem: 7278)
Biên khảo

water

Đất nước là nhu cầu sống thực của con người. Đất dụng canh, nước sinh cư tạo lương thực nuôi con người trong hệ hoàn vũ. Theo công kỹ nghệ gia tổng kết thì ngành nông nghiệp trên thế giới ngày nay đang tiêu thụ với tỷ lệ 65% số lượng nước, công nghiệp chi dụng 25%, và gia cư hao tốn 10%, cùng với số lượng nước hao cạn hàng giờ trong mỗi ngày trên toàn cầu, khi nhiệt độ và thời tiết tăng trưởng.
    Bởi thế nước đã là nước, là nước hằng sống, là vì nước (state) hay nước (water). Không vì dân vì nước thì con người chết đói chết khát, cuộc đời mất nước, thiếu nước, khát nước và thèm nước!
 
I. Thủy Triều Nước Mặn
 
Nhìn lại thập niên trước, khi chính quyền Mễ Tây Cơ phải làm đơn vay nước (water loan) Sông Rio Grande của Hoa Kỳ với số lượng 2.8 triệu khối, đã làm dư luận quốc tế bàn tán xôn xao. Nguyên nhân, vùng Bắc Mễ gặp hạn hán trong suốt ba năm liền và tạo cho đồng bằng sông ngòi kênh rạch cạn nước.
    Thiếu nước đã làm cho chăn nuôi, trồng trọt và mùa màng cũng như lâm ngư của Mễ Tây Cơ bị hủy diệt. Khi nước sông cạn thì nước biển lại tràn vào, và thủy triều nước mặn sẽ tiêu diệt toàn bộ nông sản và ngư sản nước ngọt (fresh water).
    Dân chúng lầm than cơ cực, bịnh hoạn nghèo đói trong cảnh sống với nước phèn, chờ mưa. Theo chương trình ngư nghiệp của Hiệp Ước 1944, Mễ ký kết với Mỹ để được dùng 5% lượng nước sông Rio Grande, đã kiểm soát bởi hệ thống đập thủy điện thủy lợi (hydro dam) ở thượng nguồn Tiểu Bang Texas. Đành rằng vay nước thì trả bằng nông phẩm hoa màu. Nhưng sự kiện mượn nước cũng làm cho chính phủ Hoa Kỳ lo ngại, vì thiếu nước cũng ảnh hưởng tới nông dân Texas.
    Trên thế giới ngày nay có hơn 210 con sông lớn, được xây đập thủy điện thủy lợi trong vài thập niên qua, ít nhất đã có từ 35 năm. Thực tế, các nước thượng nguồn (up-stream) trở nên thịnh vượng chăn nuôi trồng trọt, lương thực dồi dào và có thêm ưu thế quân sự hóa “cái đập” cầm quyền phát nước, trị nước (water control) hạ nguồn (down-stream), là dân cam cảnh nô lệ. Dân hạ nguồn thì đương nhiên phải chịu hưởng giòng ô uế (contaminated water) do những hóa chất độc hại organochlorines, DDT, toxic chemicals… từ phân bón hay thuốc trừ sâu của xứ nông nghiệp thượng nguồn thải ra và đổ xuống giòng sông.
    Theo tài liệu Tổ Chức Lương Nông Thế Giới (The U.N. Food and Agriculture Organization), Liên Hiệp Quốc 1996, với những phát minh tiến bộ khoa học công nghệ như khám phá ra hạt giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu, hay hệ thống phun tưới… làm gia tăng sản lượng lương thực, tạo gía thành ngũ cốc giảm hạ, tỷ lệ chết đói của nhân loại xuống thấp. Bình quân khẩu phần lương thực cho mỗi đầu người là 300 kilograms.
    Nhưng điều kiện chưa đủ, chưa phải là niềm hạnh phúc cho nhân loại hôm nay, vì vấn nạn khan hiếm nước đang đe dọa toàn cầu. Mất nước, thiếu nước, khát nước, thèm nước dẫn tới tình trạng khủng hoảng an sinh, yếu kém sức dân, bất an xã hội, biến loạn chính trị, đó là nguyên nhân gây ra chiến tranh.
 
II. Nguyên Nhân Chiến Tranh
 
Nhân loại xưa nay xảy ra chiến tranh tàn sát, tiêu diệt lẫn nhau cũng bởi khát nước, thèm nước, mất nước. Điển hình Cuộc Chiến Sáu Ngày (Six Day War) của Do Thái vào năm 1967, vì cảm nhận nguy cơ thiếu nước, đang khi Syrian phong tỏa giòng Sông Banias một trong ba nhánh của Jordan. Do Thái phải lập tức đánh chiếm hai vùng nước chiến lược, hồ mạch ngầm West Bank và cao nguyên Golan Heights là thượng nguồn chảy xuống đập Jordanian, trước khi đổ ra hai nhánh Yarmouk và Banias.
    Để có thêm bằng chứng về “chiến tranh vì nước,” người viết xin trích dẫn lời tuyên bố của thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Syleyman Demired trả lời yêu sách khi chia nguồn Euphrates Water với Syrian trước Liên Hiệp Quốc năm 1992, “Chúng tôi không nói chúng tôi chia nguồn dầu hỏa của họ. Thì họ cũng đừng nói muốn chia nguồn nước của chúng tôi (We do not say we should share their oil resources. They cannot say they should share our water resources).” Đó là nước hằng sống, nước vĩnh cửu, và con người không nước thì chết.
 
III. Đồng Bằng Hạ Nguồn
 
Nhìn về quê hương Việt Nam, có thể vì sự di chuyển thuận lợi cho việc định canh định cư trong vùng đồng bằng hạ nguồn của tổ tiên chúng ta ngày trước, như châu thổ Sông Hồng, Đồng Nai, Cửu Long… như điều kiện thiên nhiên cho phép! Nhưng thời đại ngày nay, các xứ nông nghiệp hạ nguồn lâm nạn!
    Trở thành nghèo nàn lạc hậu vì “bị nô lệ” bởi cái đập thượng nguồn. Đang khi quốc tế chưa thể hiện được một chính sách phát nước khả dĩ cân xứng, hòa đồng theo nhu cầu và tiến trình sống chung của nhân loại.
 
1. Nạn Nước Việt Nam
 
Nạn Nước Việt Nam ngày nay. Chứng cớ cụ thể là trường hợp đập Pak Mun, thuộc loại thủy điện thủy lợi cỡ lớn (hydro dam) thượng nguồn Cửu Long (Mekong River) miền Đông Bắc Thái Lan, khánh thành sau thập niên 90 do công ty EGAT (Electricity Generating Authority of Thailand) và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) tài trợ.
    Và cũng trên lưu lượng thượng nguồn này còn có cả một hệ thống thủy đập của Trung Quốc, của Miến Điện chảy xuống thủy đập của Ai Lao, của Cao Miên… thành ra một giòng với bấy nhiêu cái đập… thì nguồn nước trở thành ô uế (contaminated water), với độc chất sa thải từ các vùng kỹ-nông-lâm-ngư nghiệp chảy xuống Sông Tiền Sông Hậu của Đồng Bằng Cửu Long miền Nam Việt Nam, và trở thành Nguồn nước ô nhiễm! Toàn dân sẽ mắc bệnh ung thư!
 
2. Nguồn Nước Ô Nhiễm
 
Hỡi ơi, mất nước, thiếu nước (fresh water) đang trở thành mối đe dọa, không những chỉ là nước canh tác, mà còn là an sinh của đồng bào ta đang sống trong môi trường hạ nguồn!
    Miền Bắc thì cũng bị mất nước. Trung Quốc vốn sẵn mộng làm quan thái thú đô hộ dân ta ngàn xưa, thì ngày nay Giặc Tàu lại có ưu thế “cái đập,” nhằm mục đích trị nước mang tên “The Three Gorges Dam” từ mãi tận thượng nguồn Sông Hồng (Yangtze River).
     Việt Nam khó mà thoát ách nô lệ quân Tàu! Thiếu nước thì đi vay (water loan), vay mượn thì thành con nợ và trả nợ chồng chất ngập đầu. Vay tiền (money loan) thì trả lãi, và có lẽ còn dễ trả hơn là nợ nước.
 
3. Đi Vay Mượn Nước
 
Nợ nước thì trả bằng nông phẩm, và cả một dân tộc thành con nợ, và trả nợ chẳng khi nào trả cạn! Trường hợp vay nước và trả nợ của Mễ Tây Cơ nói trên đã là một dẫn chứng điển hình cho chúng ta. Chủ nợ Trung Quốc so với Hoa Kỳ còn độc địa và nghiệt ngã bao vạn lần!
     Cũng theo tài liệu Liên Hiệp Quốc, thế giới có hơn 38,000 thủy đập, và riêng Trung Quốc chiếm hơn nửa số thủy đập đó. Chúng ta thấy ngay cái cảnh thiếu nước và bao nỗi khó khăn trong việc giữ nước của đồng bào quê hương mình.
     Việc “giữ nước” lại cần phải có sức dân sức nước, tức kết hợp toàn dân toàn diện trong một khối hơn 100 triệu người trong nước và hải ngoại và có hồn dân hồn nước để giữ nước... thì mới có toàn dân vi binh, toàn địa vi phòng, toàn tài vi dụng, toàn quốc vi chính! Từ những vấn đề như vay nước, lọc nước, dùng nước… nước uống cho chí nước tiêu dùng trong nông nghiệp, công nghiệp, tín nghiệp mới được ứng dụng theo tiêu chuẩn.
     Việt Nam là nước hạ nguồn, bị nô lệ bởi thiên nhiên là lẽ tất nhiên. Nhưng việc giữ nước lại do khả năng con người qua những chính sách sáng tạo để ứng dụng, chớ không chỉ dành giật hay cướp đoạt chính quyền như bao người lầm tưởng, mà bỏ quên cái đập nước!
     Có lẽ từ ngày ông Hồ và đảng của ông cầm quyền tới nay qua thời gian gần thế kỷ, chúng ta chưa thấy bao giờ họ tiên liệu về mục tiêu nước, hay yếu tố nước… Ngược lại, họ căn cứ vào bạo lực làm cứu cánh nhằm giải quyết chuyện nước non.
     Thiếu nước thì phài vay nước. Nợ nước thì phải trả bằng nông sản. Cho nên sau khi thâu hoạch hàng vụ Hà Nội đành ngậm bồ hòn “của xứ hạ nguồn” mà phải đội lúa gạo ngô khoai sang triều cống quan thày Bắc Kinh để trả nợ nước. Đương nhiên, Hà Nội cũng chỉ được hưởng gía thành rẻ mạt trong việc Bắc Kinh trả lại bằng phân bón, hay thuốc trừ sâu “thiếu chất lượng” do biến chế với kỹ thuật thô sơ.
     Đã một thời (1995) Hà Nội khoe khoang với Liên Hiệp Quốc sản xuất nhiều lương thực, đứng hạng thứ tư về tài trợ cho nhân dân Trung Quốc. Họ vừa lòe bịp dư luận thế giới lại vừa làm cho đồng bào ta ăn đói triền miên (xem State of World 1996 của nhóm World Watch Institute Report).
     Nước là nhu cầu sinh thái (ecosystem) của thực vật, động vật và con người. Nước là tác động chung phần (collective security) trong môi trường an sinh. Nước dùng nhiều ắt cạn.
     Nông nghiệp là ngành tiêu thụ nhiều nước nhất, nước canh tác, nước trông trọt, nước chăn nuôi, nước công kỹ nghệ… và khi nước cạn, dầu cho có đóng giếng phun, và ngay đến những miền có nhiều mưa, thì cũng chỉ nước phèn. Và nhận xét chung tai ương thiếu nước hôm nay xảy ra do “cái đập,” làm thay đổi khí hậu, thời tiết cho chí mạch ngầm… và nếu đóng giếng, thì nước lấy lên cũng là độ mặn như Mễ Tây Cơ và nhiều nơi khác khổ công mà không còn nước ngọt (fresh water).
     Xung quanh hoàn cầu, phẩm chất trung thực của hệ động vật với nước cũng bị đe dọa, liên hưởng tác động trong sinh hoạt con người. Nước ô nhiễm đã làm biến thể cư dân, diệt trừ ngư sinh, bùng phát thương mại, đấu tranh nguồn nước, và làm thay đổi khí hậu tạo cho địa cầu càng ngày càng bị hâm nóng! Còn đặt vấn đề bảo vệ môi trường an sinh thì những nhà soạn định chính sách (policy decision maker) mới chỉ mang mặc khái niệm công bình, và đặt căn cứ tư tưởng trên nhân quyền để bảo vệ… chớ chưa giải quyết trọn vấn đề của con người toàn vẹn trong môi trường lành mạnh đúng thực (It brings everyone to the level of shared depend on an intact, health evironment), như theo sinh thức “đồng bào” của chúng ta.
 
4. Số Lượng Hao Cạn
 
Như trên vừa nói, chìa khóa tâm tư mở cửa lòng con người hôm nay của toàn thể nhân loại chưa có, vì còn qúa mới mẻ với nhu cầu nước, và chính sách phát nước toàn cầu. Theo tài liệu của nhóm nghiên cứu ngư sinh Hoa Kỳ (American Fisheries Society) thì lượng nước ẩm trong đất bị tiêu hao từ thời lập quốc ở những năm 1780 đến 1980, trung bình mất 24 mẫu mỗi giờ (The amounted of wetlands lost between the 1780s and 1980s averaged more than 24 hectares – 60 acres – an hour for every hour of those 200 years).
    Đó là bằng chứng cụ thể trong việc dùng nhiều thì hết cạn!
    Đang khi nước cạn thì đất canh tác bị chai (soil degradation). Đất nước bị ô nhiễm (pollution) bởi con người khai thác khoáng mỏ, lâm sản, vùng chăn nuôi gia súc, kỹ nghệ, thành thị… Tác hại nhất là đất canh nông sa thải độc tố vào nguồn nước như organochlorines, DDT, toxic chemicals… nước không tinh khiết, và các dân hạ nguồn lãnh đủ mọi độc hại. Hơn nữa, những biến chứng do nguồn nước ô nhiễm gây ra như gia súc chăn nuôi lây nhiễm H5N1, Corona Virus Vũ Hán từ chim trời, động vật, con người… Tất cả thành mối lo cho dân tộc Việt chúng ta sống ở hạ nguồn.
    Công cuộc đấu tranh cho an sinh của người Việt được ghi nhận là mục tiêu nước, nguyên tố nước. Nghiên cứu tài liệu nông ngư Việt Nam chúng ta thấy rằng các chính sách việc nước thì nhà cầm quyền Hà Nội không có khả năng giải quyết. Vì họ thiếu cái nhìn tổng hợp chính trị toàn cầu, những nguyên tắc góp phần an ninh sống chung, trật tự thế giới mới (collective security, new world order) trong một thể chế dân chủ đa đảng, đặc biệt sau thời kỳ chiến tranh lạnh (post cold war) những suy tư và khám phá mới mang tính chất đúng đắn, nguyên tắc giải quyết trên căn bản của con người toàn vẹn và đúng thực.
    Bất hạnh thay! Người Cộng sản tới nay mà họ vẫn còn say sưa với những quan niệm lạc hậu của châu Âu Westphalia: quân bình quyền lực, độc lập, tự do… chủ quyền (sovereign), dân tộc tự quyết (self-determination for people), quốc gia, dân tộc, văn hóa, tôn giáo… từ năm 1648 mệnh danh “Chistendom,” là tư tưởng cực đoan của Thời Đại Nông Nghiệp (Agricutural Age), để mà Hà Nội ngày nay đem ra so đo kèn cựa. Với quan niệm chính trị lạc hậu cũ kỹ ấy của Thời Đại Nông Nghiệp (Agricultural Age), theo Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Boutro Ghali, đó chỉ là đại họa chiến tranh, gây phiền toái cho nhân loại trên bước đường xây dựng và phát huy tinh hoa cuộc sống tốt đẹp (Xem Paths to Peace, 1992). Ông Ghali cũng tuyên bố rằng, “Cánh cửa Liên Hiệp Quốc còn rộng mở, chưa đóng,” và ông nhắn nhủ các tổ chức nên đặt yêu sách nước (claimed state) chớ đừng có “nước cha” (claimed statehood). Từ đó, chúng ta hiểu lời ông để góp phần vào công cuộc thực thi “việc nước” trong tiến trình đấu tranh cho an sinh của dân tộc Việt Nam.
    Cũng theo tài liệu Liên Hiệp Quốc, chúng ta biết rằng có hơn 4000 yêu sách lập nước, lập chính phủ, hay quan sát viên, trong đó chẳng phải chỉ có 184 nước và những tổ chức không nước (non-state organization) hay phi chính quyền (non-government organization), mà còn có nhiều những tổ chức khác.
 
IV. Kết Luận
 
Tóm lại, nước (water, state) là nhu cầu cấp thiết của đồng bào chúng ta cũng như mục tiêu chung của loài người đang sống (universal long-range objectives). Từ khởi điểm mất nước đó qua hành trình sáng tạo “dựng nước,” chúng ta có thể đặt ra yêu sách một Nước Việt Nam (The Vietnam State) trước cộng đồng nhân loại để thành hình một tổ chức chính danh – chớ không phải là thành lập một chính phủ lưu vong – dầu là phi chính phủ (non-government) nhưng tổ chức này có thể làm quan sát viên để tranh đấu cho quyền sống của dân tộc Việt Nam.
    Xin Giúp Dân Cứu Nước!

 

– Phạm Văn Bản

Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin. Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe. Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Tư tưởng gia người Mỹ George Santayana (1863-1952) đã từng viết trong tác phẩm “The Life of Reason: Reason in Common Sense” được xuất bản năm 1905 rằng, “Những ai không thể nhớ quá khứ thì bị buộc phải lập lại nó.” Có lẽ ý của ông Santayana là nếu ai không học được những bài học của quá khứ thì sẽ phải tiếp tục dẫm lên vết xe đổ. Một con người đánh mất quá khứ tức là mất đi ký ức thì sẽ không nhận biết mình là ai, do đó cũng sẽ không biết mình phải làm gì để xây dựng tương lai. Tương tự như vậy, một dân tộc đánh mất quá khứ lịch sử thì dân tộc đó sẽ không có tương lai. Quá khứ dù có xấu xa cỡ nào thì cũng là những gì mà chính con người hay một dân tộc đã từng làm. Trên thế gian này không một ai và không một dân tộc nào đã không từng một lần phạm phải sai lầm. Nhưng những sai lầm đó trong một ý nghĩa nào đó chính là những điều quý giá mà một con người hay một dân tộc có thể rút ra được bài học để có thể không tái phạm và làm điều tốt đẹp hơn ở hiện tại và tương lai.
Giữa khoảng không mênh mông của vũ trụ, Trái Đất hiện lên như một phép màu xanh thẳm. Hành tinh ấy có nước trong lành, bầu khí quyển dịu dàng, đất đai màu mỡ, rừng núi, sông hồ, biển cả và muôn loài cùng chung sống. Con người sinh ra, lớn lên trong vòng tay bao dung của thiên nhiên, uống từng giọt nước, hít từng hơi thở, bước đi trên mặt đất và được nuôi dưỡng bằng phù sa, nắng gió. Vậy mà, đáng buồn thay, chính loài người — đứa con được cưu mang nhiều nhất — lại đang từng ngày làm tổn thương người mẹ đã nuôi mình.
Các khoa học gia tại Đại học New York theo dõi hoạt động não của 23 người thông thạo cả Anh ngữ lẫn Tây Ban Nha. Họ nhận thấy những mẫu hoạt động thần kinh gần như giống nhau khi người tham dự biến một danh từ từ số ít sang số nhiều trong cả hai thứ tiếng. Phát hiện này cho thấy não không nhất thiết phải dựng nên một hệ thống ngữ pháp riêng cho từng ngôn ngữ. Thay vào đó, nó có thể dùng chung một cơ chế căn bản, rồi điều chỉnh cơ chế ấy theo quy tắc của mỗi tiếng.
Một cuộc thăm dò mới của CNN do SSRS thực hiện cho thấy tỷ lệ ủng hộ chung đối với Tổng thống Donald Trump đã sụt giảm mạnh xuống còn 34%, ngang bằng mức thấp nhất trong sự nghiệp của ông. Ngoài ra, con số kỷ lục 73% người trưởng thành tại Mỹ cho rằng ông chưa dành đủ sự quan tâm cho những vấn đề quan trọng nhất của đất nước. Cuộc thăm dò, được thực hiện từ ngày 23 đến 27 tháng 7 năm 2026, cho thấy sự bất mãn lan rộng trên nhiều nhóm nhân khẩu học và các vấn đề khác nhau. Cử tri da trắng đóng vai trò then chốt trong thành công chính trị của ông Trump suốt hơn một thập kỷ qua. Theo truyền thống, Trump thường đạt kết quả tốt hơn nhiều trong nhóm cử tri da trắng so với toàn thể cử tri. Mức độ ủng hộ của nhóm này cũng đã giảm đáng kể trước thềm cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ năm 2026. Tỷ lệ ủng hộ ròng của ông Trump—được tính bằng cách lấy tỷ lệ ủng hộ trừ đi tỷ lệ không ủng hộ—trong nhóm cử tri da trắng đang ở mức âm 20, mức thấp nhất từng được ghi nhận.
Con người từ thuở hồng hoang đã không chỉ sống bằng điều mình biết. Người mẹ sinh con chưa biết đứa trẻ mai này sẽ ra sao. Người gieo hạt chưa lường được kết quả vụ mùa. Kẻ xuống thuyền vượt biển không thấy được bờ bến. Người ta vẫn cắm cúi đi. Không vì cái biết, mà vì lòng tin. Biết thuộc về ánh sáng, tin thường khởi sự nơi tối tăm. Tin một điều có nghĩa là chấp nhận điều ấy có thật. Tin một người là trao vào tay người ấy một phần sinh mệnh của chính mình. Tin một lý tưởng là lấy đó làm lẽ sống, làm phương hướng.
Vào những năm 1520, 1530, có một người tên Esteban de Dorantes, người đời quen gọi là Estevanico, đã một mình băng qua sa mạc mênh mông của vùng đất nay là Texas, New Mexico và Arizona — trước khi người Anh dựng nên Jamestown năm 1607 gần một thế kỷ, và trước khi đoàn di dân Pilgrim đặt chân lên Plymouth năm 1620 tròn một trăm năm. Ông sinh ra ở Azemmour, một thị trấn ven Đại Tây Dương của Ma Rốc, bị bắt làm nô lệ, đưa sang Tây Ban Nha rồi vượt biển sang Tân Thế Giới. Trong một chuyến viễn chinh bi thảm khiến gần như cả đoàn bỏ mạng, Estevanico là một trong số ít người sống sót. Ông học được nhiều thứ tiếng bản địa và trở thành một trong những người đầu tiên của "Old World" đặt chân xuyên suốt miền nam nội địa của nước Mỹ sau này.
Trung Quốc coi thương mại là một trong những thành tựu nổi bật của Cơ chế Hợp tác Lancang – Mekong (LMC), với tổng kim ngạch giữa Trung Quốc và năm quốc gia hạ nguồn đạt khoảng 500 tỷ USD trong năm 2025. Tuy nhiên, đằng sau con số ấn tượng đó là một thực tế đáng lo ngại: Lợi ích từ thương mại không được phân bổ đồng đều. Chỉ trong năm 2025, Việt Nam đã ghi nhận mức thâm hụt thương mại với Trung Quốc lên tới 115,6 tỷ USD, trong khi Campuchia và Thái Lan cũng chịu mức nhập siêu rất lớn.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.