Hôm nay,  

Nhớ Charlie Charplin

26/09/202500:00:00(Xem: 1654)

Charlie-Chaplin
Trong cuốn tự truyện của mình, Chaplin dẫn lời của chính ông: “Người ta không cần phải là người Do Thái để chống Đức Quốc xã. Chỉ cần là một con người bình thường, tử tế là được.” (Ảnh: Việt Báo)
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai.

Từ nghèo khó đến giàu sang

Charles Spencer Chaplin sinh ngày 16/4/1889 tại London, Anh. Ông bước vào thế giới trong hoàn cảnh nghèo đói và bất ổn. Cha của ông, Charles Chaplin Sr., diễn viên nhạc kịch. Chứng nghiện rượu đã nhấn chìm sự nghiệp của ông, dẫn đến cái chết sớm khi Charlie mới 12 tuổi. Mẹ của ông, Hannah Chaplin, một nghệ sĩ nghệ danh Lily Harley, phải vật lộn với vấn đề về sức khỏe tâm thần. Cuối cùng, bà phải vào viện tâm thần. Chaplin và người em cùng cha khác mẹ là Sydney phải tự lo liệu cho bản thân. Ngày qua ngày, cuộc sống của họ trôi qua trong các trại tế bần hoặc trên đường phố. Chính những ngày tháng thiếu thốn này đã định hình nên thế giới quan của Chaplin, gieo vào ông lòng đồng cảm sâu sắc với những người yếu thế, cũng là điều sẽ trở thành dấu son trong các tác phẩm của ông sau này.

Chaplin bước vào thế giới giải trí rất tình cờ, qua các chương trình tạp kỹ, nơi hàng đêm ông ngồi ở hàng ghế khán giả xem mẹ của mình biểu diễn. Đó cũng là nơi Chaplin chứng kiến giây phút bà rơi khỏi ánh hào quang sân khấu. Đến năm 1910, ông đã lưu diễn khắp nước Mỹ cùng đoàn hài kịch của Fred Karno. Năm 1914, ông giới thiệu với thế giới nhân vật Tramp – biểu tượng bất tử của mình. Đây là nhân vật pha trộn giữa sự thương cảm và hài hước, giữa sự chân thật và khôn ranh, giữa một gã ngu ngơ và một tay “xỏ lá.” Charlie Chaplin cùng với Tramp bước lên đỉnh cao kỷ nguyên phim câm. Những bộ phim như The Kid (1921), The Gold Rush (1925) và City Lights (1931) đã xác định vị thế toàn cầu của Chaplin.

Trong “Charlie Chaplin: A Life” cho thấy quan điểm chính trị tiến bộ của Chaplin, gồm việc ủng hộ quyền lao động và phản đối chủ nghĩa phát xít, đã gây cho ông nhiều rắc rối trong thời kỳ Red Scare (‘Sợ Cộng Sản’.)

David Robinson, người viết tiểu sử Chaplin, trích dẫn một bài báo từ tờ The Spectator ngày 21/4/1939: “Có điều gì đó kỳ lạ trong sự giống nhau giữa Little Tramp và Adolf Hitler, đại diện cho hai thái cực đối lập của nhân loại.”

“Tạo hóa thật trớ trêu khi vào đúng tuần này năm mươi năm trước, Charlie Chaplin và Adolf Hitler được định sẵn sẽ chào đời chỉ cách nhau bốn ngày... Mỗi người, theo cách riêng của mình, đã thể hiện những ý tưởng, tình cảm, khát vọng của hàng triệu công dân đang vật lộn giữa hai tầng lớp xã hội. Mỗi ​​người đều phản ánh cùng một thực tế, tình cảnh của “một con người nhỏ bé” trong xã hội hiện đại. Mỗi người là một tấm gương méo mó, một bên là điều tốt, một bên là điều xấu xa không thể nói thành lời.”

Cuối những năm 1930, khi bóng tối của chủ nghĩa phát xít lan rộng khắp châu Âu, Charlie Chaplin đã sản xuất The Great Dictator, một phim hài táo bạo châm biếm Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã vào đúng thời điểm mà phần lớn thế giới vẫn còn e dè với sự thật.

‘The Great Dictator’

Cuốn phim là phản ứng thẳng thắn của Chaplin đối với sự trỗi dậy của Hitler. Một mình Chaplin diễn hai vai: anh thợ cắt tóc Do Thái nhỏ bé sống trong khu ổ chuột, và Hynkel, nhà độc tài cai trị Tomainia. Ông đã dành nhiều tháng trời để soạn thảo và viết lại bài phát biểu kết thúc phim, một lời kêu gọi hòa bình từ người thợ cắt tóc bị nhầm lẫn với Hynkel.

Đoạn độc thoại của anh thợ cắt tóc là điểm nhấn của cuốn phim dài hơn một giờ đồng hồ. Vẫn ánh mắt sâu như hút cả thế giới, bộ ria mép Hitler, anh thợ phát biểu hùng hồn:

“Xin lỗi, nhưng tôi không muốn làm hoàng đế. Đó không phải việc của tôi. Tôi không muốn cai trị hay chinh phục ai cả. Tôi muốn giúp đỡ tất cả mọi người, nếu có thể, Do Thái, Cơ đốc giáo, da đen, da trắng.Tất cả chúng ta đều muốn tương trợ nhau. Con người là như thế. Chúng ta muốn sống bằng hạnh phúc của nhau, chứ không phải bằng nỗi đau khổ của nhau. Chúng ta không muốn thù hận và khinh miệt lẫn nhau. Thế giới này là ngôi nhà của tất cả mọi người. Và sự màu mỡ phì nhiêu của trái đất có thể nuôi sống tất cả mọi người. Chúng ta có thể sống tự do và tươi đẹp, nhưng chúng ta đã lạc lối.
Lòng tham đã đầu độc tâm hồn con người, đã phong tỏa thế giới bằng lòng thù hận, đã đẩy chúng ta vào cảnh khốn cùng và đổ máu. Chúng ta đã phát triển như vũ bão, nhưng rốt cuộc chúng ta đã tự nhốt mình vào đó. Máy móc mang lại sự sung túc và đặt chúng ta vào sự mưu cầu. Kiến thức của chúng ta đã khiến chúng ta trở nên hoài nghi. Sự thông minh của chúng ta, cứng nhắc và tàn nhẫn. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều và cảm nhận quá ít. Chúng ta cần lòng nhân đạo hơn máy móc. Chúng ta cần lòng tốt và sự dịu dàng hơn sự thông minh. Nếu không có những phẩm chất này, cuộc sống sẽ trở nên bạo lực và tất cả sẽ tan vỡ…”

Trong hình hài và bộ quân phục của nhà độc tài Hynkel, anh thợ cắt tóc người Do Thái dõng dạc: “Hỡi các quân nhân! Đừng trao mình cho những kẻ tàn bạo – những người khinh miệt các bạn – xem các bạn là nô lệ – những kẻ kiểm soát cuộc sống của các bạn – ra lệnh cho các bạn phải làm gì, phải nghĩ gì và phải cảm thấy gì! Những kẻ nhào nặn các bạn – kiểm soát cả việc ăn uống của các bạn – đối xử với các bạn như súc vật, sử dụng các bạn như bia đỡ đạn. Đừng phó thác mình cho những kẻ trái với lẽ tự nhiên này – những người máy với trí óc máy móc và trái tim máy móc! Các bạn không phải là cỗ máy! Các bạn không phải là gia súc! Các bạn là con người! Các bạn có tình yêu thương nhân loại trong tim! Các bạn không thù hận! Chỉ những kẻ không được yêu thương mới thù hận – những kẻ không được yêu thương và ngược tự nhiên! Hỡi những quân nhân! Đừng đấu tranh cho chế độ nô lệ! Hãy đấu tranh cho tự do!”

Đây không khác gì là bản tuyên ngôn nhân văn của anh thợ cắt tóc, là lời kêu gọi mạnh mẽ chống lại chế độ chuyên chế, chỉ trích những kẻ độc tài đã tước đi nhân phẩm, tự do và biến con người thành công cụ cho lòng tham và sự thù hận của chúng. Bài phát biểu được phát sóng trên toàn thế giới, khơi dậy các phong trào kháng chiến, khiến Chaplin bị FBI đưa vào hồ sơ vì những “cảm tình viên cộng sản.”

Trong cuốn tự truyện của mình, Charplin cho biết ông bắt đầu nhận được những thông điệp đáng lo ngại từ United Artists. “Họ đã được cảnh báo... rằng tôi sẽ gặp rắc rối về kiểm duyệt. Ngoài ra, văn phòng Anh quốc cũng rất lo ngại về một bộ phim chống Hitler và nghi ngờ việc nó có thể trình chiếu ở Anh. Những lá thư đáng lo ngại hơn đến từ văn phòng New York, cầu xin tôi đừng làm bộ phim, tuyên bố rằng nó sẽ không bao giờ được trình chiếu ở Anh hay Mỹ.”

Nhưng Chaplin không lùi bước. Ông biết rằng The Great Dictator xứng đáng được thực hiện, và quả nhiên, nó đã thành công vang dội: trở thành bộ phim ăn khách thứ hai vào năm 1941 tại Mỹ. Tiếng nói của anh thợ cắt tóc vẫn vang vọng trong lịch sử hơn 80 năm sau:

“Nhân danh dân chủ – chúng ta hãy sử dụng sức mạnh đó – hãy cùng nhau đoàn kết. Hãy cùng nhau đấu tranh cho một thế giới mới, một thế giới tử tế, nơi con người có cơ hội làm việc, nơi tuổi trẻ có tương lai và tuổi già được bảo đảm. Bằng những lời hứa hẹn này, kẻ tàn ác đã lên nắm quyền. Nhưng chúng nói dối! Chúng không thực hiện lời hứa đó. Chúng sẽ không bao giờ làm được!

Những kẻ độc tài tự giải phóng mình nhưng lại nô dịch người dân! Giờ đây, chúng ta hãy cùng nhau đấu tranh để thực hiện lời hứa đó! Hãy cùng nhau đấu tranh để giải phóng thế giới – để xóa bỏ những rào cản quốc gia – để xóa bỏ lòng tham, hận thù, hãy khoan dung. Hãy cùng nhau đấu tranh cho một thế giới lý trí, một thế giới nơi khoa học và tiến bộ sẽ mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người. Hỡi những quân nhân! Nhân danh dân chủ, chúng ta hãy cùng nhau đoàn kết!”

Các hãng phim Hollywood vì lo sợ mất thị trường châu Âu, đã tránh xa những bộ phim chống Đức Quốc Xã. The Great Dictator nằm trong số đó. Chaplin tự bỏ vốn thông qua hãng phim United Artists của riêng mình, đầu tư hơn $1,5 triệu đô la (một gia tài vào thời điểm đó) và phải đối mặt với sự tẩy chay và đe dọa. Chính phủ Đức đã cấm hoàn toàn bộ phim, và ngay cả ở Anh.

Tiếng vọng 80 năm sau

Ngày nay, vào năm 2025, khi Mỹ đang vật lộn với các cuộc khủng hoảng về tự do ngôn luận và kiểm duyệt, kiệt tác của Chaplin như một lời tiên tri kỳ lạ.
Chế độ của nhà độc tài Hynkel (trong phim) được mô tả là nơi tuyên truyền lấn át sự thật, và bất đồng chính kiến ​​bị nghiền nát dưới những gót giày. Chaplin sử dụng hài kịch, tung hứng như vũ điệu của những quả bóng được căng đầy khí, để phơi bày bản chất độc ác của quyền lực. Sử gia Timothy Snyder từng viết về nghệ thuật của Charlie Charplin: “Tiếng cười làm suy yếu chủ nghĩa độc tài bằng cách phơi bày những tham vọng của nó. Trong phim, những lời lẽ hùng biện của Hynkel trở nên vô nghĩa, nhại lại bài diễn thuyết của Hitler và tước đi tính đe dọa của nó. Bằng cách khiến nhà độc tài trở nên buồn cười, Chaplin đã nhân cách hóa các nạn nhân và khích lệ khán giả từ bỏ chủ nghĩa phát xít.”

Sau hơn 80 năm, bối cảnh hài châm biến của nước Mỹ đang vọng lại những âm thanh của “The Great Dictator” nhưng với một nét hiện đại rõ rệt. Các nghệ sĩ hài, với quyền hiến định của Tu Chính Án Thứ Nhất, có thể nói lên sự thật mà không sợ hãi, giờ đây phải đối mặt với làm sóng kiểm duyệt từ nhiều phía. Nhà phân tích truyền thông của CNN Brian Stelter nói: “Nước Mỹ sẽ không còn tự do nếu các nghệ sĩ hài không được phép nói những gì họ muốn.”

Điều này gợi nhớ đến thời đại của Charlie Chaplin, khi các hãng phim tự kiểm duyệt để xoa dịu các nhà độc tài ngoại quốc, thì ngày nay, các đài truyền hình phải khuất phục trước những luồng gió chính trị trong nước để bảo vệ các vụ sáp nhập kinh doanh và giấy phép.

“The Great Dictator” bất tử còn vì chất châm biếm không e sợ bất kính trước độc tài. Bản tuyên ngôn nhân văn của anh thợ cắt tóc vang vọng đến hơn 80 năm sau, để cho thấy, xã hội bảo vệ quyền tự do ngôn luận bằng văn hóa, chứ không chỉ pháp lý. Tạp chí Reason đã cảnh báo, văn hóa tự do ngôn luận của nước Mỹ đang bị xói mòn từ bên trong. Bóp nghẹt tiếng cười, kiểm duyệt báo chí, định nghĩa méo mó quyền tự do ngôn luận, đều không phải là cây cầu dẫn đến một xã hội dân chủ. 

Trong cuốn tự truyện của mình, Chaplin dẫn lời của chính ông: “Người ta không cần phải là người Do Thái để chống Đức Quốc xã. Chỉ cần là một con người bình thường, tử tế là được.”

Người ta không cần là một chính trị gia hay người thực thi công lý để lên án bất công, vô hiến. Bịt miệng những “gã hề”, ai sẽ chế nhạo các hoàng đế? Câu trả lời, như Chaplin đã nói, là không ai cả. Và đó là lúc chế độ chuyên chế chiến thắng.

Ngay lúc này, hơn bao giờ hết, tôi nghĩ về Charlie Chaplin.
 
Kalynh Ngô

“Di sản, còn có thể mang hình thức phi vật thể của lối nghĩ, lối sống, lối hành động, mà con người miền Nam khi xưa đã được trau dồi, hun đúc qua tinh thần của thể chế, của một nền dân chủ hiến định. Chính con người, chính cộng đồng xã hội mới là trung tâm và cũng là cội nguồn lẫn mục đích của mọi bản hiến pháp.” – Hải Sa, “Ngót 60 năm từ một khế ước nhân quyền dang dở,” trang 56 Cùng với tin tạp chí Luật Khoa vừa được đề cử giải thưởng Tự Do Báo Chí năm 2025 của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ban chủ trương trong một thư tới độc giả vào cuối tháng 10 đồng thời thông báo việc phát hành ấn bản đặc biệt với chủ đề “70 Năm Việt Nam Cộng Hòa – Chân Dung & Di Sản” gồm 86 trang, với 14 bài vẽ lại hành trình từ ra đời tới bị bức tử của nền dân chủ duy nhất của Việt Nam và di sản của thể chế yểu mệnh này để lại. Bài này nhằm điểm qua nội dung của ấn bản đặc biệt này, và sẽ chú trọng vào một bài đã gợi nơi người viết một suy tư sâu sắc.
Một nhóm sử gia, thủ thư và tình nguyện viên đang gấp rút chạy đua với thời gian – và với chính quyền Trump – để giữ lại những mảnh ký ức của nước Mỹ.Từ hình ảnh người nô lệ bị đánh đập, các trại giam người Mỹ gốc Nhật trong Thế Chiến II, đến những bảng chỉ dẫn về biến đổi khí hậu ở công viên quốc gia, tất cả đều có thể sớm biến mất khỏi tầm mắt công chúng. Trong vài tháng gần đây, hơn một ngàn sáu trăm người – giáo sư, sinh viên, nhà khoa học, thủ thư – đã âm thầm chụp lại từng góc trưng bày, từng bảng giải thích, để lập ra một kho lưu trữ riêng tư. Họ gọi đó là “bản ghi của công dân” – một bộ sưu tập độc lập nhằm bảo tồn những gì đang tồn tại, trước khi bị xoá bỏ bởi lệnh mới của chính quyền.
Hai trăm mười một năm trước, mùa hè năm 1814, quân Anh kéo vào Washington. Trước khi phóng hỏa Bạch Ốc, họ ngồi xuống dùng bữa tại bàn tiệc đã dọn sẵn cho Tổng thống James Madison. Khi bữa ăn kết thúc, lính Anh đốt màn, đốt giường, và tòa nhà bốc cháy suốt đêm. Sáng hôm sau, cơn mưa lớn chỉ còn rửa trôi phần tro tàn của nơi từng là biểu tượng cho nền cộng hòa non trẻ. Tuần này, phần Cánh Đông của Bạch Ốc bị phá sập. Không phải bởi ngoại bang, mà bởi chính quyền tại vị. Và lần này, không ai được báo trước. Người Mỹ chỉ biết chuyện qua những bức ảnh máy xúc cày nát nền nhà, cùng lời xác nhận ngắn ngủi từ các viên chức trong chính phủ.
Hai trăm năm rưỡi sau ngày dựng cờ độc lập, nước Mỹ vẫn chưa thoát khỏi chiếc bóng của bạo lực. Mỗi khi một viên đạn nổ, người ta lại nói: “Đây không phải là nước Mỹ.” Nhưng chính câu nói ấy lại là cách người Mỹ tránh nhìn thẳng vào chính mình. Bài viết của giáo sư Maurizio Valsania (Đại học Torino), đăng trên The Conversation ngày 12 tháng 9, 2025, nhắc lại lịch sử mà nhiều người muốn quên: từ nhựa đường và lông gà đến súng ngắn buổi bình minh — một mạch dài nối liền hai thế kỷ, nơi tự do và bạo lực chảy cùng dòng máu.
Một cuộc thăm dò dư luận của AP-NORC thực hiện vào tháng 9 & 10 cho thấy hầu hết dân Mỹ coi việc chính phủ đóng cửa hiện tại là một vấn đề nghiêm trọng và đổ lỗi cho cả hai Đảng Cộng Hòa, Đảng Dân Chủ và cả Tổng Thống Trump với những tỷ lệ gần như ngang nhau. Cuộc thăm dò cũng cho thấy người Mỹ lo lắng về kinh tế, lạm phát và bảo đảm việc làm. Họ đang giảm những chi tiêu không thiết yếu như quần áo và nhiên liệu. Đa số cho rằng nền kinh tế yếu kém. Chi phí thực phẩm, nhà ở và chăm sóc sức khỏe được coi là những nguồn chính gây khó khăn tài chính.
Trên cao nguyên Tây Tạng – vùng đất được mệnh danh là “nóc thế giới” – hàng triệu tấm pin mặt trời trải rộng đến tận chân trời, phủ kín 420 cây số vuông, tức hơn bảy lần diện tích đảo Manhattan. Tại đây, ánh nắng gay gắt của không khí loãng ở độ cao gần 10.000 bộ trở thành mỏ năng lượng khổng lồ cho Trung Hoa. Giữa thảo nguyên lạnh và khô, những hàng trụ gió nối dài trên triền núi, các con đập chắn ngang dòng sông sâu, cùng đường dây cao thế băng qua sa mạc, hợp thành một mạng lưới năng lượng sạch lớn nhất thế giới. Tất cả đổ về đồng bằng duyên hải, cung cấp điện cho các thành phố và khu kỹ nghệ cách xa hơn 1.600 cây số.
Mức asen cao được phát hiện trên sông Mê Kông, cảnh báo nguy cơ ô nhiễm kim loại nặng lan rộng ở Đông Nam Á. Các sông Mã, Chu và Lam của Việt Nam đang bị đe dọa bởi hoạt động khai thác đất hiếm ở Lào, tác động đến nguồn nước của hàng chục triệu người và di sản cổ đại văn hóa Đông Sơn. Việt Nam cần phối hợp ngoại giao, giám sát khoa học và vận động cộng đồng để bảo vệ các dòng sông này. Khác với sông Mê Kông được giám sát và hợp tác thông qua Ủy hội Sông Mê Kông (MRC), các dòng sông Mã, Chu và Lam lại không có bất kỳ hiệp ước quốc tế nào. Do đó, Lào và đối tác Trung Quốc không có nghĩa vụ pháp lý phải giảm thiểu ô nhiễm xuyên biên giới. Sự thiếu vắng các thỏa thuận ràng buộc này đòi hỏi Việt Nam phải hành động bảo vệ dân cư và sinh mệnh các dòng sông này
Tuần lễ Nobel năm 2025 đã khởi đầu tại Stockholm với giải thưởng đầu tiên thuộc lĩnh vực sinh lý học hoặc y khoa, mở màn cho chuỗi công bố kéo dài đến ngày 13 tháng Mười. Ba nhà khoa học Mary Brunkow, Fred Ramsdell và Shimon Sakaguchi được trao Giải Nobel Y khoa 2025 cho công trình “khám phá cơ chế dung nạp miễn dịch ngoại vi”, nền tảng của nhiều hướng nghiên cứu mới trong điều trị ung thư và bệnh tự miễn nhiễm. Các giải thưởng còn lại sẽ được công bố như sau: - 7 tháng Mười: Vật lý - 8 tháng Mười: Hóa học - 9 tháng Mười: Văn chương - 10 tháng Mười: Hòa bình - 13 tháng Mười: Kinh tế học
Từ tháng 11/2000 đến nay, chưa từng có một ngày nào mà con người vắng bóng ngoài quỹ đạo Trái đất. Trạm Không Gian Quốc Tế International Space Station (ISS) đã duy trì sự hiện diện liên tục suốt 25 năm, với ít nhất một phi hành gia Hoa Kỳ thường trực trên quỹ đạo thấp. Trong lịch sử bay vào vũ trụ, hiếm có thành tựu nào sánh bằng ISS: một công trình chung của Hoa Kỳ, châu Âu, Canada, Nhật Bản và Nga – biểu tượng của sự hợp tác vượt lên trên chính trị. Nhưng mọi hành trình đều có hồi kết. Năm 2030, con tàu khổng lồ này sẽ được điều khiển rơi xuống một vùng hẻo lánh ở Thái Bình Dương.
50 năm sau và thêm 8 đời tổng thống Mỹ, tuy Việt Nam nay không còn là quan tâm của đại đa số quần chúng như thời chiến tranh, nhưng một nước Việt Nam thống nhất về địa lý vẫn nằm trong chiến lược của Mỹ và vẫn được các nhà nghiên cứu về chính trị, sử, xã hội, kinh tế, quốc phòng và những nhà hoạt động môi trường, xã hội dân sự, những người tranh đấu cho dân chủ, nhân quyền quan tâm vì những vấn đề tồn đọng sau chiến tranh và các chính sách của Hà Nội. Những chủ đề liên quan đã được trình bày trong một hội nghị quốc tế tổ chức vào hai ngày 18 và 19/9/2025 tại Đại học U.C. Berkeley với sự tham dự của nhiều học giả, nghiên cứu sinh từ các đại học Hoa Kỳ, Việt Nam, Singapore, Pháp; cùng các cựu lãnh đạo, phóng viên, nhà hoạt động.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.