Hôm nay,  

Nhớ Charlie Charplin

26/09/202500:00:00(Xem: 1667)

Charlie-Chaplin
Trong cuốn tự truyện của mình, Chaplin dẫn lời của chính ông: “Người ta không cần phải là người Do Thái để chống Đức Quốc xã. Chỉ cần là một con người bình thường, tử tế là được.” (Ảnh: Việt Báo)
Tùy vào diễn biến trong dòng chảy xã hội mà người ta thường hay nhắc hoặc nhớ về một nhân vật nào đó của lịch sử. Ngay lúc này, tôi nhớ về Charlie Charplin – người đàn ông với dáng đi loạng choạng trong đôi giày quá khổ, với cây ba-ton, gương mặt trẻ con, tinh khôi nhưng láu cá, nổi bật với chòm râu “Hitler”, ánh mắt sâu thẳm như vác cả một thế giới trên vai.

Từ nghèo khó đến giàu sang

Charles Spencer Chaplin sinh ngày 16/4/1889 tại London, Anh. Ông bước vào thế giới trong hoàn cảnh nghèo đói và bất ổn. Cha của ông, Charles Chaplin Sr., diễn viên nhạc kịch. Chứng nghiện rượu đã nhấn chìm sự nghiệp của ông, dẫn đến cái chết sớm khi Charlie mới 12 tuổi. Mẹ của ông, Hannah Chaplin, một nghệ sĩ nghệ danh Lily Harley, phải vật lộn với vấn đề về sức khỏe tâm thần. Cuối cùng, bà phải vào viện tâm thần. Chaplin và người em cùng cha khác mẹ là Sydney phải tự lo liệu cho bản thân. Ngày qua ngày, cuộc sống của họ trôi qua trong các trại tế bần hoặc trên đường phố. Chính những ngày tháng thiếu thốn này đã định hình nên thế giới quan của Chaplin, gieo vào ông lòng đồng cảm sâu sắc với những người yếu thế, cũng là điều sẽ trở thành dấu son trong các tác phẩm của ông sau này.

Chaplin bước vào thế giới giải trí rất tình cờ, qua các chương trình tạp kỹ, nơi hàng đêm ông ngồi ở hàng ghế khán giả xem mẹ của mình biểu diễn. Đó cũng là nơi Chaplin chứng kiến giây phút bà rơi khỏi ánh hào quang sân khấu. Đến năm 1910, ông đã lưu diễn khắp nước Mỹ cùng đoàn hài kịch của Fred Karno. Năm 1914, ông giới thiệu với thế giới nhân vật Tramp – biểu tượng bất tử của mình. Đây là nhân vật pha trộn giữa sự thương cảm và hài hước, giữa sự chân thật và khôn ranh, giữa một gã ngu ngơ và một tay “xỏ lá.” Charlie Chaplin cùng với Tramp bước lên đỉnh cao kỷ nguyên phim câm. Những bộ phim như The Kid (1921), The Gold Rush (1925) và City Lights (1931) đã xác định vị thế toàn cầu của Chaplin.

Trong “Charlie Chaplin: A Life” cho thấy quan điểm chính trị tiến bộ của Chaplin, gồm việc ủng hộ quyền lao động và phản đối chủ nghĩa phát xít, đã gây cho ông nhiều rắc rối trong thời kỳ Red Scare (‘Sợ Cộng Sản’.)

David Robinson, người viết tiểu sử Chaplin, trích dẫn một bài báo từ tờ The Spectator ngày 21/4/1939: “Có điều gì đó kỳ lạ trong sự giống nhau giữa Little Tramp và Adolf Hitler, đại diện cho hai thái cực đối lập của nhân loại.”

“Tạo hóa thật trớ trêu khi vào đúng tuần này năm mươi năm trước, Charlie Chaplin và Adolf Hitler được định sẵn sẽ chào đời chỉ cách nhau bốn ngày... Mỗi người, theo cách riêng của mình, đã thể hiện những ý tưởng, tình cảm, khát vọng của hàng triệu công dân đang vật lộn giữa hai tầng lớp xã hội. Mỗi ​​người đều phản ánh cùng một thực tế, tình cảnh của “một con người nhỏ bé” trong xã hội hiện đại. Mỗi người là một tấm gương méo mó, một bên là điều tốt, một bên là điều xấu xa không thể nói thành lời.”

Cuối những năm 1930, khi bóng tối của chủ nghĩa phát xít lan rộng khắp châu Âu, Charlie Chaplin đã sản xuất The Great Dictator, một phim hài táo bạo châm biếm Adolf Hitler và chế độ Đức Quốc Xã vào đúng thời điểm mà phần lớn thế giới vẫn còn e dè với sự thật.

‘The Great Dictator’

Cuốn phim là phản ứng thẳng thắn của Chaplin đối với sự trỗi dậy của Hitler. Một mình Chaplin diễn hai vai: anh thợ cắt tóc Do Thái nhỏ bé sống trong khu ổ chuột, và Hynkel, nhà độc tài cai trị Tomainia. Ông đã dành nhiều tháng trời để soạn thảo và viết lại bài phát biểu kết thúc phim, một lời kêu gọi hòa bình từ người thợ cắt tóc bị nhầm lẫn với Hynkel.

Đoạn độc thoại của anh thợ cắt tóc là điểm nhấn của cuốn phim dài hơn một giờ đồng hồ. Vẫn ánh mắt sâu như hút cả thế giới, bộ ria mép Hitler, anh thợ phát biểu hùng hồn:

“Xin lỗi, nhưng tôi không muốn làm hoàng đế. Đó không phải việc của tôi. Tôi không muốn cai trị hay chinh phục ai cả. Tôi muốn giúp đỡ tất cả mọi người, nếu có thể, Do Thái, Cơ đốc giáo, da đen, da trắng.Tất cả chúng ta đều muốn tương trợ nhau. Con người là như thế. Chúng ta muốn sống bằng hạnh phúc của nhau, chứ không phải bằng nỗi đau khổ của nhau. Chúng ta không muốn thù hận và khinh miệt lẫn nhau. Thế giới này là ngôi nhà của tất cả mọi người. Và sự màu mỡ phì nhiêu của trái đất có thể nuôi sống tất cả mọi người. Chúng ta có thể sống tự do và tươi đẹp, nhưng chúng ta đã lạc lối.
Lòng tham đã đầu độc tâm hồn con người, đã phong tỏa thế giới bằng lòng thù hận, đã đẩy chúng ta vào cảnh khốn cùng và đổ máu. Chúng ta đã phát triển như vũ bão, nhưng rốt cuộc chúng ta đã tự nhốt mình vào đó. Máy móc mang lại sự sung túc và đặt chúng ta vào sự mưu cầu. Kiến thức của chúng ta đã khiến chúng ta trở nên hoài nghi. Sự thông minh của chúng ta, cứng nhắc và tàn nhẫn. Chúng ta suy nghĩ quá nhiều và cảm nhận quá ít. Chúng ta cần lòng nhân đạo hơn máy móc. Chúng ta cần lòng tốt và sự dịu dàng hơn sự thông minh. Nếu không có những phẩm chất này, cuộc sống sẽ trở nên bạo lực và tất cả sẽ tan vỡ…”

Trong hình hài và bộ quân phục của nhà độc tài Hynkel, anh thợ cắt tóc người Do Thái dõng dạc: “Hỡi các quân nhân! Đừng trao mình cho những kẻ tàn bạo – những người khinh miệt các bạn – xem các bạn là nô lệ – những kẻ kiểm soát cuộc sống của các bạn – ra lệnh cho các bạn phải làm gì, phải nghĩ gì và phải cảm thấy gì! Những kẻ nhào nặn các bạn – kiểm soát cả việc ăn uống của các bạn – đối xử với các bạn như súc vật, sử dụng các bạn như bia đỡ đạn. Đừng phó thác mình cho những kẻ trái với lẽ tự nhiên này – những người máy với trí óc máy móc và trái tim máy móc! Các bạn không phải là cỗ máy! Các bạn không phải là gia súc! Các bạn là con người! Các bạn có tình yêu thương nhân loại trong tim! Các bạn không thù hận! Chỉ những kẻ không được yêu thương mới thù hận – những kẻ không được yêu thương và ngược tự nhiên! Hỡi những quân nhân! Đừng đấu tranh cho chế độ nô lệ! Hãy đấu tranh cho tự do!”

Đây không khác gì là bản tuyên ngôn nhân văn của anh thợ cắt tóc, là lời kêu gọi mạnh mẽ chống lại chế độ chuyên chế, chỉ trích những kẻ độc tài đã tước đi nhân phẩm, tự do và biến con người thành công cụ cho lòng tham và sự thù hận của chúng. Bài phát biểu được phát sóng trên toàn thế giới, khơi dậy các phong trào kháng chiến, khiến Chaplin bị FBI đưa vào hồ sơ vì những “cảm tình viên cộng sản.”

Trong cuốn tự truyện của mình, Charplin cho biết ông bắt đầu nhận được những thông điệp đáng lo ngại từ United Artists. “Họ đã được cảnh báo... rằng tôi sẽ gặp rắc rối về kiểm duyệt. Ngoài ra, văn phòng Anh quốc cũng rất lo ngại về một bộ phim chống Hitler và nghi ngờ việc nó có thể trình chiếu ở Anh. Những lá thư đáng lo ngại hơn đến từ văn phòng New York, cầu xin tôi đừng làm bộ phim, tuyên bố rằng nó sẽ không bao giờ được trình chiếu ở Anh hay Mỹ.”

Nhưng Chaplin không lùi bước. Ông biết rằng The Great Dictator xứng đáng được thực hiện, và quả nhiên, nó đã thành công vang dội: trở thành bộ phim ăn khách thứ hai vào năm 1941 tại Mỹ. Tiếng nói của anh thợ cắt tóc vẫn vang vọng trong lịch sử hơn 80 năm sau:

“Nhân danh dân chủ – chúng ta hãy sử dụng sức mạnh đó – hãy cùng nhau đoàn kết. Hãy cùng nhau đấu tranh cho một thế giới mới, một thế giới tử tế, nơi con người có cơ hội làm việc, nơi tuổi trẻ có tương lai và tuổi già được bảo đảm. Bằng những lời hứa hẹn này, kẻ tàn ác đã lên nắm quyền. Nhưng chúng nói dối! Chúng không thực hiện lời hứa đó. Chúng sẽ không bao giờ làm được!

Những kẻ độc tài tự giải phóng mình nhưng lại nô dịch người dân! Giờ đây, chúng ta hãy cùng nhau đấu tranh để thực hiện lời hứa đó! Hãy cùng nhau đấu tranh để giải phóng thế giới – để xóa bỏ những rào cản quốc gia – để xóa bỏ lòng tham, hận thù, hãy khoan dung. Hãy cùng nhau đấu tranh cho một thế giới lý trí, một thế giới nơi khoa học và tiến bộ sẽ mang lại hạnh phúc cho tất cả mọi người. Hỡi những quân nhân! Nhân danh dân chủ, chúng ta hãy cùng nhau đoàn kết!”

Các hãng phim Hollywood vì lo sợ mất thị trường châu Âu, đã tránh xa những bộ phim chống Đức Quốc Xã. The Great Dictator nằm trong số đó. Chaplin tự bỏ vốn thông qua hãng phim United Artists của riêng mình, đầu tư hơn $1,5 triệu đô la (một gia tài vào thời điểm đó) và phải đối mặt với sự tẩy chay và đe dọa. Chính phủ Đức đã cấm hoàn toàn bộ phim, và ngay cả ở Anh.

Tiếng vọng 80 năm sau

Ngày nay, vào năm 2025, khi Mỹ đang vật lộn với các cuộc khủng hoảng về tự do ngôn luận và kiểm duyệt, kiệt tác của Chaplin như một lời tiên tri kỳ lạ.
Chế độ của nhà độc tài Hynkel (trong phim) được mô tả là nơi tuyên truyền lấn át sự thật, và bất đồng chính kiến ​​bị nghiền nát dưới những gót giày. Chaplin sử dụng hài kịch, tung hứng như vũ điệu của những quả bóng được căng đầy khí, để phơi bày bản chất độc ác của quyền lực. Sử gia Timothy Snyder từng viết về nghệ thuật của Charlie Charplin: “Tiếng cười làm suy yếu chủ nghĩa độc tài bằng cách phơi bày những tham vọng của nó. Trong phim, những lời lẽ hùng biện của Hynkel trở nên vô nghĩa, nhại lại bài diễn thuyết của Hitler và tước đi tính đe dọa của nó. Bằng cách khiến nhà độc tài trở nên buồn cười, Chaplin đã nhân cách hóa các nạn nhân và khích lệ khán giả từ bỏ chủ nghĩa phát xít.”

Sau hơn 80 năm, bối cảnh hài châm biến của nước Mỹ đang vọng lại những âm thanh của “The Great Dictator” nhưng với một nét hiện đại rõ rệt. Các nghệ sĩ hài, với quyền hiến định của Tu Chính Án Thứ Nhất, có thể nói lên sự thật mà không sợ hãi, giờ đây phải đối mặt với làm sóng kiểm duyệt từ nhiều phía. Nhà phân tích truyền thông của CNN Brian Stelter nói: “Nước Mỹ sẽ không còn tự do nếu các nghệ sĩ hài không được phép nói những gì họ muốn.”

Điều này gợi nhớ đến thời đại của Charlie Chaplin, khi các hãng phim tự kiểm duyệt để xoa dịu các nhà độc tài ngoại quốc, thì ngày nay, các đài truyền hình phải khuất phục trước những luồng gió chính trị trong nước để bảo vệ các vụ sáp nhập kinh doanh và giấy phép.

“The Great Dictator” bất tử còn vì chất châm biếm không e sợ bất kính trước độc tài. Bản tuyên ngôn nhân văn của anh thợ cắt tóc vang vọng đến hơn 80 năm sau, để cho thấy, xã hội bảo vệ quyền tự do ngôn luận bằng văn hóa, chứ không chỉ pháp lý. Tạp chí Reason đã cảnh báo, văn hóa tự do ngôn luận của nước Mỹ đang bị xói mòn từ bên trong. Bóp nghẹt tiếng cười, kiểm duyệt báo chí, định nghĩa méo mó quyền tự do ngôn luận, đều không phải là cây cầu dẫn đến một xã hội dân chủ. 

Trong cuốn tự truyện của mình, Chaplin dẫn lời của chính ông: “Người ta không cần phải là người Do Thái để chống Đức Quốc xã. Chỉ cần là một con người bình thường, tử tế là được.”

Người ta không cần là một chính trị gia hay người thực thi công lý để lên án bất công, vô hiến. Bịt miệng những “gã hề”, ai sẽ chế nhạo các hoàng đế? Câu trả lời, như Chaplin đã nói, là không ai cả. Và đó là lúc chế độ chuyên chế chiến thắng.

Ngay lúc này, hơn bao giờ hết, tôi nghĩ về Charlie Chaplin.
 
Kalynh Ngô

Người Việt Nam không ai xa lạ với từ ‘Gulag’ - trại tù lao động khổ sai khét tiếng của Liên Bang Xô Viết. Ước tính trong khoảng hai thập niên từ 1930-1953, nơi đây giam giữ khoảng 4 triệu tù nhân; 1.5 triệu đã chết trong tù hay sau khi được thả một thời gian ngắn. Gulag từng được xem là địa ngục trần gian, là biểu tượng cho sự tàn bạo của nhà tù cộng sản. Trong những ngày cuối tháng 6, khi mà người dân Mỹ chuẩn bị pháo hoa đón mừng Lễ Độc Lập, cái tên Gulag được sử dụng khi nói đến một nhà tù mới được hình thành ở Florida. Nhà tù này có tên gọi là Alligator Alcatraz. Trong một bài viết được đăng trên trang mạng Amrican Community Media ngày 30/06/2025, nhà báo Laszlo Bartus đã cảnh báo rằng nó sẽ là nhà tù vô nhân đạo nhất thế giới.
Trong hơn bảy mươi năm qua, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iran đã trải qua nhiều bước ngoặt – từ một liên minh chiến lược thời Chiến tranh Lạnh, đến một trong những nước đối đầu gay gắt và kéo dài nhất của thời đại hậu thuộc địa. Bản tóm lược dưới đây ghi lại những cột mốc chính từ năm 1953 đến 2025, nhằm cung cấp một cái nhìn toàn diện về diễn biến phức tạp của quan hệ Hoa Kỳ–Iran trong bối cảnh biến động địa chính trị toàn cầu.
Tháng 5 vừa qua, một chuyến bay từ Johannesburg, Nam Phi đã đáp xuống phi trường Quốc tế Dulles, Hoa Kỳ. Trên phi cơ là khoảng 50 công dân Nam Phi da trắng thuộc cộng đồng Afrikaner. Những người này cho biết sinh kế của họ đang bị đe dọa nghiêm trọng do xã hội ngày càng “kỳ thị người da trắng.” Cách mô tả tình hình Nam Phi như vậy ngay lập tức nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ từ các nhà bình luận cánh hữu có ảnh hưởng ở Mỹ như Tucker Carlson, Charlie Kirk, và Stephen Miller.
Hãy tưởng tượng bạn là một người thợ mỏ khai thác đồng tại Đông Nam Âu Châu vào năm 3,900 trước Công Nguyên. Mỗi ngày, bạn phải gồng mình kéo từng tảng quặng qua những đường hầm chật hẹp và ngột ngạt. Cuộc sống cứ thế trôi qua trong nỗi mỏi mệt rã rời và sự đơn điệu không hồi kết. Nhưng rồi một chiều nọ, điều kỳ lạ xảy ra: một anh bạn đồng nghiệp xuất hiện với một thứ trông thật lạ mắt, và anh ta thản nhiên kéo theo đống quặng gấp ba lần trọng lượng cơ thể mình – chỉ trong một chuyến đi.
Làn sóng tranh luận dữ dội đang diễn ra xoay quanh câu hỏi: liệu những gì đang xảy ra tại Gaza kể từ tháng 10 năm 2023 có phải là hành vi diệt chủng hay không? Vấn đề này đã được đưa ra trước Tòa Án Quốc Tế (International Court of Justice, ICJ), Nam Phi đệ đơn kiện Israel, cáo buộc quốc gia này đã phạm tội diệt chủng. Phiên tòa bắt đầu từ tháng 12 năm 2023, nhưng đến nay ICJ vẫn chưa đưa ra phán quyết cuối cùng.
Ngày 27/5 vừa qua, trên mạng xã hội, nhiều người đã đăng lời chúc mừng sinh nhật gửi tới tù nhân Phạm Đoan Trang. Trước đó vài tuần, một tù nhân nổi tiếng khác là Trịnh Bá Phương đã bị khởi tố thêm tội danh "tuyên truyền chống Nhà nước" khi đang ở tù. Những dòng tin này nhắc nhở rằng tự do, dân chủ, nhân quyền vẫn còn là những vấn đề nhức nhối tại Việt Nam, 50 năm sau khi cuộc chiến kết thúc.
Sáng thứ Bẩy ngày 24 tháng 5 vừa qua, trong buổi lễ tốt nghiệp tại vận động trường Michie của Học Viện Quân Sự Hoa Kỳ ở West Point, khi chuẩn tướng Rogelio Garcia, chỉ huy trưởng Học Viện, tuyên bố giải tán khóa 2025, hàng ngàn chiếc mũ képi trắng được các học viên của khóa tung lên trời. Tiếng reo hò tở mở từ các tân thiếu úy đang đứng dưới sân cỏ và thân nhân của họ trên khán đài tạo nên một quang cảnh với âm thanh vừa đẹp mắt, vừa tưng bừng, vừa cảm động.
Đoàn Viết Hoạt sanh năm 1942 tại Nam định. Năm 1954 theo gia đình di cư vào Nam. Năm 1965 tốt nghiệp Đại học Sư phạm Sàigòn ban Anh Văn. Năm 1966 lập gia đình với chị Trần Thị Thức, một nữ sinh viên trong phong trào sinh viên Saigon lúc bấy giờ. Năm 1967 ĐVHoạt du học Hoa Kỳ về môn Tổ Chức và Quản Trị Đại Học tại Đại học Florida State (FSU), Tallahassee, Florida. Năm 1971, đậu Ph.D. về Giáo Dục. Sau đó, Đoàn Viết Hoạt trở về nước giữ chức vụ Phụ tá Viện trưởng tại Viện Đại học Vạn Hạnh cho đến 30 tháng Tư, 1975.
Một cuộc triển lãm mới tại thành phố Philadelphia soi chiếu hành trình tiến hoá của sức khoẻ dinh dưỡng tại Hoa Kỳ qua một lăng kính độc đáo: căng-tin học đường. Mang tựa đề “Giờ Ăn Trưa: Lịch Sử Khoa Học Trên Khay Thức Ăn Học Đường,” cuộc triển lãm miễn phí tại Viện Lịch sử Khoa học Philadelphia trưng bày các bích chương, tài liệu, dụng cụ khoa học, sách dinh dưỡng và ảnh chụp để thuật lại câu chuyện về các bữa ăn tại trường học ở Mỹ.
Năm Tổng Thống Hoa Kỳ liên tiếp, thuộc cả hai chính đảng Dân Chủ và Cộng Hòa, đã nhất quyết giúp nhân dân Miền Nam bảo vệ “tiền đồn của Thế Giới Tự Do.” Hành động mạnh mẽ nhất là ‘tự động’ mang nửa triệu quân vào để chiến đấu - mặc dù Chính phủ VNCH không yêu cầu. Rồi xây cất đường xá, xa lộ Biên Hòa, hải cảng Đà Nẵng, Cam Ranh, Chu Lai, Sàigòn, và mấy chục phi trường lớn nhỏ, với những kho xưởng như Long Bình, Quy Nhơn, Phú Bài, tốn phí bao nhiêu nhân mạng, bao nhiêu tiền của để xây dựng một “tiền đồn của thế giới tự do”, ngăn chận Trung Cộng ở phía Nam
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.