Hôm nay,  

Trâu Chậm Và Nước Đục

05/07/200600:00:00(Xem: 7704)

...Khối lượng đầu tư của VN sở dĩ còn thấp là vì tham ô và thất thoát. Tôi gọi đó là ‘ảo giác số một’, của cái định hướng xã hội chủ nghĩa, và truyền thông giới đầu tư nước ngoài thì khen VN giỏi chứ đa số người VN thì vẫn cúi đầu ngậm ngùi, khó chiu.

Việt Nam đang chuẩn bị gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO trong khi ấy nhiều chỉ dấu lại như tiên báo viễn ảnh thiếu sáng sủa cho kinh tế Đông Á vào năm tới. Trước những triển vọng và rủi ro trong tương lai, Việt Nam nên chuẩn bị ra sao" Diễn đàn Kinh tế đài RFA nêu câu hỏi cùng kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa qua phần trao đổi do Việt Long thực hiện sau đây.

- Hỏi: Thưa ông Nguyễn Xuân Nghĩa, tiếp tục loạt bài về nguy cơ suy trầm kinh tế trong năm tới, kỳ này, chúng tôi xin đề nghị là ta sẽ trao đổi về những gì Việt Nam cần chuẩn bị. Nhưng trước hết, xin có một câu hỏi đầu tiên mà nhiều thính giả đang thắc mắc là vòng đàm phán của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO bị bế tắc vào cuối tuần qua, biến cố ấy là gì"

- Thưa biến cố ấy là điều mà Việt Nam cần theo dõi học hỏi trước viễn ảnh sẽ gia nhập tổ chức WTO vào cuối năm nay. Thứ Bảy tuần qua, hội nghị của WTO để khai thông vòng đàm phán Doha thực tế đã tan vỡ và đây là một tin rất kém vui cho các hội viên WTO.

- Hỏi: Xin ông giải thích luôn về vòng đàm phán Doha này và nguyên nhân tan vỡ đó.

- Tháng 11 năm 2001, tại Doha của xứ Qatar ở vùng Vịnh Ba Tư, các hội viên WTO đã mở ra một vòng đàm phán mới nhằm hạ thấp hàng rào giao dịch ngoại thương, như quan thuế biểu hay hạn ngạch nhập khẩu, với mục đích chính yếu là có chế độ mậu dịch công bằng hơn cho các nước nghèo. Sau các kỳ họp tại Cancun của Mexico rồi Genève tại Thụy Sĩ, rồi Paris rồi Hong Kong, gần năm năm đã qua mà mục tiêu đề ra tại Doha vẫn chưa đạt được và vòng đàm phán Doha vì vậy mới được nhiều nước coi là bế tắc, thậm chí sụp đổ.

Mọi cách đại lược, nguyên nhân chính ở đây là hai khối, gồm một bên là các nước công nghiệp hoá và bên kia là các nước đang phát triển, không thống nhất được quan điểm về chính sách trợ cấp nông phẩm của các nước giàu, chủ yếu của Liên hiệp Âu châu trong cái gọi là Chính sách Canh nông chung và của cả Hoa Kỳ. Lý do vắn tắt thì các nước nghèo đòi tối đa mà các nước giàu chỉ nhượng bộ tối thiểu, nhất là các nước đó đều sắp có bầu cử nên bị sức ép rất mạnh của các xu hướng bảo hộ mậu dịch bên trong và không thể lùi được.

- Hỏi: Nếu vậy, hậu quả sẽ ra sao"

- Có người lạc quan, có khi vì lý do ngoại giao chính trị, thì cho rằng vòng đàm phán Doha bị trì hoãn. Người bi quan thì cho là WTO bị khủng hoảng. Tôi thuộc xu hướng bi quan ấy và dự đoán là WTO sẽ bị tê liệt vì là diễn đàn tranh cãi kiện tụng triền miên trong thời gian tới.

Cùng với nhiều định chế quốc tế và các tổ chức ngoài chính phủ mà ta hay gọi tắt là NGO, các nước đang phát triển như Ấn Độ, Brazil và Trung Quốc lẫn các quốc gia xuất khẩu nông phẩm mạnh, như Úc Đại Lợi hoặc cả New Zealand, không chấp nhận được chế độ bảo hộ nông nghiệp của các nước giàu, nhất là Liên hiệp Âu châu. Mà Liên hiệp Âu châu đang bị khủng hoảng về bản sắc và tương lai nên sẽ khó nhượng bộ. Tại Hoa Kỳ cũng vậy, xu hướng bảo hộ mậu dịch đang gây sức ép với chính quyền của Tổng thống Bush cho nên tôi e rằng họp thì cứ họp chứ khai thông thì chưa.

- Hỏi: Nếu những dự đoán ấy là đúng thì tương lai WTO sẽ ra sao và giao dịch ngoại thương giữa các nước sẽ phát triển theo hướng nào"

- Tôi mong là mình đoán sai, nhưng e rằng WTO sẽ bị ách tắc vì là nơi kiện cáo triền miên và vì vậy, các nước khôn ngoan nhất đều đã nghĩ tới khuôn khổ hợp tác khác, là những thỏa ước thương mại song phương, hay cấp vùng, giữa một số quốc gia có liên hệ về địa dư với nhau. Xin nói ngay rằng đây là một kịch bản bất lợi cho các nước đang phát triển, nhưng đang thành hình trong thực tế nếu ta nhớ tới hàng loạt hiệp định thương mại song phương mà Hoa Kỳ, Nhật Bản hay cả Trung Quốc đã ký kết với từng quốc gia, hoặc nếu ta nhớ tới các thỏa ước tự do mậu dịch cấp vùng đang được khai triển từ mấy năm qua.

- Hỏi: Vì sao ông lại cho rằng đấy là điều bất lợi cho các nước đang phát triển"

- Trong một cơ chế đa phương như WTO thì giàu nghèo yếu mạnh gì mỗi quốc gia cũng chỉ có một phiếu và nếu có khiếu nại kiện tụng thì cơ chế quốc tế này sẽ làm trọng tài xét xử. Ngược lại, trong các thỏa ước song phương hay cấp vùng, các nước giàu nhất vẫn giữ thế mạnh và thỏa mãn đòi hỏi cục bộ của từng quốc gia mà vẫn chiếm ưu thế trên tổng thể. Các nước nghèo mà không liên đới với nhau thì từng nước sẽ bị hay được thuyết phục đi vào những chọn lựa riêng lẻ, có lợi riêng cho mình trong trước mắt nhưng vẫn tùy thuộc quá nhiều vào thiện chí của đối tác đã công nghiệp hoá và có thế mạnh. Ngược lại, lãnh đạo một xứ hùng mạnh thì khó hy sinh quyền lợi của từng thành phần cử tri của họ trong một khuôn khổ quốc tế và thay vì phát triển ngoại thương qua WTO thì họ phát triển qua hướng khác, với từng nước hay từng nhóm quốc gia, trên từng địa hạt có chọn lựa.

- Hỏi: Trở lại chuyện Việt Nam, với viễn ảnh sẽ gia nhập WTO mà tổ chức này lại lâm khủng hoảng như ông nói thì tương lai sẽ ra sao"

- Có một sự thật cần nói ra dù làm nhiều người phật ý hoặc kém vui, đó là cảnh trâu chậm uống nước đục. Việt Nam họp chợ quá trễ nên ích lợi thì có đấy nhưng không nhiều như mình hy vọng và trước mắt sẽ gặp nhiều chuyện bẽ bàng nếu cứ lạc quan duy ý chí. Ngay trong khuôn khổ WTO, Việt Nam sẽ gặp vấn đề với các nước hội viên có cùng trình độ phát triển và cạnh tranh trên những thị trường tương tự, trước khi lo sợ là sẽ bị doanh nghiệp Mỹ hay Âu châu đổ bộ và tấn công ngay trên sân của mình, trong thị trường của mình.

Ngược lại, và đây là chuyện chính, Việt Nam cần chú ý nhiều hơn tới thỏa ước song phương với các đối tác quan trọng nhất, và đồng thời cũng cần ý thức được là mình không chiếm thế mạnh trong các hiệp định thương mại song phương đó. Mình cần người ta hơn là người ta cần mình. Một thí dụ nên theo dõi là các hiệp định thương mại song phương mà Hoa Kỳ đã ký kết với các nước Đông Á, gần đây nhất là với Nam Hàn. Mà với Hoa Kỳ thì còn tương đối công bằng dù họ đòi hỏi những điều cần thiết cho người dân Việt Nan là tự do hay nhân quyền, chứ với Trung Quốc thì khác. Việt Nam đã có thói quen ký kết hiệp định bất bình đẳng với Bắc Kinh và lãnh đạo ngày nay còn tích cực và kín đáo hơn trong những ký kết ấy vì Trung Quốc chẳng khi nào nêu vấn đề về dân chủ hay nhân quyền. Họ cần điều khác hơn.

- Hỏi: Chúng ta bước qua phần chính của chương trình, là trong viễn ảnh 2007, khi Việt Nam vừa gia nhập WTO mà kinh tế Đông Á có thể bị suy trầm như ông đã phân tách trong hai kỳ liên tiếp, Việt Nam cần chuẩn bị những gì"

Tôi thiển nghĩ rằng việc đầu tiên chính là một nỗ lực "giải ảo". Tự mình phải giải phóng mình ra khỏi những ảo giác mà đa số do lãnh đạo thổi lên cho quần chúng rồi lại cho rằng đấy là thành tích của chính mình. Ảo giác đầu tiên là tăng trưởng. Đó là tăng trưởng mà không phát triển. Mặt trái của nó là đầu tư quá nhiều mà tăng trưởng quá ít với kết quả không phân phối đồng đều, chìm bên dưới là nạn tham nhũng và thất thoát tài sản quốc gia.

- Hỏi: Việt Nam hiện có tốc độ tăng trưởng khoảng 7-8% và có lẽ chỉ thua Trung Quốc thôi, vì sao ông lại gọi kết quả ấy là ảo giác"

- Xin nói tới ý niệm của kinh tế học nhập môn mà giới lãnh đạo kinh tế tại Việt Nam đều nghe ngoại quốc nói tới là "hệ số gia tăng của đầu tư", nói theo thuật ngữ kinh tế là ICOR. Đó là hệ số đầu tư ở đầu vào so với kết quả ở đầu ra mà ta gọi là mức tăng trưởng. Nó tùy thuộc trình độ tổ chức và kỹ thuật vào từng giai đoạn. Thí dụ như trình độ của Việt Nam ngày nay thì mình đầu tư ba phần sẽ thu hoạch được một. Ở các nước có trình độ tiên tiến hơn, hệ số ấy cao hơn nhiều, phải đầu tư năm phần mới ăn được một. Điều ấy giải thích vì sao các nước bắt đầu phát triển thường có tỷ lệ tăng trưởng rất cao, tới 6-7% một năm, trong khi các nước tiên tiến mà đạt được kết quả chừng 3-4% là hài lòng, 5% là hãn hữu.

- Hỏi: Đó là trường hợp chung cho thế giới, còn trường hợp Việt Nam thì sao"

Nôm na cho trường hợp Việt Nam thì mình có 100 đồng, cố chắt bóp dành 45 đồng cho việc làm ăn hay đầu tư. Ở trình độ sơ khai của mình thì hệ số gia tăng phụ trội của đầu tư có thể ở khoảng số ba, đầu tư ba phần thì tăng được một, nếu đầu tư 45% của Tổng sản lượng GDP thì đáng lẽ tốc độ tăng trưởng phải là 15% GDP; nếu đầu tư 30% sản lượng thì đạt tốc độ 10%, chả có phép lạ gì của đổi mới ở đây cả. Các nước Đông Á đi trước đều đã đạt kỷ lục 10% đó từ hơn ba chục năm trước, mà xã hội của họ công bằng hơn vì kết quả phân phối tốt đẹp hơn. Ngược lại, một thí dụ gần đây của Trung Quốc là thành phố Thiên Tân có đà tăng trưởng đến 20% nhưng chênh lệch giàu nghèo bị đào sâu tại Hoa lục đang là vấn nạn cho lãnh đạo xứ này vì nhiều tỉnh vẫn chưa ra khỏi thế kỷ 19 và nông dân bắt đầu biểu tình, nổi loạn.

So với khối lượng đầu tư của Việt Nam nhờ đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài và gần năm tỷ Mỹ kim của dân hải ngoại gửi về hàng năm thì Việt Nam phải có tốc độ tăng trưởng cao hơn 7-8% rất nhiều. Sở dĩ còn thấp như vậy là vì tham ô và thất thoát. Tôi gọi đó là "ảo giác số một", của cái định hướng xã hội chủ nghĩa, và truyền thông giới đầu tư nước ngoài thì khen Việt Nam giỏi chứ đa số người Việt Nam thì vẫn cúi đầu ngậm ngùi, khó chiu.

- Hỏi: Trong năm tới, nếu tốc độ tăng trưởng có giảm sút thì Việt Nam phải xử trí ra sao"

- Tôi cho là đà tăng trưởng có chậm lại thì cũng không quan trọng bằng một nỗ lực giải ảo thứ hai là quan tâm đến phẩm hơn lượng. Cụ thể là nhìn vào ngân sách chi tiêu gia đình của đại đa số dân chúng vẫn còn rất nghèo, nhất là ở thôn quê và các vùng xa, vùng sâu. Với viễn ảnh kinh tế suy trầm, lạm phát cao mà cạnh tranh lại kịch liệt hơn của năm tới, nông dân và người nghèo sẽ bị thiệt nhất. Chuyện chính yếu vì vậy không phải là cứu vãn doanh nghiệp nhà nước sẽ bị điêu đứng ở đô thị mà là phát triển nông thôn theo quy cách khác và trước mắt là giúp cho nhà nông không bị những giao động lớn về giá cả trên thị trường quốc tế.

Khi nông phẩm được giá, họ không lời nhiều vì cơ chế thu mua và xuất khẩu của mình chưa đủ tinh vi. Khi nông phẩm sụt giá, họ phá sản mà nhà nước chỉ lo cứu vớt doanh nghiệp thu mua và ngân hàng của nhà nước thì người dân bị thiệt và ta không khai thác được lợi thế của tự do mậu dịch. Chúng ta sẽ còn cơ hội trở lại những vấn đề này trong các kỳ tới.

 

Mỗi độ tháng Sáu, sự chú ý của công luận Hoa Kỳ lại dồn về Tối cao Pháp viện, khi cơ quan này lần lượt công bố những phán quyết có ảnh hưởng sâu rộng nhất. Nhưng ít ai biết rằng trước khi một phán quyết được đăng tải trên các trang nhất các tờ nhật báo, nó đã được hình thành qua một tiến trình pháp lý chặt chẽ và phần lớn diễn ra sau cánh cửa kín. Tiến trình ấy gồm nhiều giai đoạn: từ việc chọn lọc đơn kiện, hội nghị nội bộ, nộp bản luận cứ, khẩu luận, cho đến khi ban hành ý kiến chính thức của tòa. Theo các học giả luật hiến pháp, muốn hiểu cách cơ quan tư pháp cao nhất nước Mỹ định hình chính sách, cần nhìn vào chính guồng máy vận hành kín đáo nhưng nghiêm ngặt này — nơi các tranh chấp văn hóa và chính trị lớn được cân nhắc và định đoạt.
UAV thời nay được gọi là phương tiện điều khiển không người lái, hay còn được gọi là vũ khí điều khiển từ xa. Thực ra, UAV không phải là loại vũ khí mới mẻ gì, nó đã được chế tạo vào năm 1918 bởi hãng Dayton-Wright Airplane Company tại Hoa Kỳ vào cuối Thế Chiến thứ I, với cái tên là Kettering Bug. Ngày nay, UAV được chế tạo tối tân hơn, và sử dụng rộng rãi, thành công, tỏ ra rất hiệu quả trên chiến trường. Vũ khí UAV bây giờ không chỉ tàn phá, san bằng những tòa cao ốc thành những đống gạch vụn, nó được chính con người tạo ra để giết con người. Tiếc thay, ngày nay, thế giới vẫn chưa học được cách ngừng làm tổn thương nhau và vẫn chạy đua vũ trang để tiêu diệt lẫn nhau.
Chiều ngày 21 tháng 5 năm 1796, tại dinh tổng thống ở Philadelphia, George Washington và gia đình ngồi vào bàn ăn. Đó là một trong những bữa tối cuối cùng của họ trong thành phố, trước khi trở về Mount Vernon nghỉ hè. Bên ngoài nhịp sinh hoạt quen thuộc ấy, một người đàn bà trẻ đang chuẩn bị cho một cuộc ra đi không có đường trở lại. Tên bà là Ona Judge. Bà bị giữ trong thân phận nô lệ trong nhà Washington. Trong lúc gia đình vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ dùng bữa, Judge lặng lẽ bước ra khỏi dinh thự. Không trống, không kèn, không nhân chứng chính thức. Chỉ có một người đàn bà trẻ rời khỏi nơi giam giữ đời mình để đi về phía tự do.
Trong chính trị học, guồng máy chính quyền hay nhà nước dân chủ như quy định trong hiến pháp bao gồm 3 thực thể gọi là tam quyền phân lập: Hành Pháp, Lập Pháp và Tư Pháp.Vì tính tối cao của hiến pháp nên trách nhiệm bảo vệ hiến pháp là nền tảng không thế thiếu trong một nền dân chủ pháp trị chân chánh. Chính quyền vận hành theo trình tự được quy định trong hiến pháp và hiến pháp này luôn được bảo vệ bởi một định chế độc lập, giám sát sự vận hành của lập pháp và hành pháp. Định chế độc lập này thông thường là một Tối Cao Pháp Viện, đứng đầu ngành Tư Pháp.
Một khuynh hướng khinh ghét phụ nữ đang dần trở thành sợi dây liên kết quan trọng trong giới bảo thủ tại Hoa Kỳ. Mục sư Douglas Wilson gần đây đưa ra một “đề nghị khiêm tốn”: hủy bỏ Tu chính án 19, tức điều khoản Hiến pháp bảo đảm quyền đi bầu của phụ nữ. Theo ông, đời sống chính trị nên tổ chức như trong giáo hội, nghĩa là mỗi gia đình chỉ có một lá phiếu. Wilson là người đồng sáng lập một hệ phái Tin Lành cải cách đặt trụ sở tại Moscow, tiểu bang Idaho. Trong gần nửa thế kỷ, ông gây dựng tại đây một mạng lưới gồm nhà xuất bản, trường học, đại học và truyền thông, cùng cổ võ một quan niệm xã hội đặt nền trên thần quyền. Giáo phái của ông có khoảng 170 nhà thờ. Bộ trưởng Quốc phòng hiện nay, ông Pete Hegseth, là một tín đồ, và hồi tháng Hai vừa qua, chính Wilson được mời đến chủ lễ cầu nguyện tại Ngũ Giác Đài. Vì vậy, khi ông nói đến việc tước quyền bầu cử của một nửa dân số, không phải là không có người lắng nghe.
Bạn có thể viết một ca khúc có câu chuyện hay nhất thế giới, một giai điệu đẹp nhất bạn từng nghĩ ra, một câu “móc” đắt giá, nhưng nếu bạn đặt chúng vào sai cấu trúc, bài hát của bạn vẫn sẽ thất bại, vì nó trở thành xa khúc. Người nghe sẽ bỏ đi giữa chừng mà không hiểu tại sao họ thấy chán, và bạn cũng sẽ không hiểu tại sao tác phẩm tâm huyết của mình không chạm được ai.
Cuộc bầu cử sơ bộ ở California sẽ góp phần định hình tương lai bang đông dân nhất nước Mỹ trong nhiều năm tới. Đảng Dân chủ cầm quyền đứng trước một bước ngoặt, trong khi dân chúng vẫn xoay xở với đời sống đắt đỏ, lo các đợt truy quét di dân và thiên tai do biến đổi khí hậu. Dù vậy, nhiều người vẫn chưa mấy quan tâm đến các cuộc đua ảnh hưởng trực tiếp đời sống của họ, nhất là ghế thống đốc. Tuần này, tình hình có thể đổi khác, khi diễn ra hai cuộc tranh luận truyền hình liên tiếp giữa các ứng viên thống đốc, bắt đầu với chương trình trên CNN lúc 6 giờ chiều thứ Ba, giờ California. Các cuộc tranh luận diễn ra đúng lúc lá phiếu đã được gởi đến đa số cử tri, để họ có thể bỏ sớm trước ngày 2 tháng 6.
Sau nhiều dự án lãng phí vì không đạt được mục đích mà còn gây thiệt hại nặng nề cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau hoàn toàn thất bại, dự án cống đập Ba Lai gây rối loạn toàn bộ hệ sinh thái, dự án thoát lũ ra biển Tây cắt mất lũ tự nhiên, nguồn phù sa dinh dưỡng và gây ra sạt lở và sụt lún. Dự án cống đập Cái Lớn Cái Bé có hiệu quả ngăn mặn ngắn hạn, nhưng làm ngọt mặn xáo trộn không đồng bộ với nhu cầu của đồng bằng. Vì thế công trình lớn nào đưa ra bây giờ đều cần phải cân nhắc tránh rủi ro, nhất là những rủi ro có thể thấy trước phải tránh né ngay từ đầu, hay phải có biện pháp giảm thiểu tối đa
Theo Scott Kurashige, viết trên University of California Press ngày 16 tháng 3, 2026, bạo lực chống người Á châu tại Mỹ không phải những cơn bùng phát rời rạc, mà là hậu quả của một lịch sử kỳ thị lâu dài bị phủ nhận, bị làm nhẹ, và nhiều lần bị xoá khỏi ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh chính trị hôm nay, bài viết nhắc rằng muốn hiểu đúng làn sóng thù ghét hiện nay, trước hết phải nhìn thẳng vào phần lịch sử mà nước Mỹ lâu nay tránh đề cập tới.
Giá dầu thế giới tiếp tục leo thang trong khi hỏa tiễn và máy bay không người lái của Iran liên tiếp đánh vào các cơ sở hạ tầng trọng yếu ở các nước Ả Rập vùng Vịnh. Cùng lúc, nhiều trận tập kích nhắm thẳng vào những trạm radar trị giá hàng tỉ đô la của Mỹ tại Trung Đông, khiến không ít trạm bị đánh hư hoặc phá hủy và làm dấy lên câu hỏi: lá chắn phòng thủ của Washington trong khu vực đã suy yếu đến mức nào. Mỹ hiện duy trì một vành đai căn cứ quanh Iran, với hàng chục điểm đồn trú và hàng chục nghìn binh sĩ nằm trong tầm bắn. Từ đó nảy sinh một thắc mắc rất cụ thể: nếu một quả hỏa tiễn được phóng từ lãnh thổ Iran nhằm vào một căn cứ Mỹ, làm sao sĩ quan và binh lính tại chỗ có đủ thời gian để chui vào hầm, tản quân và chuẩn bị đánh chặn?
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.