Hôm nay,  

Căn nhà mơ ước

28/05/202313:55:00(Xem: 5330)
Truyện

Hoi_An

(Cho 3 con, NaNa, Tiểu Muội, Ô Mai để nhớ những ngày cùng khổ).


Thật ra, cho đến ngày "tan hàng" khăn gói đi tù, Nhạc chưa có một căn nhà cho vợ con chui ra, chui vào. Là một sĩ quan ở đơn vị tác chiến, anh chẳng có phương tiện gì để làm ra tiền, ngoài một đám lính chỉ biết bóp cò, gài mìn và hô xung phong, khi đụng trận. Với số lương trung úy, cộng thêm một vợ, ba con, được khoảng bốn chục ngàn đồng một tháng, mà tiền để xây hay mua một căn nhà nho nhỏ cũng gần hơn triệu bạc, nên Nhạc cứ khất đi, khất lại hoài, với Hậu:
    – Mình tạm ở nhà thuê một thời gian đi em, khi nào anh về làm tiểu đoàn trưởng, anh sẽ lo cho em và con hết mình.
    Hậu chỉ biết cười buồn. Nàng không nói gì, vì biết chồng mình đi tác chiến cũng khổ quá, mà lại nguy hiểm vô cùng. Mong giữ cho mạng sống được an toàn đã là điều may mắn lắm rồi, còn đòi hỏi gì đến chuyện nhà cửa. Nhưng Hậu cũng quá khổ với chuyện thuê nhà. Ở chung đụng với chủ nhà cũng bực bội vô cùng.
    Đám con ba đứa của vợ chồng Nhạc, đứa thì mới biết đi, đứa thì còn ẳm trên tay. Đó là cái lỗi tại Nhạc. Mỗi khi đi hành quân về là Nhạc ào vô nàng như con hổ đói. Nàng cũng vậy, hai ba tháng xa chồng nàng cũng nhớ thương chồng lắm, nên hai người không giữ gìn, phòng ngừa gì cả, cứ nhắm mắt nhắm mũi, chúi mũi chúi lái mà hưởng thụ. Đến khi Hậu nghe khó ở trong người, thèm chua, nàng mới biết mình đã dính bầu. Nhạc đang đi hành quân nghe tin vợ mang thai thì mừng húm lên, lần này phải có một thằng con trai để làm giống. Cứ như thế, ba đứa con trong bốn năm chen nhau ra liên tục. Chuyện mơ ước có căn nhà riêng không được thực hiện. Nhạc chưa lên làm được tiểu đoàn trưởng, dù anh đã thăng cấp đại úy được mấy tháng, là đến ngày "trời sụp". Nhạc vô tù, còn Hậu thì lê thê lếch thếch ở vùng kinh tế mới.
    Đến những gần bảy năm sau, Nhạc mới được trở về, mới đưa vợ con từ kinh tế mới về thành phố. Có một điều lạ là người từ thành phố đưa đi kình tế mới, mà vì đói khát quá phải trở về, phải sống "bất hợp pháp" mới thiệt là kỳ.
    Nhạc bị kêu lên công an phường nhiều lần. Công an khu vực, công an đường phố hù dọa đủ điều, cuối cùng là vợ chồng Nhạc bị lệnh trục xuất ra khỏi thành phố. Người công an khu vực lên lớp:
    – Anh là thành phần ngụy, được nhà nước cho về đoàn tụ cùng gia đình, sao anh không tìm nơi có đất đai để sản xuất ra hoa màu, của cải vật chất để sống, mà phải sống chui rúc làm chi. Nay có lệnh của công an quận, trục xuất gia đình anh, anh đi đâu thì đi.
    Vợ Nhạc sống dưới chế độ mới này đã mấy năm, từ ngày "đứt phim" đến nay, nên đã biết rõ cái tâm địa của những tay công an ưa hù doạ dân lành để kiếm bạc cắc, nên tối hôm đó, Hậu gom được đâu mấy chục ngàn, mua cho người công an khu vực túp thuốc lá Sa mít có cán, bỏ nhỏ nó mấy tiếng.
    Viên công an ra vẻ như ban ơn cho Hậu:
    – Gia đình chị là thành phần nguy hiểm, tôi nương tay cho chị cư trú, nhưng phải kín đáo nghe.
    Hậu vâng dạ cho qua chuyện.
    Nhạc suốt ngày "đi cày" trên chiếc xích lô, chạy khắp hết các ngã đường thành phố. Mới đầu thì anh sỉ diện, dù gì cũng là một sĩ quan. Anh bận quần tây, áo sơ mi hay áo thun sạch sẽ. Nhưng dần dà, vì sự làm việc quá cực nhọc, Nhạc trở thành tay phu xích lô nhà nghề thực thụ lúc nào không hay. Bận quần đùi, áo cánh, chạy xe trên đường cười nói nhăng nhít, đón khách, giành giựt, chữi thề, văng tục. Nhiều khi nhìn lại mình, anh thấy như mình không phải là mình ngày trước nữa. Còn Hậu thì mua đi bán lại quần áo cũ ở chợ trời, bỏ mấy đứa con ở nhà leo nheo lóc nhóc. Mỗi khi hai vợ chồng đi về, ai cũng hốc hác mệt nhừ người, lại nghe người chủ nhà than phiền về ba đứa con "phá như giặc" của chàng, nên Nhạc luôn ước có một cái nhà, dù cái nhà đó có thế nào đi nữa cũng là quyền tự do của gia đình anh. Nhưng với lợi tức hai vợ chồng kiếm được thì còn lâu giấc mộng "có cái nhà riêng" mới thành.
 
***
 
Phường 6, quận Tân Bình, có một khu gò mả ăn xuyên qua đường Nguyễn Văn Thoại, nay là Lý Thường Kiệt, gọi là khu mả Thánh. Khu mả toàn chôn cất những người theo đạo công giáo, vì xóm này, nguyên trước kia là là xóm công giáo di cư. Khu mả một ngày một chồng chất lên, trải rộng ra. Đến ngày "trời sụp" thì bên Ủy ban không cho dân chôn cất thân nhân ở đây nữa, lấy cớ là chính quyền cách mạng cần đất cho dân sinh sống hơn là dùng chôn người chết. Và trong dân chúng có tin đồn râm rang là các nghĩa địa sẽ được giải tỏa. Từ các nghĩa địa lớn như nghĩa địa Đô thành, Triều Châu, Quảng Đông, đã giải tỏa xong. Bây giờ đến lượt các nghĩa địa nhỏ cũng rục rịch trong diện giải tỏa. Khu mả Thánh cũng ở trong diện trên. Tin đồn sẽ xây ở đây nào nào chợ, nào nhà thương, trường học...
    Nhạc sáng nào cũng ra ngồi trước quán cà phê vỉa hè gần khu nghĩa địa. Cà phê ở đây chua loét, nhưng được cái rẻ, lại ngồi tán gẫu bao lâu cũng được. Nhạc ngồi nhâm nhi ly cà phê đen cho thoải mái một chút, trước khi lên yên xe xích lô làm kiếp "dân biểu", nghĩa là dân biểu chạy đi đâu, phải chạy đi đó.
    Tình cờ, có tư Thung ngồi sà bên anh tán chuyện. Tự nhiên, tư Thung gợi ý:
    – Chú Nhạc biết không? Khu nghĩa địa này sắp giải tỏa, sẽ thành lập ở đây khu chợ tương lai, sẽ tấp nập vô cùng. Bên kia khu gò mả là nhà tôi. Tôi có chiếm được một lô đất nhỏ, ai có mua, chú giới thiệu tôi bán được, tôi chia tiền cò cho chú. Nhạc hỏi lại:
    – Miếng đất có giấy tờ gì không, chú?
    Tư Thung vểnh môi, nói chắc như đinh đóng cột:
    – Giấy tờ gì, đây là đất nghĩa địa, ai chiếm được là quyền sở hữu, với lại tôi là thương binh cách mạng, tôi có quyền.
    Tư Thung là tay bộ đội phục viên, không biết có công trạng gì với cách mạng không? Chỉ biết là trong chiến tranh, y đã ở trong lực lượng vũ trang "giải phóng miền nam", rồi y bị thương, bị mất một mắt. Bây giờ về vườn y được phường cắt cử trông coi khu nghĩa địa, y tưởng y là một công thần của chế độ mới, nên lúc nào y cũng vênh váo, chẳng coi ai ra gì.
    Nhạc nghĩ đến hoàn cảnh của mình, một miếng đất bên gò mả cũng chả có để dựng một cái nhà, dù là cái chòi đi nữa cũng tự do hơn là ở nhà thuê. Tự nhiên sự ham muốn dâng lên làm anh hồi hộp lạ lùng. Anh hỏi lại tư Thung:
    – Miếng đất đó chú "để" bao nhiêu?
    – Rẻ rề, ba chỉ thôi.
    Nhạc nhẩm tính vốn liếng trong gia đình mình, tất cả không có hơn một chỉ vàng. Chiếc xích lô là cái cần câu cơm thì anh thuê của người ta. Còn vốn liếng chợ trời của Hậu cũng chỉ mấy chục ngàn, mua vô bán ra mà thôi. Nhưng suy nghĩ lại, nếu mua được miếng đất ba chỉ vàng cũng còn rẻ chán. Anh nhẩm tính đến những người thân, bạn bè...Thật ra chẳng còn ai để mà nhờ đỡ. Chế độ mới chưa được mười năm đã làm con người rạt rày thấy rõ. Chỉ có giai cấp mới phất lên mà thôi. Đó là giai cấp cán bộ, công an...ngày càng giàu.
    Nhạc đã cắn câu miếng đất. Hình như trong trí tưởng anh, hình ảnh người chủ nhà nói xách nói mé mỗi khi con anh đùa nghịch phá phách và cả hình ảnh Hậu nữa, nỗi buồn của người đàn bà khi phải sống chung đụng trong một căn nhà với người chủ khó tính, làm nàng gầy hẳn đi. Thương vợ, thương con quá nên Nhạc đánh liều, bảo tư Thung:
    – Tôi cũng đang cần miếng đất để cất một cái nhà nho nhỏ cho có chỗ rúc ra rúc vào. Tôi đi cải tạo về nay đã mất hết, chú có thương tôi thì bớt cho chút đỉnh, tôi lấy miếng đất đó cho.
Tư Thung làm ra vẻ nhân đạo:
    – Tôi biết hoàn cảnh của chú, nhưng giá như vậy là quá rẻ rồi. Bớt mấy ngàn đồng để uống cà phê thì được, chứ bớt nhiều không được đâu. Nhạc đi tới quyết định:
    – Thôi chú giữ miếng đất đó cho tôi. Tôi về chạy thêm coi được bao nhiêu, đủ được thì tôi lấy, chú đừng để cho ai nghe.
    Dù chưa thấy miếng đất bên gò mả thế nào, nhưng Nhạc vẫn vui mừng, khi nghĩ đến cái nhà lợp lá được dựng lên, buổi tối, cha, con, chồng, vợ sẽ quây quần quanh bàn ăn cơm. Rồi các con anh sẽ có chỗ học bài. Nghĩ đến đó, Nhạc thấy như một niềm hạnh phúc rạt rào ùa đến với anh, như anh vừa trúng số độc đắc không bằng.
    Suốt một tuần sau đó, Nhạc và Hậu đã đến gõ cửa không biết bao nhiêu nhà, bà con thân, sơ, bạn bè quen, lạ, gom góp từng tí, từng li mới đủ ba chỉ vàng về chung cho tư Thung, lấy miếng đất.
    Hậu mua một bộ đồ trẻ con mới, thật đẹp, bỏ vô hộp đàng hoàng, kèm theo năm gói thuốc lá Samit có cán, đem đến nhà người công an khu vực, "nhờ anh giúp đỡ để dựng cái nhà ở tạm". Người công an nhận món quà, nói xởi lởi:
    – Chị yên tâm, cứ dựng đi, tôi làm lơ cho.
    Đêm đó, Nhạc và Hậu thao thức mãi, thầm thì to nhỏ. Còn phải kiếm đâu ra khoảng một chỉ vàng nữa, mua lá và cây, cùng trả công thợ. Cuối cùng thì hai vợ chồng đồng ý phải chơi một chân hụi, hốt trước, trả sau. Sau khi thống nhất ý định, hai người coi như là hai kẻ sung sướng nhất trần đời, ôm nhau hôn hít, làm tình ào ạt, rồi quấn nhau ngủ ngon lành, như trên đời này không có ai hạnh phúc bằng họ.
    Căn nhà được vẻ ra trong trí tưởng của hai người là một căn nhà lá đơn sơ, ngang 3 mét, dài 10 mét, xây cất bằng vật liệu nhẹ, dự định trong một chỉ vàng, tính bằng tiền chơi hụi hốt đầu tiên với giá tiền lời cao cắt cổ, nhưng Hậu cũng cố cắn răng hốt cho bằng được. Cầm món tiền hốt hụi trong tay, Hậu mới thấy an tâm, căn nhà trong trí tưởng mới hiện hình lên một chút. Hậu đưa hết số tiền cho Nhạc để Nhạc lên đến tận Tân Phú, nơi có những vựa vật liệu xây dựng bình dân. Tư Thung chỉ vẽ đường đi nước bước cho Nhạc như sau:
    – Chú cứ từ từ mà làm nhà. Làm như cất tạm bợ để qua mặt chính quyền. Rồi sau đó mình sẽ làm thành hình sau. Tui đoan với chú là chắc ăn trăm phần trăm, chính quyền cách mạng là của nhân dân lao động mà. Nhạc nghĩ:
    – Dù mình cư ngụ bất hợp pháp, nhưng là dân ở phường này ai cũng biết, nay mình là phu chạy xích lô, chắc phường quận cũng không làm khó dễ gì đâu.
    Hậu còn muốn chắc ăn hơn, nàng đã ém miệng công an phường, mỗi người một túp thuốc Samit. Trong những năm Nhạc đi tù, Hậu ở nhà một mình, lo chạy vạy nuôi con, nàng đã gặp biết bao gương mặt công an. Tên nào nói năng cũng xoành xoạch như sách vở giáo điều, từ trung ương đưa xuống địa phương, nhưng hai tay lúc nào cũng giơ ra nhận tiền hối lộ. Nó không chừa một mánh khóe nào để thu lợi vào cho cá nhân, từ bao thuốc lá Hoa Mai hay Đà Lạt, đến bao thuốc lá thơm có cán thịnh hành là thuốc Samit nhập lậu từ đường Campuchia.
    Trước ngày dựng nhà, Hậu sửa soạn sẳn một mâm cổ bàn nhỏ để cúng đất, cúng các vong hồn chôn chung quanh khu nghĩa địa, để cho gia đình nàng được về cư ngụ gần gũi. Cúng tất cả để được bình yên.
    Nhìn khuôn mặt Hậu trịnh trọng xì xụp lạy đất trời, Nhạc nghe lòng mình cũng reo vui như đang xây một căn nhà mới, khang trang, đẹp đẽ, chứ không phải một túp lều bên khu nghĩa địa như thế này đâu. Cái hạnh phúc bé nhỏ nhưng vô cùng cảm động này còn hơn cái hạnh phúc của gia đình nhà mẹ Lê trong Gió Đầu Mùa của nhà văn Thạch Lam, khi được chén cơm gạo mới sốt dẽo đầu mùa. Cái hạnh phúc của hơn năm mươi năm sau, của những người mang danh giải phóng đến thế này đây, một cái chòi bên khu nghĩa địa.
    Thương nhất là ba đứa con của Nhạc, từ ngày biết cha mẹ mình sắp dựng nhà, tụi nó vui lên nhiều lắm. Ở nhà chung thuê của chủ, tụi nó không được tự do nô đùa chạy nhảy, hở ra một chút là bị rầy ngay. Tuổi thơ chỉ có trước mặt một vùng đen tối.
    Cây lá đã được mua xong, Nhạc thuê xe ba gát chở về, vừa đổ trên nền nhà mới đắp, thì từ đâu, xuất hiện ba người công an mặc áo vàng, mang xắc cốt. Cái xắc cốt và màu áo vàng của công an là một ám ảnh với Nhạc, nó gây sự ghê sợ bàng hoàng trong kí ức anh, trong những ngày bị cưỡng bách lao động ở trại tập trung. Màu áo vàng mà anh thường gọi là bọn "bò vàng", đi đến đâu như mang niềm bất hạnh cho mọi người đến đó.
    Ba người cán bộ cách mạng thấy Nhạc đang lui cui phụ với mấy người thợ đắp lại cái nền nhà, liền hỏi ngay:
    – Ai là chủ dựng nhà này? Ở đây là đất đã quy hoạch nghĩa địa của chính quyền địa phương, không được phép dựng nhà bừa bãi. Anh phải dừng công trình lại ngay.
    Nhạc nghe bàng hoàng, biết mình đã gặp thứ dữ, nên đành xuống nước:
    – Thưa ông! Tôi không có nhà ở, vợ con lê thê lếch thếch, buôn gánh bán bưng, có chỗ đất trống tôi xin cất cái chòi ở tạm.
    Người mang xắc cốt có hàm răng vàng kín miệng, lớn tiếng:
    – Chúng tôi là cán bộ bên phòng nhà đất quận, nghe báo cáo ở địa phương có xây cất nhà lậu, trái quy định của nhà nước nên xuống ngay hiện trường, bắt bị cáo phải dừng ngay công tác. Nếu đương sự tiếp tục, tôi sẽ nhờ các đồng chí công an bắt giải về công an quận, mọi khiếu nại sẽ giải quyết sau.
    Nhạc nghe chuyện bắt giữ nên không giám tiếp tục xin xỏ nữa. Anh bảo mấy người thợ nghỉ làm. Người trưởng đoàn nhà đất liền ghi chép vào một biên bản đã được đánh máy sẳn và bắt anh ký vào. Trên đầu dòng luôn luôn có câu: Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam. Độc Lập, Tự Do, Hạnh Phúc. Anh đọc thoáng qua, đó là một biên bản, trong đó có những danh từ rất dao to búa lớn như là "phòng nhà đất quận đã phá vỡ một âm mưu xây cất nhà bất hợp pháp, gây rối trật tự, trị an, làm xáo trộn an ninh và cuộc sống của nhân dân". Ơi! Những danh từ đọc qua nghe đến ớn xương sống, dễ vô lại trại tập trung như chơi.
    Lần làm nhà đó là một thất bại lớn trong cuộc đời Nhạc. Nhạc đã nợ nần của bà con, anh em, bạn bè, một số quá lớn, gần 5 chỉ vàng. Món nợ đó như một trái núi đè lên cuộc đời anh. Anh trở thành một kẻ lừa lọc, giựt hụi. Không giám nhìn mặt ai, sống chui, sống nhũi, để trốn chủ nợ. Anh không có cách gì kiếm ra được 5 chỉ vàng để trả. Gia đình anh lại phải dắt díu đi kinh tế mới lần thứ hai.
    Lần này là một cuộc chạy trốn.

– Trần Yên Hòa

 

Năm giờ sáng. Bàn viết vẫn trống. Tôi nhìn tờ giấy trắng dưới ánh đèn vàng như nhìn vào miệng hố sâu. Ngoài cửa sổ, Manhattan vẫn chưa tỉnh hẳn. Từ căn studio tầng sáu này, tôi nghe thấy tiếng xe rác nghiến bánh trên phố Mott, ai đó la hét bằng tiếng Quảng Đông ở góc phố. Ba mươi hai tuổi. Sáu năm bỏ luật khoa. Bốn năm làm phụ bếp để trả tiền thuê. Hai năm gửi truyện không ai nhận.
Có nhiều lần bà giải thích với các cháu là mình phải tự mình niệm phật, như tự độ cho mình, lúc còn có thể hiểu kẻo khi già yếu quá, lưỡi líu lại, không nói thành tiếng nữa chúng tôi nắm tay già nua của bà thưa rằng khi bà yếu quá dĩ nhiên tụi cháu niệm phật dùm bà hoặc sẽ có ban độ niệm tiếp tục bà đừng lo lắng…Bà tôi cười hiền: mình lo cho mình yên trí hơn người khác làm dùm mình… vả lại ban hộ niệm có tới niệm phật giúp, thì mình cũng may ra có 2,3 phần cứu rỗi… còn lại 7,8 phần là công đức phước đức của người niệm… bà còn lý giải xa hơn: các con ơi, cây sẽ đổ nằm về phía nó đã chọn nghiêng. Bà tôi cũng lý giải xa xôi bóng bẩy mà có lúc chúng tôi chỉ có thể hiểu lơ mơ lờ mờ…
Những nét vẽ ngoằn ngoèo, bí ẩn, màu vàng nâu đậm trên hai cánh tay trần của những cô bạn người Ả Rập mỗi khi họ về nước thăm gia đình và quay trở lại sở làm, những nét vẽ huyền bí ấy cứ thu hút ánh mắt tôi, tự hỏi không biết những hình vẽ ấy thể hiện điều gì, hay chỉ là nghệ thuật thôi? Ghislaine, cô bạn thân người Ả Rập làm cùng phòng giải thích: Mỗi người có một tên khác nhau, người vẽ sẽ dựa vào tên, ngày sinh và tính cách của mình mà vẽ, mỗi kiểu đều khác nhau, biểu tượng cho niềm vui, tình yêu, sự sung túc và câu chúc phúc cho người đó, ví dụ hình vẽ tròn, mandala nói lên sự trọn vẹn; những nét vẽ vươn lên như những sợi dây leo, ý nói hy vọng, phát triển đến sự thành công; vẽ con mắt, hình học là sự trừ khử những điều xấu, xui xẻo của cuộc đời. Hình vẽ ấy được gọi là Henna, người phụ nữ Ả Rập rất tin vào nét vẽ bói toán Henna này như bùa hộ mệnh của mình, không những là nét đẹp văn hóa, tín ngưỡng mà còn là thời trang nữa.
Trong tĩnh lặng của bóng đêm, tôi tỉnh dậy. Tôi đi qua phòng ngủ của chồng, tôi thấy anh trăn trở trong giấc ngủ, hơi thở nặng nề. Tội nghiệp anh, mấy hôm nay bơ phờ, đầu óc thất tán, ai bảo ăn thì ăn, bảo làm thì làm. Chẳng biết mình ăn gì và làm gì. Tôi đứng lặng nhìn anh một lúc, mái tóc thưa thớt, bạc như những sợi cước; trên khuôn mặt quen thuộc, những vết gấp của thời gian chồng lên nhau, anh thật sự đã già lắm rồi. Tôi cúi xuống, kéo chiếc chăn lên ngực anh, đặt nhẹ trên trán anh một nụ hôn, an ủi.
Rất nhiều lần, mình đã nghĩ các chú kiến này chỉ có thể là các ông tiên, bà tiên hay những “quân lính” cực kỳ tinh vi từ Vũ Trụ mới có thể “linh” như vậy. Càng thêm thương họ và biết ơn Vũ Trụ khi cho các chú kiến xuất hiện trên cõi đời, để chúng phải luôn dõi theo chúng ta từng bước và “nhặt” sạch những gì chúng ta đã vung vải, không để phí phạm bất cứ một thứ gì!
Tất cả mười đứa con đều được Mạ thương đặc biệt. Con đầu, con út tất nhiên được thương thật nhiều. Con lập gia đình trễ, hoặc có con muộn, con qua Đức chậm phải chịu phận uống nước đục, con qua Đức sớm phải xa Ba Mạ khi tuổi vừa xong trung học, con trực tiếp chăm sóc Ba Mạ… Tất cả đều có lý do để được Mạ thương thật nhiều. Riêng tôi, chẳng có lý do nào rõ ràng, nhưng tôi vẫn cảm thấy tình thương vô bờ của Mạ. Mạ thương mỗi đứa con đặc biệt, đơn giản vì bầy con là con của Mạ. Tôi cảm động rưng rưng khi anh cả nhắc chuyện ngày xưa. Anh kể, lúc tôi còn bé, Mạ thương tôi lạ lùng. Cứ trước khi đặt tôi vào trong nôi để ngủ, Mạ hun tôi không biết bao nhiêu lần. Mạ vừa ru, vừa hò: “À ơi, ru con, con ngủ cho muồi…” Tiếng hò ru con của Mạ cứ theo anh, văng vẳng trong tai mỗi khi anh nghĩ đến Mạ. Lúc đó, dù còn quá nhỏ, nhưng những lời ru ngọt ngào của Mạ đã khắc sâu vào tâm khảm tôi. Ba kể, Mạ hay nựng nịu hai đứa út song sinh, nói, ai đem núi vàng tới, Mạ cũng không đổi hai cục cưng của Mạ.
Xế trưa và cơn buồn ngủ, chập chờn tình xa mộng mị trong giọng khàn khánh ly làm sao em biết đời sống buồn tênh... ngày tháng nào đã ra đi khi ta còn ngồi lại, như gọi từng phiến buồn rơi rất đều...
Sau nhà vợ chồng tôi có khu vườn nhỏ, cây to cây bé chen chúc vào nhau với các tàng cây đủ cao để tách thành một vòm trời riêng biệt và hoa trái tạo hương sắc quanh năm. Khách đến ai cũng thích ngồi, ai cũng khen khu vườn ấm áp. Cả chim chóc cũng kéo đến ríu rít hằng ngày. Dù sao chúng tôi vẫn yêu nhất mùa xuân, những búp lá nụ hoa căng tràn sức sống, như yêu tuổi dậy thì của chúng tôi đã bung nở giữa Sài Gòn.
VIETNAMESE REFUGEES CAMP là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.