Hôm nay,  

Bính Ngọ Ơi!

06/02/202600:00:00(Xem: 1951)
 Hinh conh ngua 3
 
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966.
 
Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là  năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
 
Nhưng tuổi trẻ vốn dĩ năng động, lại có máu “ngựa” hăng hái nên chúng tôi mau chóng phá bỏ những ngập ngừng xa lạ ban đầu, từ mùa Xuân đầu tiên của năm ấy. Trường tổ chức liên hoan văn nghệ, lớp tôi ngoài vài mục đơn ca là phần hợp ca kèm hoạt cảnh Hội Nghị Diên Hồng (Nhạc Lưu Hữu Phước- Lời Việt Tiến). Suốt hai tuần tập dợt sau giờ học, là những trận cười đau bụng, khi nhóm đóng vai ông già bà cả đi tham dự Hội Nghị Diên Hồng phải diễn y như thiệt, nhưng hễ nhìn thấy chàng lớp phó cầm loa bắt đầu tiết mục, ngân nga: “...Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, biên thùy rung chuyển…” là chúng tôi không nhịn được cười . Rồi nhóm hợp ca, khi thấy nhóm “ông già bà cả” còng lưng run rẩy đi dự Hội Nghị thì bật cười ha hả, không thể nào cất tiếng ca: “Kìa vầng hồng bừng chiếu trên đỉnh núi, ôi Thăng Long khói kinh kỳ phơi phới…”! Cứ vài lần như thế, chàng lớp trưởng ra lệnh mọi người phải diễn tập nghiêm túc vì trời đã về chiều tối, còn phải về nhà. Tôi về nhà, vừa ăn cơm vừa nghĩ đến cảnh tập dượt mà tủm tỉm cười một mình. Chưa chính thức đến ngày biểu diễn mà chúng tôi đã gần gũi như tự bao giờ. Sau chương trình văn nghệ toàn trường, mỗi lớp tự liên hoan Tết với nhau. Lớp tôi kéo lên sân thượng trường, là nơi ở của thầy Chủ Nhiệm, thầy người Quảng Nam, món Mì Quảng do mẹ một bạn trong lớp nấu, lần đầu tiên tôi ăn món này vừa lạ vừa đùa giỡn vui chơi với bạn bè nên món ăn bỗng ngon tuyệt vời.
 
Chúng tôi, bầy ngựa non mười tám tuổi
Thức hay mơ đều thấy chuyện thiên đường
Đời vẫn nên thơ dù có lúc buồn
Lòng mở sẵn những ngày vui rạo rực
 
Như thế đấy, suốt ba năm cấp ba, 10A1-11A1-12A1 và vài năm sau nữa khi đã ra trường, chúng tôi vẫn giữ phong tục sáng mồng ba Tết, lớp trưởng và nhóm điều hành lớp, sẽ xuất phát, đi vòng vòng chúc Tết gia đình các bạn trong lớp, từ sáng sớm cho đến chiều, đoàn người ngày càng đông, chúng tôi sẽ kéo nhau đi chúc Tết Thầy Chủ Nhiệm, sau đó cả đám lại kéo nhau ra trung tâm Sài Gòn, chơi Thảo Cầm Viên, Tao Đàn, xem ca nhạc, và lần nào cũng kết thúc tại một quán hủ tíu về khuya trước khi chia tay ai về nhà nấy.
 
Rồi thời gian trôi đi, sau khi ra trường, kẻ vào Đại Học, Cao Đẳng, người đi làm, nỗi nhớ thương lớp cũ trường xưa chưa bao giờ phai nhòa. Chúng tôi vẫn tiếp tục gặp nhau, những buổi picnic tại Núi Bửu Long mùa hè, thăm nhau ngày xuân, số lượng người tham gia dần dần rơi rụng vì cuộc sống mưu sinh, vì gia đình, và cũng có vài bạn “rơi rụng” đúng theo nghĩa đen, vì bệnh hoạn hiểm nghèo, và đau lòng hơn có bạn bỏ xác ngoài Biển Đông trên con đường vượt biển tìm tự do.
 
Những con ngựa năm xưa, nay đã không còn trẻ nữa, mỗi đứa lưu lạc một phương trời, kẻ ở Mỹ, Canada, Úc, Châu Âu, mà dù đông nhất vẫn còn ở lại Việt Nam cũng tản mát khắp chốn, mỗi lần hẹn gặp nhau không phải là chuyện dễ dàng.
 
Thời gian qua đi có trở lại bao giờ! Biết tìm đâu những tháng ngày như Hồ Dzếnh: “Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp ?” và như Hoàng Thi Thơ: “Tìm đâu những ngày chưa biết yêu? Chỉ biết thấy lòng nhớ thương nhiều!”??
Nếu con “ngựa” trong “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” ( Phạm Duy- Ngọc Chánh) chỉ mong về đến bến sông xưa, “cởi mở lòng ra với cõi đời”, thì lũ chúng tôi, tuy không phải là bầy ngựa hoang đàng, nhưng cũng mang trên lưng những dấu vết nhọc nhằn, đôi lúc giữa dòng sông đời hối hả, chỉ ước ao được quay về khúc sông xưa của tuổi học trò mộng mị, dẫu biết rằng đó chỉ là mộng thôi .
 
Đến lúc cứ ngỡ như chẳng còn cơ hội hàn huyên tếu táo với bạn bè thì may mắn thay, thời đại công nghệ bùng nổ, chúng tôi vui sướng “ngồi lại với nhau” như chung lớp học ngày xưa qua Group Facebook 12A1, còn gì hạnh phúc bằng.
 
Lúc đầu mới thành lập nhóm, chỉ gần chục người, nhưng chưa đầy một tháng, các bạn khác lần lượt gia nhập, lên đến con số hơn 30 người, dù chưa phải là đầy đủ sĩ số lớp như xưa, nhưng cũng gọi là đông đảo, nhộn nhịp .
 
Chúng tôi lại tíu tít như tuổi mười tám. Gọi nhau “mày tao” như “khi xưa đôi ta bé ta chơi”, trêu đùa chọc ghẹo, nhắc lại kỷ niệm ba năm dưới mái trường. Có bạn còn vẽ lại sơ đồ lớp, ai ngồi chỗ nào, bạn nào có tật xấu gì, thầy cô nào có những thói quen, bí mật gì … được chúng tôi “bơi móc” ra đầy đủ . Chúng tôi đưa lên Group những tấm hình thuở ấy, những trang “lưu bút ngày xanh” cũng có người còn giữ được, những kỷ vật vô giá của tuổi học trò.
Có bạn khơi lại những câu chuyện tình “anh theo Ngọ về” của lớp, đề tài này hào hứng nhất, vì chúng tôi hầu hết ai cũng tuổi Ngọ, ai cũng muốn “xí” (mơ đi cưng!) bài Ngày Xưa Hoàng Thị (Phạm Thiên Thư- Phạm Duy)  là của riêng mình, thế là có ngay… Ngày Xưa Nguyễn Thị, Trần Thị, Lê Thị, Võ Thị, Bùi Thị … rồi say sưa sống lại những khoảng thời gian hạnh phúc vô tư ấy:
 
Chúng tôi mơ những cánh đồng vô tận
Gió bụi làm đẹp lứa tuổi thanh xuân
Vó ngựa dập dồn không mỏi bước chân
Lòng hối hả như dòng sông cuồn cuộn chảy
 
Tuổi đời thêm chồng chất, lớp Bính Ngọ nay vẫn là những con người ấy, nhưng chín chắn hơn, trưởng thành nhiều hơn.
Giờ đây, lớp chúng tôi vinh dự có một Linh Mục Công Giáo (trước đây là chánh xứ Phú Trung, Tân Bình và hiện nay chánh xứ Phú Hạnh, quận Phú Nhuận) . Có những chàng và nàng bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân thành đạt, kinh doanh thành công. Có chàng bên Úc lập nên nhóm từ thiện Bàn Tay Nhân Ái dành riêng cho lớp và những bạn bè cùng trường cũ. Điều lệ và mục tiêu rõ ràng, các thành viên hải ngoại đóng niên liễm 200 đô một năm, các thành viên ở Việt Nam đóng niên liễm 2 triệu VNĐ một năm, đó là quỹ để giúp cho các trẻ em bị ung thư tại bệnh viện Ung Bướu Gia Định hoặc bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn. Đã hơn 8 năm cho đến nay, nhóm từ thiện hoạt động không ngừng, điều lệ ban đầu dường như chẳng ai nhớ, vì ai có bao nhiêu góp bấy nhiêu, có khi chưa đến hạn kỳ niên liễm, các “mạnh thường quân” của lớp vẫn thỉnh thoảng rót tiền vào quỹ những số tiền lớn, nhỏ, và như thế, Bính Ngọ chúng tôi vẫn luôn sát cánh bên nhau, lúc họp mặt ngoài đời theo từng nhóm khi có dịp, hoặc họp mặt online trên Facebook 12A1 và Facebook Bàn Tay Nhân Ái.
 
Năm nay, Bính Ngọ 2026, chắc hẳn nhiều chàng và nàng Bính Ngọ 1966 khắp nơi đang xao xuyến bồi hồi, ngẩn ngơ nhìn tuổi Xuân trôi qua . Bài viết này xin tặng cho tất cả Bính Ngọ và cho Bính Ngọ lớp tôi với tình yêu và kỷ niệm thời mắt sáng môi hồng, vì lần tới Bính Ngọ sẽ là năm …2086.
Viết tới những dòng chữ này, tôi nhận được tin, có một bạn Bính Ngọ từ San Jose vừa bay về Việt Nam và lớp có buổi họp mặt tại nhà xứ giáo xứ Phú Hạnh, quận Phú Nhuận, của Cha Joseph Lê (một trong những Bính Ngọ 12A1). Nhìn những tấm hình các bạn quây quần vui vẻ, trong đó có tấm hình ổ bánh với hàng chữ “ Mừng Họp Mặt 12A1-Xuân Bính Ngọ 2026” mà Cha Joseph nói hài hước là “ Mừng lục tuần của chúng ta”, khiến lòng tôi nao nao nhung nhớ .
 
Cuối cùng, là bài thơ “Bính Ngọ tôi”, viết riêng cho “chàng Bính Ngọ” cùng lớp năm xưa:
 
NHỮNG MÙA XUÂN PHAI
 
Ai vừa nhắc Bính Ngọ 1966?
Mười tám đôi mươi xanh lắm cuộc đời
Đường vào yêu như một cuộc  dạo chơi
Tôi vụng dại mất người từ dạo đó
 
Khi còn trẻ hồn ta là nắng gió
Mong manh như nắng sớm với mưa chiều
Nên khi người chưa kịp ngỏ tiếng yêu
Tôi đã vội đi tìm tình yêu khác
 
Tôi đâu biết đã vô tình dẫm nát
Nụ hoa tình hé nở một đêm xuân
Người đã vì tôi thương nhớ bao lần
Tình trong trắng tuổi học trò hoa bướm
 
Ôi ngắn ngủi những mùa xuân mới lớn
Đã tàn phai, bể dâu mấy nẻo đường
Chợt bàng hoàng nhớ lại một người thương
Êm ái quá mùa xuân trong ánh mắt
 
Nhưng mà thôi, tình đầu không có thật
Như khói sương tan biến tự bao giờ
Cảm ơn người cho một mối tình thơ
Làm kỷ niệm dù bụi mờ năm tháng
 
Rồi hôm nay có người vừa mới nhắc
Tôi bâng khuâng xao xuyến để được gì?
Những mùa xuân vẫn quanh quẩn về, đi ...
Nhưng Xuân Mộng không bao giờ đến nữa !!!
 
Xuân Bính Ngọ 2026
KIM LOAN
 

Người Việt Nam chúng ta vừa trải qua, ôn lại ký ức tháng 4 với đầy rẩy u buồn, đau thương và tiếc nuối kèm cả oán hận âm ỷ trong lòng. «… 30-04-1975 hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao dìm sâu xuống biển những ghe thuyền tìm cách vượt biên tìm tự do, những con tàu nhỏ, những con người vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt những tháng ngày vất vả sống với chế độ độc tài cộng sản miền Bắc tràn vô Nam…» Đúng thế, họ dựa vào thế lực và sự hậu thuẫn của bè đảng Nga Tầu, họ cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta. Họ vô nhân đạo cưỡng chiếm của cải tài sản của dân miền Nam qua hai lần đổi tiền tháng 9-1975 và tháng 5-1978. Họ đánh tư sản vơ vét của cải của dân miền Nam thu gom vào túi cán bộ và mang về miến Bắc.
Tháng tư ngửa mặt nhìn trời | Nhớ xem hồng nhạn đã rơi phương nào | Cánh chim gãy sợi tóc đau | Con đò chở khẳm nỗi sầu lưu vong.
Tôi mất ý thức về phương hướng. Không gian chỉ còn một chiều, phía trước, phía sau. Phía sau là quê nhà, phía trước là sự chọn lựa. Biển xanh như ngọc khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế. Nó chờ chúng tôi ở đó, hiện hữu ngay cả trước đại dương. Hải phận quốc tế là một huyền thoại. Ai cũng nhắc đến, nhưng không ai biết nó là gì. Ra đến hải phận quốc tế, thì con người không thuộc về đất nước của mình nữa, mà thuộc về cộng đồng thế giới, thích chưa? Lúc ấy trời đất cảm nhau mà biến hóa, từ một sinh hai, từ hai sinh bốn, từ bốn sinh tám. Cứ thế liên miên, bất tuyệt, mọi vật sinh trưởng, người với đất với trời là một. Tồn tại ung dung, có sanh có diệt mà không sanh diệt.
Và nếu bài viết này góp được một phần nhỏ bé vào việc hàn gắn những vết thương âm thầm ấy, thì nó đã làm tròn sứ mệnh của nó.
Năm mươi năm trước những đám mây đen đã bay qua đời... Những vầng mây hải đảo tiếp tục bay theo chiều đếm của 50 mùa xuân, mây bay trên đầu và mây bay trong ký ức. Như một chiều cuối tháng tư Phú Quốc, những đám mây đen nặng chì, chồm xuống màu biển thẫm. Nắng hấp hối núp sau mây vạch từng tia quái gở xuống lòng vịnh...
Cùng trên một con đường, nhà tôi cạnh nhà Thức, cách 2 căn nữa là nhà Vân Ù và tiếp theo là nhà Liên. Bốn đứa chúng tôi chơi thân nhau từ bé và cùng lứa tuổi. Trước 1975 đoạn đường này, nhà nào cũng có cửa hàng buôn bán. Bố mẹ Thức bán quán giải khát giống như nhà tôi, sau 1975 chuyển sang bán bún riêu trước cửa nhà, Thức có hai người chị là giáo viên. Nhà Vân Ù đâu kém gì, trước 1975 là một depot lớn chuyên bán bia, nước ngọt, nước đá, mỗi ngày xe hãng BGI đến giao hàng chục két bia hàng chục cây nước đá, những cây đá này chất đầy trong một cái tủ lớn và ủ trấu, sẽ bỏ mối và bán lẻ cho khách hàng. Người ta gọi bố mẹ Vân Ù bằng cái tên nghề nghiệp "Ông bà Đề Pô".
Ngôi nhà của Anne rất đẹp. Ý tôi muốn nói là chiếc giày. Đó là một ngôi nhà lý tưởng. Những người nào chưa bao giờ nhìn thấy nó sẽ không thể tin được rằng một chiếc giày có thể đẹp đến thế, tức là một ngôi nhà có thể đẹp đến thế. Thực ra, nhu cầu của con người rất giản dị, Anne thầm nghĩ. Bạn không cần phải có lầu cao cửa rộng, không cần phải có nhiều trang sức và tiền bạc lắm. Bạn chỉ cần có một đời sống đầy đủ, thức ăn, áo mặc, chỗ ngủ, vài cuốn tiểu thuyết và truyện ngắn và nhạc Trịnh hay Taylor Swift bên cạnh. Một chiếc giày hoàn toàn có thể phục vụ cho những mục đích đó.
Năm 1956, một phụ nữ trẻ qua đời trên bàn sinh ở Bệnh Viện Trung Ương Huế. Đứa bé mồ côi được các soeur tại Cô Nhi Viện Tây Lục đem về nuôi, đặt tên là Th. Sau này, anh Th nghe các soeur kể rằng cha anh là một “ông Tây nhà đèn” đã hồi hương từ trước khi mẹ anh biết có thai. Dù được các soeur thương yêu và dạy học, cậu bé Th thích phiêu lưu hơn chữ nghĩa nên đã bỏ ra đời kiếm sống bằng nghề đánh giày từ năm mười ba tuổi. Trong thời gian kiếm ăn trên khắp các nẻo đường, cậu đã ngưỡng mộ hình ảnh oai hùng của các anh lính VNCH. Vì thế, khi vừa đủ mười tám tuổi, anh Th tình nguyện nhập ngũ. Sau ba tháng huấn luyện ở trung tâm Giạ Lê, Thừa Thiên, Huế, anh đã chính thức trở thành Binh Nhì của Đại Đội Trinh Sát thuộc Sư Đoàn 1.
Theo tín ngưỡng cổ của người Miến Điện, mỗi cây lớn đều trú ngụ một vị thần gọi là Nat. Trước khi chặt cây, người đó phải xin phép thần cây. Một ngày nọ, một người tiều phu đã bỏ qua quy tắc này. Anh chặt một cây mà không hề báo trước. Thần linh Nāt sống trong cây cảm thấy vô cùng phẫn nộ và quyết định trả thù. ( In old Burmese belief, every large tree shelters a spirit called a Nat. Before anyone cuts a tree, they must ask the spirit for permission. One day, a woodcutter ignored this rule. He chopped down a tree without a word of warning. The Nat who lived inside felt deeply offended and decided to take revenge.)
Anh đã đến căn nhà cũ, 76 Bạch Đằng. Đứng bên kia đường, đối diện, nhìn nhà mình. Mái tóc phai màu, mất thăng bằng, sụp xuống mé phải, cài một cần ăng-ten cong vẹo như chiếc lược hàng nội. Đôi cánh cửa sổ bụi như ghèn bỏ thí trên đôi mắt phụ nữ không buồn trang điểm nữa. Thềm xi măng trước cửa nứt nẻ — nơi mẹ anh thường dội nước những trưa hè cho bớt hơi nóng bốc nực phòng khách. Anh đã gõ cửa nhà mình, lịch sự, như khách. Không ai mở. Cả xóm không còn ai quen. Anh đứng một lúc rồi đi, cảm giác mình là con ma vô hình lục lọi trong nghĩa địa giữa mùa cúng vàng mã.
Đêm không ngủ được, Khoa nằm nhìn trần nhà.Không có lý do gì. Đó mới là vấn đề.Người ta mất ngủ vì lo lắng, vì đau, vì hối hận, những thứ đó anh hiểu. Nhưng Khoa nằm trong phòng máy lạnh mười bảy độ, nệm tốt, gối mềm, và não cứ chạy như một cái máy không có nút tắt mà không sản xuất ra thứ gì cụ thể. Chỉ là... nhiều loại hình ảnh, câu hỏi, câu trả lời nửa chừng, nhảy vọt từ nơi này sang nơi kia, từ người này sang người nọ… một loại trật tự hỗn loạn của người không biết mình đang nghĩ gì. Chợt Anh dừng lại ở khuôn mặt của Linh.
Đến cuối chợ là gian hàng ăn, đập vào mắt tôi là xe hủ tíu mì của một người Tàu rất đông khách. Ông chủ vừa làm hủ tíu vừa rao hàng bằng 3 tiếng Việt-Cam-Tàu. Tôi đã thưởng thức tô hủ tíu Nam Vang ngay giữa lòng Nam Vang (tên cũ của Phnom Penh), một tô hủ tíu ngon đến nhớ đời. Trên đường về, chúng tôi đi qua những con đường rất đẹp, có hàng cây cao bóng mát, có những quán cafe vỉa hè, và đâu đó vang lên những bài hát “nhạc Vàng” của Sài Gòn, mới thấy dân Việt sinh sống nơi đây rất đông.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.