Hôm nay,  

Thiếu nước

29/04/202408:04:00(Xem: 7395)
Biên khảo

water

Đất nước là nhu cầu sống thực của con người. Đất dụng canh, nước sinh cư tạo lương thực nuôi con người trong hệ hoàn vũ. Theo công kỹ nghệ gia tổng kết thì ngành nông nghiệp trên thế giới ngày nay đang tiêu thụ với tỷ lệ 65% số lượng nước, công nghiệp chi dụng 25%, và gia cư hao tốn 10%, cùng với số lượng nước hao cạn hàng giờ trong mỗi ngày trên toàn cầu, khi nhiệt độ và thời tiết tăng trưởng.
    Bởi thế nước đã là nước, là nước hằng sống, là vì nước (state) hay nước (water). Không vì dân vì nước thì con người chết đói chết khát, cuộc đời mất nước, thiếu nước, khát nước và thèm nước!
 
I. Thủy Triều Nước Mặn
 
Nhìn lại thập niên trước, khi chính quyền Mễ Tây Cơ phải làm đơn vay nước (water loan) Sông Rio Grande của Hoa Kỳ với số lượng 2.8 triệu khối, đã làm dư luận quốc tế bàn tán xôn xao. Nguyên nhân, vùng Bắc Mễ gặp hạn hán trong suốt ba năm liền và tạo cho đồng bằng sông ngòi kênh rạch cạn nước.
    Thiếu nước đã làm cho chăn nuôi, trồng trọt và mùa màng cũng như lâm ngư của Mễ Tây Cơ bị hủy diệt. Khi nước sông cạn thì nước biển lại tràn vào, và thủy triều nước mặn sẽ tiêu diệt toàn bộ nông sản và ngư sản nước ngọt (fresh water).
    Dân chúng lầm than cơ cực, bịnh hoạn nghèo đói trong cảnh sống với nước phèn, chờ mưa. Theo chương trình ngư nghiệp của Hiệp Ước 1944, Mễ ký kết với Mỹ để được dùng 5% lượng nước sông Rio Grande, đã kiểm soát bởi hệ thống đập thủy điện thủy lợi (hydro dam) ở thượng nguồn Tiểu Bang Texas. Đành rằng vay nước thì trả bằng nông phẩm hoa màu. Nhưng sự kiện mượn nước cũng làm cho chính phủ Hoa Kỳ lo ngại, vì thiếu nước cũng ảnh hưởng tới nông dân Texas.
    Trên thế giới ngày nay có hơn 210 con sông lớn, được xây đập thủy điện thủy lợi trong vài thập niên qua, ít nhất đã có từ 35 năm. Thực tế, các nước thượng nguồn (up-stream) trở nên thịnh vượng chăn nuôi trồng trọt, lương thực dồi dào và có thêm ưu thế quân sự hóa “cái đập” cầm quyền phát nước, trị nước (water control) hạ nguồn (down-stream), là dân cam cảnh nô lệ. Dân hạ nguồn thì đương nhiên phải chịu hưởng giòng ô uế (contaminated water) do những hóa chất độc hại organochlorines, DDT, toxic chemicals… từ phân bón hay thuốc trừ sâu của xứ nông nghiệp thượng nguồn thải ra và đổ xuống giòng sông.
    Theo tài liệu Tổ Chức Lương Nông Thế Giới (The U.N. Food and Agriculture Organization), Liên Hiệp Quốc 1996, với những phát minh tiến bộ khoa học công nghệ như khám phá ra hạt giống mới, phân bón, thuốc trừ sâu, hay hệ thống phun tưới… làm gia tăng sản lượng lương thực, tạo gía thành ngũ cốc giảm hạ, tỷ lệ chết đói của nhân loại xuống thấp. Bình quân khẩu phần lương thực cho mỗi đầu người là 300 kilograms.
    Nhưng điều kiện chưa đủ, chưa phải là niềm hạnh phúc cho nhân loại hôm nay, vì vấn nạn khan hiếm nước đang đe dọa toàn cầu. Mất nước, thiếu nước, khát nước, thèm nước dẫn tới tình trạng khủng hoảng an sinh, yếu kém sức dân, bất an xã hội, biến loạn chính trị, đó là nguyên nhân gây ra chiến tranh.
 
II. Nguyên Nhân Chiến Tranh
 
Nhân loại xưa nay xảy ra chiến tranh tàn sát, tiêu diệt lẫn nhau cũng bởi khát nước, thèm nước, mất nước. Điển hình Cuộc Chiến Sáu Ngày (Six Day War) của Do Thái vào năm 1967, vì cảm nhận nguy cơ thiếu nước, đang khi Syrian phong tỏa giòng Sông Banias một trong ba nhánh của Jordan. Do Thái phải lập tức đánh chiếm hai vùng nước chiến lược, hồ mạch ngầm West Bank và cao nguyên Golan Heights là thượng nguồn chảy xuống đập Jordanian, trước khi đổ ra hai nhánh Yarmouk và Banias.
    Để có thêm bằng chứng về “chiến tranh vì nước,” người viết xin trích dẫn lời tuyên bố của thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Syleyman Demired trả lời yêu sách khi chia nguồn Euphrates Water với Syrian trước Liên Hiệp Quốc năm 1992, “Chúng tôi không nói chúng tôi chia nguồn dầu hỏa của họ. Thì họ cũng đừng nói muốn chia nguồn nước của chúng tôi (We do not say we should share their oil resources. They cannot say they should share our water resources).” Đó là nước hằng sống, nước vĩnh cửu, và con người không nước thì chết.
 
III. Đồng Bằng Hạ Nguồn
 
Nhìn về quê hương Việt Nam, có thể vì sự di chuyển thuận lợi cho việc định canh định cư trong vùng đồng bằng hạ nguồn của tổ tiên chúng ta ngày trước, như châu thổ Sông Hồng, Đồng Nai, Cửu Long… như điều kiện thiên nhiên cho phép! Nhưng thời đại ngày nay, các xứ nông nghiệp hạ nguồn lâm nạn!
    Trở thành nghèo nàn lạc hậu vì “bị nô lệ” bởi cái đập thượng nguồn. Đang khi quốc tế chưa thể hiện được một chính sách phát nước khả dĩ cân xứng, hòa đồng theo nhu cầu và tiến trình sống chung của nhân loại.
 
1. Nạn Nước Việt Nam
 
Nạn Nước Việt Nam ngày nay. Chứng cớ cụ thể là trường hợp đập Pak Mun, thuộc loại thủy điện thủy lợi cỡ lớn (hydro dam) thượng nguồn Cửu Long (Mekong River) miền Đông Bắc Thái Lan, khánh thành sau thập niên 90 do công ty EGAT (Electricity Generating Authority of Thailand) và Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) tài trợ.
    Và cũng trên lưu lượng thượng nguồn này còn có cả một hệ thống thủy đập của Trung Quốc, của Miến Điện chảy xuống thủy đập của Ai Lao, của Cao Miên… thành ra một giòng với bấy nhiêu cái đập… thì nguồn nước trở thành ô uế (contaminated water), với độc chất sa thải từ các vùng kỹ-nông-lâm-ngư nghiệp chảy xuống Sông Tiền Sông Hậu của Đồng Bằng Cửu Long miền Nam Việt Nam, và trở thành Nguồn nước ô nhiễm! Toàn dân sẽ mắc bệnh ung thư!
 
2. Nguồn Nước Ô Nhiễm
 
Hỡi ơi, mất nước, thiếu nước (fresh water) đang trở thành mối đe dọa, không những chỉ là nước canh tác, mà còn là an sinh của đồng bào ta đang sống trong môi trường hạ nguồn!
    Miền Bắc thì cũng bị mất nước. Trung Quốc vốn sẵn mộng làm quan thái thú đô hộ dân ta ngàn xưa, thì ngày nay Giặc Tàu lại có ưu thế “cái đập,” nhằm mục đích trị nước mang tên “The Three Gorges Dam” từ mãi tận thượng nguồn Sông Hồng (Yangtze River).
     Việt Nam khó mà thoát ách nô lệ quân Tàu! Thiếu nước thì đi vay (water loan), vay mượn thì thành con nợ và trả nợ chồng chất ngập đầu. Vay tiền (money loan) thì trả lãi, và có lẽ còn dễ trả hơn là nợ nước.
 
3. Đi Vay Mượn Nước
 
Nợ nước thì trả bằng nông phẩm, và cả một dân tộc thành con nợ, và trả nợ chẳng khi nào trả cạn! Trường hợp vay nước và trả nợ của Mễ Tây Cơ nói trên đã là một dẫn chứng điển hình cho chúng ta. Chủ nợ Trung Quốc so với Hoa Kỳ còn độc địa và nghiệt ngã bao vạn lần!
     Cũng theo tài liệu Liên Hiệp Quốc, thế giới có hơn 38,000 thủy đập, và riêng Trung Quốc chiếm hơn nửa số thủy đập đó. Chúng ta thấy ngay cái cảnh thiếu nước và bao nỗi khó khăn trong việc giữ nước của đồng bào quê hương mình.
     Việc “giữ nước” lại cần phải có sức dân sức nước, tức kết hợp toàn dân toàn diện trong một khối hơn 100 triệu người trong nước và hải ngoại và có hồn dân hồn nước để giữ nước... thì mới có toàn dân vi binh, toàn địa vi phòng, toàn tài vi dụng, toàn quốc vi chính! Từ những vấn đề như vay nước, lọc nước, dùng nước… nước uống cho chí nước tiêu dùng trong nông nghiệp, công nghiệp, tín nghiệp mới được ứng dụng theo tiêu chuẩn.
     Việt Nam là nước hạ nguồn, bị nô lệ bởi thiên nhiên là lẽ tất nhiên. Nhưng việc giữ nước lại do khả năng con người qua những chính sách sáng tạo để ứng dụng, chớ không chỉ dành giật hay cướp đoạt chính quyền như bao người lầm tưởng, mà bỏ quên cái đập nước!
     Có lẽ từ ngày ông Hồ và đảng của ông cầm quyền tới nay qua thời gian gần thế kỷ, chúng ta chưa thấy bao giờ họ tiên liệu về mục tiêu nước, hay yếu tố nước… Ngược lại, họ căn cứ vào bạo lực làm cứu cánh nhằm giải quyết chuyện nước non.
     Thiếu nước thì phài vay nước. Nợ nước thì phải trả bằng nông sản. Cho nên sau khi thâu hoạch hàng vụ Hà Nội đành ngậm bồ hòn “của xứ hạ nguồn” mà phải đội lúa gạo ngô khoai sang triều cống quan thày Bắc Kinh để trả nợ nước. Đương nhiên, Hà Nội cũng chỉ được hưởng gía thành rẻ mạt trong việc Bắc Kinh trả lại bằng phân bón, hay thuốc trừ sâu “thiếu chất lượng” do biến chế với kỹ thuật thô sơ.
     Đã một thời (1995) Hà Nội khoe khoang với Liên Hiệp Quốc sản xuất nhiều lương thực, đứng hạng thứ tư về tài trợ cho nhân dân Trung Quốc. Họ vừa lòe bịp dư luận thế giới lại vừa làm cho đồng bào ta ăn đói triền miên (xem State of World 1996 của nhóm World Watch Institute Report).
     Nước là nhu cầu sinh thái (ecosystem) của thực vật, động vật và con người. Nước là tác động chung phần (collective security) trong môi trường an sinh. Nước dùng nhiều ắt cạn.
     Nông nghiệp là ngành tiêu thụ nhiều nước nhất, nước canh tác, nước trông trọt, nước chăn nuôi, nước công kỹ nghệ… và khi nước cạn, dầu cho có đóng giếng phun, và ngay đến những miền có nhiều mưa, thì cũng chỉ nước phèn. Và nhận xét chung tai ương thiếu nước hôm nay xảy ra do “cái đập,” làm thay đổi khí hậu, thời tiết cho chí mạch ngầm… và nếu đóng giếng, thì nước lấy lên cũng là độ mặn như Mễ Tây Cơ và nhiều nơi khác khổ công mà không còn nước ngọt (fresh water).
     Xung quanh hoàn cầu, phẩm chất trung thực của hệ động vật với nước cũng bị đe dọa, liên hưởng tác động trong sinh hoạt con người. Nước ô nhiễm đã làm biến thể cư dân, diệt trừ ngư sinh, bùng phát thương mại, đấu tranh nguồn nước, và làm thay đổi khí hậu tạo cho địa cầu càng ngày càng bị hâm nóng! Còn đặt vấn đề bảo vệ môi trường an sinh thì những nhà soạn định chính sách (policy decision maker) mới chỉ mang mặc khái niệm công bình, và đặt căn cứ tư tưởng trên nhân quyền để bảo vệ… chớ chưa giải quyết trọn vấn đề của con người toàn vẹn trong môi trường lành mạnh đúng thực (It brings everyone to the level of shared depend on an intact, health evironment), như theo sinh thức “đồng bào” của chúng ta.
 
4. Số Lượng Hao Cạn
 
Như trên vừa nói, chìa khóa tâm tư mở cửa lòng con người hôm nay của toàn thể nhân loại chưa có, vì còn qúa mới mẻ với nhu cầu nước, và chính sách phát nước toàn cầu. Theo tài liệu của nhóm nghiên cứu ngư sinh Hoa Kỳ (American Fisheries Society) thì lượng nước ẩm trong đất bị tiêu hao từ thời lập quốc ở những năm 1780 đến 1980, trung bình mất 24 mẫu mỗi giờ (The amounted of wetlands lost between the 1780s and 1980s averaged more than 24 hectares – 60 acres – an hour for every hour of those 200 years).
    Đó là bằng chứng cụ thể trong việc dùng nhiều thì hết cạn!
    Đang khi nước cạn thì đất canh tác bị chai (soil degradation). Đất nước bị ô nhiễm (pollution) bởi con người khai thác khoáng mỏ, lâm sản, vùng chăn nuôi gia súc, kỹ nghệ, thành thị… Tác hại nhất là đất canh nông sa thải độc tố vào nguồn nước như organochlorines, DDT, toxic chemicals… nước không tinh khiết, và các dân hạ nguồn lãnh đủ mọi độc hại. Hơn nữa, những biến chứng do nguồn nước ô nhiễm gây ra như gia súc chăn nuôi lây nhiễm H5N1, Corona Virus Vũ Hán từ chim trời, động vật, con người… Tất cả thành mối lo cho dân tộc Việt chúng ta sống ở hạ nguồn.
    Công cuộc đấu tranh cho an sinh của người Việt được ghi nhận là mục tiêu nước, nguyên tố nước. Nghiên cứu tài liệu nông ngư Việt Nam chúng ta thấy rằng các chính sách việc nước thì nhà cầm quyền Hà Nội không có khả năng giải quyết. Vì họ thiếu cái nhìn tổng hợp chính trị toàn cầu, những nguyên tắc góp phần an ninh sống chung, trật tự thế giới mới (collective security, new world order) trong một thể chế dân chủ đa đảng, đặc biệt sau thời kỳ chiến tranh lạnh (post cold war) những suy tư và khám phá mới mang tính chất đúng đắn, nguyên tắc giải quyết trên căn bản của con người toàn vẹn và đúng thực.
    Bất hạnh thay! Người Cộng sản tới nay mà họ vẫn còn say sưa với những quan niệm lạc hậu của châu Âu Westphalia: quân bình quyền lực, độc lập, tự do… chủ quyền (sovereign), dân tộc tự quyết (self-determination for people), quốc gia, dân tộc, văn hóa, tôn giáo… từ năm 1648 mệnh danh “Chistendom,” là tư tưởng cực đoan của Thời Đại Nông Nghiệp (Agricutural Age), để mà Hà Nội ngày nay đem ra so đo kèn cựa. Với quan niệm chính trị lạc hậu cũ kỹ ấy của Thời Đại Nông Nghiệp (Agricultural Age), theo Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc Boutro Ghali, đó chỉ là đại họa chiến tranh, gây phiền toái cho nhân loại trên bước đường xây dựng và phát huy tinh hoa cuộc sống tốt đẹp (Xem Paths to Peace, 1992). Ông Ghali cũng tuyên bố rằng, “Cánh cửa Liên Hiệp Quốc còn rộng mở, chưa đóng,” và ông nhắn nhủ các tổ chức nên đặt yêu sách nước (claimed state) chớ đừng có “nước cha” (claimed statehood). Từ đó, chúng ta hiểu lời ông để góp phần vào công cuộc thực thi “việc nước” trong tiến trình đấu tranh cho an sinh của dân tộc Việt Nam.
    Cũng theo tài liệu Liên Hiệp Quốc, chúng ta biết rằng có hơn 4000 yêu sách lập nước, lập chính phủ, hay quan sát viên, trong đó chẳng phải chỉ có 184 nước và những tổ chức không nước (non-state organization) hay phi chính quyền (non-government organization), mà còn có nhiều những tổ chức khác.
 
IV. Kết Luận
 
Tóm lại, nước (water, state) là nhu cầu cấp thiết của đồng bào chúng ta cũng như mục tiêu chung của loài người đang sống (universal long-range objectives). Từ khởi điểm mất nước đó qua hành trình sáng tạo “dựng nước,” chúng ta có thể đặt ra yêu sách một Nước Việt Nam (The Vietnam State) trước cộng đồng nhân loại để thành hình một tổ chức chính danh – chớ không phải là thành lập một chính phủ lưu vong – dầu là phi chính phủ (non-government) nhưng tổ chức này có thể làm quan sát viên để tranh đấu cho quyền sống của dân tộc Việt Nam.
    Xin Giúp Dân Cứu Nước!

 

– Phạm Văn Bản

Mỗi độ tháng Sáu, sự chú ý của công luận Hoa Kỳ lại dồn về Tối cao Pháp viện, khi cơ quan này lần lượt công bố những phán quyết có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Nhưng ít ai biết rằng trước khi một phán quyết được đăng tải trên các trang nhất các tờ nhật báo, nó đã được hình thành qua một tiến trình pháp lý chặt chẽ và phần lớn diễn ra sau cánh cửa kín. Tiến trình ấy gồm nhiều giai đoạn: từ việc chọn lọc đơn kiện, hội nghị nội bộ, nộp bản luận cứ, khẩu luận, cho đến khi ban hành ý kiến chính thức của tòa. Theo các học giả luật hiến pháp, muốn hiểu cách cơ quan tư pháp cao nhất nước Mỹ định hình chính sách, cần nhìn vào chính guồng máy vận hành kín đáo nhưng nghiêm ngặt này — nơi các tranh chấp văn hóa và chính trị lớn được cân nhắc và định đoạt.
UAV thời nay được gọi là phương tiện điều khiển không người lái, hay còn được gọi là vũ khí điều khiển từ xa. Thực ra, UAV không phải là loại vũ khí mới mẻ gì, nó đã được chế tạo vào năm 1918 bởi hãng Dayton-Wright Airplane Company tại Hoa Kỳ vào cuối Thế Chiến thứ I, với cái tên là Kettering Bug. Ngày nay, UAV được chế tạo tối tân hơn, và sử dụng rộng rãi, thành công, tỏ ra rất hiệu quả trên chiến trường. Vũ khí UAV bây giờ không chỉ tàn phá, san bằng những tòa cao ốc thành những đống gạch vụn, nó được chính con người tạo ra để giết con người. Tiếc thay, ngày nay, thế giới vẫn chưa học được cách ngừng làm tổn thương nhau và vẫn chạy đua vũ trang để tiêu diệt lẫn nhau.
Chiều ngày 21 tháng 5 năm 1796, tại dinh tổng thống ở Philadelphia, George Washington và gia đình ngồi vào bàn ăn. Đó là một trong những bữa tối cuối cùng của họ trong thành phố, trước khi trở về Mount Vernon nghỉ hè. Bên ngoài nhịp sinh hoạt quen thuộc ấy, một người đàn bà trẻ đang chuẩn bị cho một cuộc ra đi không có đường trở lại. Tên bà là Ona Judge. Bà bị giữ trong thân phận nô lệ trong nhà Washington. Trong lúc gia đình vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ dùng bữa, Judge lặng lẽ bước ra khỏi dinh thự. Không trống, không kèn, không nhân chứng chính thức. Chỉ có một người đàn bà trẻ rời khỏi nơi giam giữ đời mình để đi về phía tự do.
Trong chính trị học, guồng máy chính quyền hay nhà nước dân chủ như quy định trong hiến pháp bao gồm 3 thực thể gọi là tam quyền phân lập: Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp.Vì tính tối cao của hiến pháp nên trách nhiệm bảo vệ hiến pháp là nền tảng không thế thiếu trong một nền dân chủ pháp trị chân chánh. Chính quyền vận hành theo trình tự được quy định trong hiến pháp và hiến pháp này luôn được bảo vệ bởi một định chế độc lập, giám sát sự vận hành của lập pháp và hành pháp. Định chế độc lập này thông thường là một Tối Cao Pháp Viện, đứng đầu ngành Tư Pháp.
Một khuynh hướng khinh ghét phụ nữ đang dần trở thành sợi dây liên kết quan trọng trong giới bảo thủ tại Hoa Kỳ. Mục sư Douglas Wilson gần đây đưa ra một “đề nghị khiêm tốn”: hủy bỏ Tu chính án 19, tức điều khoản Hiến pháp bảo đảm quyền đi bầu của phụ nữ. Theo ông, đời sống chính trị nên tổ chức như trong giáo hội, nghĩa là mỗi gia đình chỉ có một lá phiếu. Wilson là người đồng sáng lập một hệ phái Tin Lành cải cách đặt trụ sở tại Moscow, tiểu bang Idaho. Trong gần nửa thế kỷ, ông gây dựng tại đây một mạng lưới gồm nhà xuất bản, trường học, đại học và truyền thông, cùng cổ võ một quan niệm xã hội đặt nền trên thần quyền. Giáo phái của ông có khoảng 170 nhà thờ. Bộ trưởng Quốc phòng hiện nay, ông Pete Hegseth, là một tín đồ, và hồi tháng Hai vừa qua, chính Wilson được mời đến chủ lễ cầu nguyện tại Ngũ Giác Đài. Vì vậy, khi ông nói đến việc tước quyền bầu cử của một nửa dân số, không phải là không có người lắng nghe.
Bạn có thể viết một ca khúc có câu chuyện hay nhất thế giới, một giai điệu đẹp nhất bạn từng nghĩ ra, một câu “móc” đắt giá, nhưng nếu bạn đặt chúng vào sai cấu trúc, bài hát của bạn vẫn sẽ thất bại, vì nó trở thành xa khúc. Người nghe sẽ bỏ đi giữa chừng mà không hiểu tại sao họ thấy chán, và bạn cũng sẽ không hiểu tại sao tác phẩm tâm huyết của mình không chạm được ai.
Cuộc bầu cử sơ bộ ở California sẽ góp phần định hình tương lai bang đông dân nhất nước Mỹ trong nhiều năm tới. Đảng Dân chủ cầm quyền đứng trước một bước ngoặt, trong khi dân chúng vẫn xoay xở với đời sống đắt đỏ, lo các đợt truy quét di dân và thiên tai do biến đổi khí hậu. Dù vậy, nhiều người vẫn chưa mấy quan tâm đến các cuộc đua ảnh hưởng trực tiếp đời sống của họ, nhất là ghế thống đốc. Tuần này, tình hình có thể đổi khác, khi diễn ra hai cuộc tranh luận truyền hình liên tiếp giữa các ứng viên thống đốc, bắt đầu với chương trình trên CNN lúc 6 giờ chiều thứ Ba, giờ California. Các cuộc tranh luận diễn ra đúng lúc lá phiếu đã được gởi đến đa số cử tri, để họ có thể bỏ sớm trước ngày 2 tháng 6.
Sau nhiều dự án lãng phí vì không đạt được mục đích mà còn gây thiệt hại nặng nề cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau hoàn toàn thất bại, dự án cống đập Ba Lai gây rối loạn toàn bộ hệ sinh thái, dự án thoát lũ ra biển Tây cắt mất lũ tự nhiên, nguồn phù sa dinh dưỡng và gây ra sạt lở và sụt lún. Dự án cống đập Cái Lớn Cái Bé có hiệu quả ngăn mặn ngắn hạn, nhưng làm ngọt mặn xáo trộn không đồng bộ với nhu cầu của đồng bằng. Vì thế công trình lớn nào đưa ra bây giờ đều cần phải cân nhắc tránh rủi ro, nhất là những rủi ro có thể thấy trước phải tránh né ngay từ đầu, hay phải có biện pháp giảm thiểu tối đa
Theo Scott Kurashige, viết trên University of California Press ngày 16 tháng 3, 2026, bạo lực chống người Á châu tại Mỹ không phải những cơn bùng phát rời rạc, mà là hậu quả của một lịch sử kỳ thị lâu dài bị phủ nhận, bị làm nhẹ, và nhiều lần bị xoá khỏi ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh chính trị hôm nay, bài viết nhắc rằng muốn hiểu đúng làn sóng thù ghét hiện nay, trước hết phải nhìn thẳng vào phần lịch sử mà nước Mỹ lâu nay tránh đề cập tới.
Giá dầu thế giới tiếp tục leo thang trong khi hỏa tiễn và máy bay không người lái của Iran liên tiếp đánh vào các cơ sở hạ tầng trọng yếu ở các nước Ả Rập vùng Vịnh. Cùng lúc, nhiều trận tập kích nhắm thẳng vào những trạm radar trị giá hàng tỉ đô la của Mỹ tại Trung Đông, khiến không ít trạm bị đánh hư hoặc phá hủy và làm dấy lên câu hỏi: lá chắn phòng thủ của Washington trong khu vực đã suy yếu đến mức nào. Mỹ hiện duy trì một vành đai căn cứ quanh Iran, với hàng chục điểm đồn trú và hàng chục nghìn binh sĩ nằm trong tầm bắn. Từ đó nảy sinh một thắc mắc rất cụ thể: nếu một quả hỏa tiễn được phóng từ lãnh thổ Iran nhằm vào một căn cứ Mỹ, làm sao sĩ quan và binh lính tại chỗ có đủ thời gian để chui vào hầm, tản quân và chuẩn bị đánh chặn?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.