Hôm nay,  

Những Người Do Thái Đã Bỏ Phiếu Cho Hitler

28/08/202600:00:00(Xem: 226)

Capture
Ảnh: Max Naumann (12/1/1875 – 18/5/1939), luật sư người Berlin gốc Do Thái, cựu đại úy Lục quân Bayern trong Thế chiến I. Ông là người sáng lập và chủ tịch của Verband nationaldeutscher Juden (Hiệp hội Người Do Thái Quốc gia Đức) — tổ chức theo khuynh hướng đồng hóa và dân tộc chủ nghĩa, được thành lập năm 1921, và bị chính quyền Đức Quốc xã giải tán năm 1935.
 
LTS: Người biên dịch bài này không nhằm so sánh nước Mỹ hôm nay với nước Đức của Hitler, vì lịch sử không lặp lại y nguyên, và những so sánh dễ dãi đôi khi làm mất giá trị của chính bài học lịch sử.

Điều đáng chú ý trong câu chuyện Max Naumann là ông tin mình “khác”. Ông là người Đức, yêu nước, từng chiến đấu và đổ máu cho nước Đức. Ông tin những lời công kích người Do Thái nhắm vào một hạng người Do Thái khác — di dân Do Thái đến từ Đông Âu, người Zionist, người cánh tả — chứ không phải những người yêu nước như ông.

Ảo tưởng “mình khác” ấy không chết với Max Naumann.

Trong cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ hôm nay cũng có người nhìn tinh thần bài trừ di dân của chính quyền Donald Trump và đảng cầm quyền rồi tự nhủ: họ nói về người vượt biên trái phép, người không giấy tờ, người từ những xứ nghèo, tầng lớp khác... Chúng ta đến đây hợp pháp, đã nhập tịch, làm ăn, đóng thuế. CHÚNG TA KHÁC.

Hoàn cảnh quả có thể có khác. Nhưng lịch sử, nếu không là một bài học để lòng, thì ít nhất cũng để cảnh tỉnh một điều: câu “họ không nói về mình” thường chỉ đúng cho đến ngày họ bắt đầu “nói về mình”; và chúng ta chỉ “khác” cho đến ngày kẻ khác quyết định rằng chúng ta không còn khác nữa.

***

Tối 5 tháng Hai năm 1930, nhà phê bình văn nghệ Paul Fechter bước lên diễn đàn của Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia tại Berlin.
Ông biết đề tài mình sắp nói sẽ khó nghe.

Fechter nói rằng người Đức từ lâu đã quá “sợ hãi và dè dặt” khi nói công khai về người Do Thái. Ông đặc biệt công kích Kurt Tucholsky, một nhà văn trào phúng Do Thái nổi tiếng, vì cuốn Deutschland, Deutschland über alles (Nước Đức, Nước Đức Trên Hết), trong đó Tucholsky châm biếm quân đội, cảnh sát, công chức, quốc ca và nhiều biểu tượng chủ nghĩa quốc gia của nước Đức.

Nhưng Fechter không dừng ở một nhà văn. Ông nói một phần lớn giới văn chương và nghệ thuật Đức “nằm trong tay người Do Thái”; các nhà hát, nhà xuất bản lớn và giới buôn tranh đều ít nhiều “dưới sự kiểm soát của người Do Thái.” Ông trách các nhà buôn tranh Do Thái chuộng Manet, Monet, Renoir, Gauguin, Picasso và Cézanne — những họa sĩ Pháp và hiện đại — hơn hội họa truyền thống Đức.

Rồi Fechter đi xa hơn nữa, cho rằng tinh thần chống nước Đức trong giới Do Thái còn mạnh hơn cả tinh thần bài Do Thái của phe quốc gia cực hữu Đức.
Fechter đang nói ngay trước mặt người Do Thái những điều thường được người Đức dùng để công kích họ.

Nhưng điều lạ nhất không nằm ở diễn giả. Nó nằm ở người đã mời ông tới: Max Naumann, người sáng lập tổ chức.

Naumann sau đó còn cho đăng lại bài diễn văn ấy trên tờ nguyệt san Người Do Thái-Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia, phát cho khoảng 7,000 hội viên thuộc hơn 20 chi nhánh trên khắp nước Đức. Phần đông hội viên là những người trung lưu có học — luật sư, bác sĩ, thương gia, những người đã có một chỗ đứng vững vàng trong xã hội Đức.

Bản thân Naumann là một luật sư Do Thái tại Berlin.

Ông sinh năm 1875 trong một gia đình trung lưu gồm chủ ngân hàng, điền chủ và thương gia vải vóc, vào lúc người Do Thái Đức vừa bước vào một thời kỳ tưởng như đầy hứa hẹn.

Họ đã có quyền bỏ phiếu. Có thể ứng cử. Những nghề trước kia đóng cửa với họ — luật, y khoa, đại học — nay bắt đầu mở ra. Trên giấy tờ, họ được luật pháp bảo vệ như những công dân khác.

Naumann học luật tại Đại Học Friedrich Wilhelm ở Berlin. Ông gia nhập một hội sinh viên và mang trên cằm một vết sẹo do đấu kiếm — thứ huy hiệu danh dự rất được coi trọng trong giới sinh viên Đức thời ấy, đặc biệt trong truyền thống quân sự Phổ (Prussia), vương quốc lớn và hùng mạnh nhất trong Đế Quốc Đức thời ấy.

Nhưng bình đẳng trên giấy không có nghĩa thành kiến đã biến mất.

Naumann từng không được nhận vào hàng sĩ quan trong quân đội Phổ vì ông là người Do Thái. Ông bèn sang phục vụ trong Trung Đoàn Bộ Binh Bavaria số 2.

Trong Đệ Nhất Thế Chiến, ông lần lượt lên trung úy, thượng úy rồi đại úy. Ông được thưởng Thiết Thập Tự Đệ Nhất Hạng, Thiết Thập Tự Đệ Nhị Hạng cùng nhiều huy chương khác vì lòng can đảm ngoài mặt trận.

Naumann yêu nước Đức. Không phải bằng lời nói. Ông đã đổ máu cho quốc gia này. Và ông không phải người Do Thái duy nhất như vậy. Khoảng 100,000 người Do Thái Đức đã phục vụ ngoài mặt trận trong Đệ Nhất Thế Chiến. Ba mươi lăm ngàn người được tưởng thưởng vì chiến công. Mười hai ngàn người chết cho tổ quốc.

Nhưng khi nước Đức thua trận, người Do Thái lại bị quy một phần trách nhiệm cho thất bại và sự đầu hàng.

Các tổ chức Do Thái đáp lại theo nhiều cách.

Liên Đoàn Cựu Chiến Binh Do Thái Đức nhắc lại những con số hy sinh ngoài chiến trường. Hiệp Hội Trung Ương Công Dân Đức Theo Do Thái Giáo tìm cách chống kỳ thị bằng luật pháp. Phong trào Zionist thì cho rằng người Do Thái nên nghĩ tới việc sang Palestine để tìm một quê hương an toàn hơn.

Naumann không đồng ý với cách nào cả.

Ông không muốn người Do Thái-Đức tự coi mình là một cộng đồng đứng ngoài dân tộc Đức. Cũng không muốn họ bỏ đi.

Theo Naumann, họ phải chứng minh rằng mình là người Đức.

Ông tự gọi mình là nationaldeutscher Jude — một người Do Thái trước hết xem mình là người Đức, đặt lòng trung thành với nước Đức lên trên căn tính Do Thái.

Chính từ đó nảy sinh một điều khác. Naumann đặc biệt khắt khe với những người Do Thái Đông Âu đang chạy khỏi các cuộc đàn áp ở Nga, Romania, Áo, Hungary, Ba Lan và những nơi khác để tìm đường vào Đức.

Ông thương họ, nhưng đó là một thứ thương hại từ xa. Naumann từng viết rằng lòng thương ấy cũng giống như khi nghe chuyện người Armenia bị người Thổ Nhĩ Kỳ tàn sát hay người da đen bị treo cổ tại Hoa Kỳ: đáng thương, nhưng không phải chuyện của mình.

Ông cũng gay gắt với người Zionist và những người Do Thái cánh tả. Ngay cả Albert Einstein cũng bị ông công kích vì, theo Naumann, đã đặt căn tính Do Thái lên trên căn tính Đức.

Naumann cho rằng chính những người ấy, cùng làn sóng di dân Do Thái Đông Âu, đã góp phần làm người Đức thêm ác cảm với dân Do Thái.

Nói cách khác, đứng trước sự kỳ thị, Naumann không chỉ nhìn vào kẻ kỳ thị. Ông nhìn sang những người Do Thái khác và hỏi họ đã làm gì để người Đức ghét mình.

Naumann tin rằng nạn bài Do Thái có thể bị đánh bại không phải bằng kiện tụng hay luật lệ, mà bằng lòng trung thành.

Ông đã từng thấy điều ấy ngoài mặt trận.

Trong chiến hào, theo Naumann, người ta không hỏi người lính bên cạnh thuộc giai cấp hay chủng tộc nào. Người ta chỉ nhìn xem anh ta có đứng lại khi đạn bay tới hay không. Hành động quan trọng hơn lời nói. Nếu người Do Thái chứng minh được họ là những công dân Đức tốt, can đảm, hữu dụng và trung thành, Naumann tin, thành kiến rồi sẽ tự tan.

Ông không cô độc.

Bác sĩ Alfred Peyser, một nhân vật có tiếng trong giới y khoa Berlin, cũng cho rằng người Do Thái không nên trở lại đời sống biệt lập, cũng không nên bỏ Đức đi Palestine.

“Chúng ta yêu mảnh đất này, ngôn ngữ này, dân tộc này,” Peyser viết. “Chúng ta gắn liền với nó.”

Samuel Breslauer, chủ bút một nhật báo bảo thủ nổi tiếng tại Berlin, cũng đứng gần họ. Ông là người Do Thái, nhưng đồng thời là một người theo chủ nghĩa quốc gia Đức nhiệt thành.

Trong một thời gian, Naumann và tổ chức của ông đứng gần Đảng Nhân Dân Đức, một chính đảng hữu khuynh ôn hòa dưới sự lãnh đạo của Gustav Stresemann.

Rồi chính trường Đức đổi khác. Tháng Chín năm 1930, Đảng Quốc Xã tăng số phiếu gần gấp mười lần trong cuộc tuyển cử toàn quốc. Một phong trào từng đứng bên lề bỗng trở thành một thế lực.

Trong giới của Naumann bắt đầu xuất hiện một câu hỏi mà trước đó khó tưởng tượng: Một người Do Thái có thể ủng hộ chủ nghĩa Quốc Xã hay không? Một số người bắt đầu nghĩ là có.

Naumann nhìn sang nước Ý của Benito Mussolini. Người Do Thái đã tham dự cuộc Tiến Quân Vào La Mã năm 1922. Guido Jung, một người Do Thái, từng làm bộ trưởng tài chánh. Renzo Ravenna, cũng là người Do Thái, làm thị trưởng Ferrara.

Nếu người Do Thái có thể sống dưới chế độ phát xít ở Ý, Naumann nghĩ, tại sao không thể ở Đức?

Ông còn tìm thấy một cách giải thích khác. Naumann cho rằng người Do Thái tại Ý ít bị ghét hơn vì họ ít chen vào những ngành trí thức như luật, y khoa và báo chí. Ông khuyên thanh niên Do Thái Đức nên học nghề mộc, nghề nề thay vì cứ đổ vào đại học và những nghề chuyên môn.

Ý tưởng vẫn không thay đổi: nếu người Do Thái thay đổi, cách người khác đối xử với họ cũng sẽ thay đổi.

Mùa hè năm 1932, Naumann đi thêm một bước.

Ông viết rằng chủ nghĩa Quốc Xã là con đường có thể đưa nước Đức tới một cuộc phục hưng và khôi phục thanh thế quốc gia.

Trên thực tế, ông gần như kêu gọi người Do Thái bỏ phiếu cho Hitler.

Các tổ chức Do Thái khác kinh hoàng.

Họ nhắc Naumann rằng Hitler chưa bao giờ giấu thái độ đối với người Do Thái. Những lời kích động không phải chuyện của vài thuộc cấp quá khích. Hitler chưa từng cải chính họ. Sự thù ghét người Do Thái nằm ngay trong nền tảng tư tưởng của Quốc Xã.

Naumann vẫn nghĩ khác.

Ông tin một phần những lời dữ dội ấy là khẩu khí chính trị. Một khi Hitler phải thật sự cai trị, những vấn đề lớn hơn sẽ chiếm chỗ: phục hồi nước Đức, lập lại trật tự, chống Cộng, giải quyết kinh tế.

Rồi cơn sốt bài Do Thái sẽ nguội.

Naumann nhìn vào những lý do khiến nhiều người Đức đến với Quốc Xã — lòng khao khát phục hưng quốc gia, nhu cầu trật tự, chống Cộng, nỗi khốn khó kinh tế — và tin rằng đó mới là những động lực chính.

Ông coi nhẹ một điều - những tài liệu Quốc Xã được nghiên cứu sau này cho thấy 26 phần trăm những người được hỏi đã nói thẳng rằng lòng căm ghét người Do Thái là một lý do khiến họ gia nhập đảng.

Ngày 30 tháng Giêng năm 1933, Hitler trở thành Thủ Tướng.

Không phải đợi lâu để biết những lời chống Do Thái có phải chỉ là lời tranh cử hay không.

Bạo lực bùng lên.

Người Do Thái bị đánh trên đường phố, trong cửa tiệm, ngay tại nhà. Một thanh niên bị đánh đến tóe máu rồi bị xát tiêu vào vết thương; ông chết vì nhiễm trùng. Một căn nhà trên đường Friedrichstrasse sang trọng ở Berlin bị biến thành nơi tra tấn.

Báo chí ngoại quốc loan tin.

Ngày 25 tháng Ba, Hermann Göring triệu tập Naumann cùng một số lãnh tụ Do Thái tới văn phòng. Trên bàn Göring là một chồng báo ngoại quốc. Ông ta nổi giận, gọi những bản tin về bạo lực tại Đức là vu khống và dọa rằng nếu chúng không chấm dứt, chính quyền không còn có thể bảo đảm an toàn cho người Do Thái.

Naumann thực ra đã mang theo một danh sách những cuộc hành hung để phản đối. Nhưng khi bước ra khỏi cuộc họp, ông lại tuyên bố rằng tuy quả có những hành vi quá đáng đối với người Do Thái, người Đức không cần ngoại quốc xen vào chuyện nội bộ của mình. Naumann khuyên đồng bào mình hãy kiên nhẫn.

Nước Đức đang trải qua những “ngày thịnh nộ,” ông viết. Cơn giận rồi sẽ qua. Ông chờ một ngày người “Aryan và Do Thái” lại có thể bắt tay nhau vì tổ quốc.

Trong lúc ông chờ, chính quyền Hitler bắt đầu viết sự thù ghét thành luật. Người “không Aryan” bị loại khỏi công chức. Người Do Thái bị cấm hành nghề luật. Max Naumann mất nghề. Số sinh viên Do Thái được nhận vào trường học và đại học bị hạn chế. Naumann vẫn chưa đoạn tuyệt với chế độ.

Một hôm, con trai của Alfred Peyser gặp Naumann trên xe điện ngầm Berlin. Ông vừa dự một buổi họp với các lãnh tụ lực lượng xung kích Quốc Xã trở về. Ông nói về “những lý tưởng cao đẹp” của họ và về sự cần thiết phải cố hiểu cách họ nhìn thế giới.

Peyser sau này nhớ lại rằng, trước tất cả những gì đã xảy ra, thái độ ấy gần như không thể hiểu nổi. Trong những buổi họp của nhóm Naumann bắt đầu xuất hiện cờ chữ vạn của đảng Quốc Xã.

Có chuyện kể rằng hội viên chào Hitler và hát đảng ca Quốc Xã. Naumann phủ nhận chuyện hát, nhưng ông bênh vực kiểu chào giơ thẳng cánh tay và nói người Do Thái cần “vượt qua nỗi sợ chữ vạn swastika.”

Tháng Tám năm 1934, Tổng Thống Paul von Hindenburg qua đời. Hitler tổ chức trưng cầu dân ý để nhập quyền Tổng Thống vào chức Thủ Tướng, trên thực tế đưa quyền lực quốc gia vào tay mình. Naumann kêu gọi những người Do Thái “cảm thấy mình là người Đức” bỏ phiếu Thuận.

Một năm sau, tháng Năm 1935, Gestapo ghi nhận khoảng 400 người Do Thái Đức theo chủ nghĩa quốc gia họp tại Berlin. Naumann nhấn mạnh rằng họ là những người Đức chân chính và đã hoan nghênh cuộc thay đổi mà Hitler đem tới cho nước Đức.

Buổi họp kết thúc bằng khúc ca hào hùng Deutschland, Deutschland über alles. (Nước Đức, Nước Đức Là Trên Hết).

Naumann đã dành nhiều năm tìm cách chứng minh với chính quyền mới rằng những người như ông không phải kẻ thù.

Chính quyền ấy chưa bao giờ đáp lại.

Ngày 15 tháng Chín năm 1935, Hitler ban hành Luật Nuremberg.

Max Naumann, cựu đại úy, người mang hai Thiết Thập Tự danh dự, người từng chiến đấu cho nước Đức và kêu gọi đồng bào mình trao thêm quyền cho Hitler, bị tước quốc tịch Đức cùng khoảng nửa triệu người Do Thái khác.

Hai tháng sau, ngày 18 tháng Mười Một, Liên Minh Người Do Thái Đức Theo Chủ Nghĩa Quốc Gia bị giải tán. Gestapo bắt Naumann ngay trong ngày. Ông bị đưa tới Columbia-Haus, một nhà giam và nơi tra tấn của SS tại Berlin.

Vài tuần sau, Naumann dùng mảnh kính lấy từ chiếc kính đeo mắt để cắt cổ tay tự tử. Ông sống sót và được thả.

Naumann chết vì ung thư vào tháng Năm năm 1939, gần như cô độc. Người vợ đã ly dị. Con gái tuyệt giao với ông vì lập trường thân Quốc Xã.

Những người từng đi cùng con đường với ông cũng không được Hitler dành cho một ngoại lệ nào.

Alfred Peyser bị tước giấy phép hành nghề y, bị giam một thời gian rồi may mắn trốn sang Thụy Điển.

Siegfried “Fred” Bon bị đưa tới trại Theresienstadt năm 1940 và chết tại đó năm 1944.

Samuel Breslauer mất chức chủ bút, mất tài sản, rồi chết tại Theresienstadt cùng người vợ Bertha.

Những người đi theo Naumann chưa bao giờ đông. Họ chiếm chưa tới 2 phần trăm trong khoảng nửa triệu người Do Thái Đức.

Nhưng chính vì thế câu chuyện của họ càng đáng nhớ.

Họ không ủng hộ Hitler vì không biết Hitler nghĩ gì về người Do Thái. Hitler đã nói khá rõ. Họ nghe. Họ chỉ tin rằng những lời ấy không phải toàn bộ con người Hitler. Họ tin khi phải cai trị một quốc gia, Hitler rồi sẽ bớt cực đoan. Họ tin lòng yêu nước và sự hy sinh của mình sẽ được nhìn nhận. Họ tin có thể chứng minh rằng mình không giống những người Do Thái mà Quốc Xã căm ghét.

Trên hết, họ tin rằng một chế độ nhân danh nước Đức sẽ nhận ra họ trước hết là người Đức.

Họ đã tính sai.

Max Naumann được chôn tại một nghĩa trang Tin Lành ở Stahnsdorf, phía tây nam Berlin.

Trên bia mộ có tên ông, cấp bậc quân đội, ngày sinh và ngày mất. Không có dấu hiệu nào nói ông là người Do Thái. Sau cùng, đó cũng là ân huệ, bởi suốt đời, Max Naumann muốn được nhìn nhận trước hết như một người Đức.

Cung Đô biên dịch
Tóm lược theo bài “The Jews Who Voted for Hitler” của Timothy W. Ryback, The Atlantic, ngày 25 tháng 8, 2026.
 

Việc một hồ sơ tình báo được giải mật thường khiến dư luận có cảm tưởng rằng toàn bộ sự thật cuối cùng đã được phơi bày. Nhưng trên thực tế, ý nghĩa của việc giải mật không đơn giản như vậy. Một tài liệu được công bố chỉ cho thấy những gì đã từng được thu thập hoặc ghi nhận tại một thời điểm nhất định; nó không mặc nhiên xác nhận rằng mọi nội dung trong đó đều đã được kiểm chứng hoặc trở thành kết luận chính thức.
Con người từ muôn thuở đã không ngừng truy vấn, định nghĩa, tìm cách gọi tên chữ yêu. Yêu là rung động, là thương, là thích, là say mê, là quyến luyến, là nhớ nhung — là thứ men riêng trong cõi lòng. Triết gia/nhà tâm lý học Erich Fromm cho rằng yêu là một nghệ thuật phải học. Fromm xem yêu không chỉ là cảm xúc, mà là thực hành, chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết.
Khi nói đến quyền lực tại Hoa Kỳ, người ta thường nghĩ trước hết tới Tổng Thống, Quốc Hội, các cuộc bầu cử, hay những cuộc vận động ngoài đường phố. Nhưng trong lịch sử Hoa Kỳ, còn có một quyền lực lặng lẽ âm thầm hơn, mà ảnh hưởng nhiều khi kéo dài hơn cả một đời tổng thống: Tối Cao Pháp Viện.
Chicago vừa có thêm một địa điểm đáng tham quan: Trung tâm Tổng thống Barack Obama, khai trương ngày 19 tháng 6 năm 2026, tại khu South Side — nơi gắn liền với bước khởi đầu chính trị của ông. Nhưng gọi đây là “thư viện tổng thống” e chưa đủ. Trên khu đất rộng gần 19 mẫu Anh là một quần thể vừa mang dáng dấp viện bảo tàng, vừa giống công viên sinh hoạt cộng đồng. Có bãi cỏ cho trẻ con chạy chơi, có sân bóng rổ đúng chuẩn, có cả những khoảng không để ngồi đọc sách, nghe nhạc, hay đơn giản là… nghỉ chân.
Mỗi độ tháng Sáu, sự chú ý của công luận Hoa Kỳ lại dồn về Tối cao Pháp viện, khi cơ quan này lần lượt công bố những phán quyết có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Nhưng ít ai biết rằng trước khi một phán quyết được đăng tải trên các trang nhất các tờ nhật báo, nó đã được hình thành qua một tiến trình pháp lý chặt chẽ và phần lớn diễn ra sau cánh cửa kín. Tiến trình ấy gồm nhiều giai đoạn: từ việc chọn lọc đơn kiện, hội nghị nội bộ, nộp bản luận cứ, khẩu luận, cho đến khi ban hành ý kiến chính thức của tòa. Theo các học giả luật hiến pháp, muốn hiểu cách cơ quan tư pháp cao nhất nước Mỹ định hình chính sách, cần nhìn vào chính guồng máy vận hành kín đáo nhưng nghiêm ngặt này — nơi các tranh chấp văn hóa và chính trị lớn được cân nhắc và định đoạt.
UAV thời nay được gọi là phương tiện điều khiển không người lái, hay còn được gọi là vũ khí điều khiển từ xa. Thực ra, UAV không phải là loại vũ khí mới mẻ gì, nó đã được chế tạo vào năm 1918 bởi hãng Dayton-Wright Airplane Company tại Hoa Kỳ vào cuối Thế Chiến thứ I, với cái tên là Kettering Bug. Ngày nay, UAV được chế tạo tối tân hơn, và sử dụng rộng rãi, thành công, tỏ ra rất hiệu quả trên chiến trường. Vũ khí UAV bây giờ không chỉ tàn phá, san bằng những tòa cao ốc thành những đống gạch vụn, nó được chính con người tạo ra để giết con người. Tiếc thay, ngày nay, thế giới vẫn chưa học được cách ngừng làm tổn thương nhau và vẫn chạy đua vũ trang để tiêu diệt lẫn nhau.
Chiều ngày 21 tháng 5 năm 1796, tại dinh tổng thống ở Philadelphia, George Washington và gia đình ngồi vào bàn ăn. Đó là một trong những bữa tối cuối cùng của họ trong thành phố, trước khi trở về Mount Vernon nghỉ hè. Bên ngoài nhịp sinh hoạt quen thuộc ấy, một người đàn bà trẻ đang chuẩn bị cho một cuộc ra đi không có đường trở lại. Tên bà là Ona Judge. Bà bị giữ trong thân phận nô lệ trong nhà Washington. Trong lúc gia đình vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ dùng bữa, Judge lặng lẽ bước ra khỏi dinh thự. Không trống, không kèn, không nhân chứng chính thức. Chỉ có một người đàn bà trẻ rời khỏi nơi giam giữ đời mình để đi về phía tự do.
Trong chính trị học, guồng máy chính quyền hay nhà nước dân chủ như quy định trong hiến pháp bao gồm 3 thực thể gọi là tam quyền phân lập: Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp.Vì tính tối cao của hiến pháp nên trách nhiệm bảo vệ hiến pháp là nền tảng không thế thiếu trong một nền dân chủ pháp trị chân chánh. Chính quyền vận hành theo trình tự được quy định trong hiến pháp và hiến pháp này luôn được bảo vệ bởi một định chế độc lập, giám sát sự vận hành của lập pháp và hành pháp. Định chế độc lập này thông thường là một Tối Cao Pháp Viện, đứng đầu ngành Tư Pháp.
Một khuynh hướng khinh ghét phụ nữ đang dần trở thành sợi dây liên kết quan trọng trong giới bảo thủ tại Hoa Kỳ. Mục sư Douglas Wilson gần đây đưa ra một “đề nghị khiêm tốn”: hủy bỏ Tu chính án 19, tức điều khoản Hiến pháp bảo đảm quyền đi bầu của phụ nữ. Theo ông, đời sống chính trị nên tổ chức như trong giáo hội, nghĩa là mỗi gia đình chỉ có một lá phiếu. Wilson là người đồng sáng lập một hệ phái Tin Lành cải cách đặt trụ sở tại Moscow, tiểu bang Idaho. Trong gần nửa thế kỷ, ông gây dựng tại đây một mạng lưới gồm nhà xuất bản, trường học, đại học và truyền thông, cùng cổ võ một quan niệm xã hội đặt nền trên thần quyền. Giáo phái của ông có khoảng 170 nhà thờ. Bộ trưởng Quốc phòng hiện nay, ông Pete Hegseth, là một tín đồ, và hồi tháng Hai vừa qua, chính Wilson được mời đến chủ lễ cầu nguyện tại Ngũ Giác Đài. Vì vậy, khi ông nói đến việc tước quyền bầu cử của một nửa dân số, không phải là không có người lắng nghe.
Bạn có thể viết một ca khúc có câu chuyện hay nhất thế giới, một giai điệu đẹp nhất bạn từng nghĩ ra, một câu “móc” đắt giá, nhưng nếu bạn đặt chúng vào sai cấu trúc, bài hát của bạn vẫn sẽ thất bại, vì nó trở thành xa khúc. Người nghe sẽ bỏ đi giữa chừng mà không hiểu tại sao họ thấy chán, và bạn cũng sẽ không hiểu tại sao tác phẩm tâm huyết của mình không chạm được ai.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.