Hôm nay,  

Bính Ngọ Ơi!

06/02/202600:00:00(Xem: 1947)
 Hinh conh ngua 3
 
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966.
 
Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là  năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
 
Nhưng tuổi trẻ vốn dĩ năng động, lại có máu “ngựa” hăng hái nên chúng tôi mau chóng phá bỏ những ngập ngừng xa lạ ban đầu, từ mùa Xuân đầu tiên của năm ấy. Trường tổ chức liên hoan văn nghệ, lớp tôi ngoài vài mục đơn ca là phần hợp ca kèm hoạt cảnh Hội Nghị Diên Hồng (Nhạc Lưu Hữu Phước- Lời Việt Tiến). Suốt hai tuần tập dợt sau giờ học, là những trận cười đau bụng, khi nhóm đóng vai ông già bà cả đi tham dự Hội Nghị Diên Hồng phải diễn y như thiệt, nhưng hễ nhìn thấy chàng lớp phó cầm loa bắt đầu tiết mục, ngân nga: “...Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, biên thùy rung chuyển…” là chúng tôi không nhịn được cười . Rồi nhóm hợp ca, khi thấy nhóm “ông già bà cả” còng lưng run rẩy đi dự Hội Nghị thì bật cười ha hả, không thể nào cất tiếng ca: “Kìa vầng hồng bừng chiếu trên đỉnh núi, ôi Thăng Long khói kinh kỳ phơi phới…”! Cứ vài lần như thế, chàng lớp trưởng ra lệnh mọi người phải diễn tập nghiêm túc vì trời đã về chiều tối, còn phải về nhà. Tôi về nhà, vừa ăn cơm vừa nghĩ đến cảnh tập dượt mà tủm tỉm cười một mình. Chưa chính thức đến ngày biểu diễn mà chúng tôi đã gần gũi như tự bao giờ. Sau chương trình văn nghệ toàn trường, mỗi lớp tự liên hoan Tết với nhau. Lớp tôi kéo lên sân thượng trường, là nơi ở của thầy Chủ Nhiệm, thầy người Quảng Nam, món Mì Quảng do mẹ một bạn trong lớp nấu, lần đầu tiên tôi ăn món này vừa lạ vừa đùa giỡn vui chơi với bạn bè nên món ăn bỗng ngon tuyệt vời.
 
Chúng tôi, bầy ngựa non mười tám tuổi
Thức hay mơ đều thấy chuyện thiên đường
Đời vẫn nên thơ dù có lúc buồn
Lòng mở sẵn những ngày vui rạo rực
 
Như thế đấy, suốt ba năm cấp ba, 10A1-11A1-12A1 và vài năm sau nữa khi đã ra trường, chúng tôi vẫn giữ phong tục sáng mồng ba Tết, lớp trưởng và nhóm điều hành lớp, sẽ xuất phát, đi vòng vòng chúc Tết gia đình các bạn trong lớp, từ sáng sớm cho đến chiều, đoàn người ngày càng đông, chúng tôi sẽ kéo nhau đi chúc Tết Thầy Chủ Nhiệm, sau đó cả đám lại kéo nhau ra trung tâm Sài Gòn, chơi Thảo Cầm Viên, Tao Đàn, xem ca nhạc, và lần nào cũng kết thúc tại một quán hủ tíu về khuya trước khi chia tay ai về nhà nấy.
 
Rồi thời gian trôi đi, sau khi ra trường, kẻ vào Đại Học, Cao Đẳng, người đi làm, nỗi nhớ thương lớp cũ trường xưa chưa bao giờ phai nhòa. Chúng tôi vẫn tiếp tục gặp nhau, những buổi picnic tại Núi Bửu Long mùa hè, thăm nhau ngày xuân, số lượng người tham gia dần dần rơi rụng vì cuộc sống mưu sinh, vì gia đình, và cũng có vài bạn “rơi rụng” đúng theo nghĩa đen, vì bệnh hoạn hiểm nghèo, và đau lòng hơn có bạn bỏ xác ngoài Biển Đông trên con đường vượt biển tìm tự do.
 
Những con ngựa năm xưa, nay đã không còn trẻ nữa, mỗi đứa lưu lạc một phương trời, kẻ ở Mỹ, Canada, Úc, Châu Âu, mà dù đông nhất vẫn còn ở lại Việt Nam cũng tản mát khắp chốn, mỗi lần hẹn gặp nhau không phải là chuyện dễ dàng.
 
Thời gian qua đi có trở lại bao giờ! Biết tìm đâu những tháng ngày như Hồ Dzếnh: “Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp ?” và như Hoàng Thi Thơ: “Tìm đâu những ngày chưa biết yêu? Chỉ biết thấy lòng nhớ thương nhiều!”??
Nếu con “ngựa” trong “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” ( Phạm Duy- Ngọc Chánh) chỉ mong về đến bến sông xưa, “cởi mở lòng ra với cõi đời”, thì lũ chúng tôi, tuy không phải là bầy ngựa hoang đàng, nhưng cũng mang trên lưng những dấu vết nhọc nhằn, đôi lúc giữa dòng sông đời hối hả, chỉ ước ao được quay về khúc sông xưa của tuổi học trò mộng mị, dẫu biết rằng đó chỉ là mộng thôi .
 
Đến lúc cứ ngỡ như chẳng còn cơ hội hàn huyên tếu táo với bạn bè thì may mắn thay, thời đại công nghệ bùng nổ, chúng tôi vui sướng “ngồi lại với nhau” như chung lớp học ngày xưa qua Group Facebook 12A1, còn gì hạnh phúc bằng.
 
Lúc đầu mới thành lập nhóm, chỉ gần chục người, nhưng chưa đầy một tháng, các bạn khác lần lượt gia nhập, lên đến con số hơn 30 người, dù chưa phải là đầy đủ sĩ số lớp như xưa, nhưng cũng gọi là đông đảo, nhộn nhịp .
 
Chúng tôi lại tíu tít như tuổi mười tám. Gọi nhau “mày tao” như “khi xưa đôi ta bé ta chơi”, trêu đùa chọc ghẹo, nhắc lại kỷ niệm ba năm dưới mái trường. Có bạn còn vẽ lại sơ đồ lớp, ai ngồi chỗ nào, bạn nào có tật xấu gì, thầy cô nào có những thói quen, bí mật gì … được chúng tôi “bơi móc” ra đầy đủ . Chúng tôi đưa lên Group những tấm hình thuở ấy, những trang “lưu bút ngày xanh” cũng có người còn giữ được, những kỷ vật vô giá của tuổi học trò.
Có bạn khơi lại những câu chuyện tình “anh theo Ngọ về” của lớp, đề tài này hào hứng nhất, vì chúng tôi hầu hết ai cũng tuổi Ngọ, ai cũng muốn “xí” (mơ đi cưng!) bài Ngày Xưa Hoàng Thị (Phạm Thiên Thư- Phạm Duy)  là của riêng mình, thế là có ngay… Ngày Xưa Nguyễn Thị, Trần Thị, Lê Thị, Võ Thị, Bùi Thị … rồi say sưa sống lại những khoảng thời gian hạnh phúc vô tư ấy:
 
Chúng tôi mơ những cánh đồng vô tận
Gió bụi làm đẹp lứa tuổi thanh xuân
Vó ngựa dập dồn không mỏi bước chân
Lòng hối hả như dòng sông cuồn cuộn chảy
 
Tuổi đời thêm chồng chất, lớp Bính Ngọ nay vẫn là những con người ấy, nhưng chín chắn hơn, trưởng thành nhiều hơn.
Giờ đây, lớp chúng tôi vinh dự có một Linh Mục Công Giáo (trước đây là chánh xứ Phú Trung, Tân Bình và hiện nay chánh xứ Phú Hạnh, quận Phú Nhuận) . Có những chàng và nàng bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân thành đạt, kinh doanh thành công. Có chàng bên Úc lập nên nhóm từ thiện Bàn Tay Nhân Ái dành riêng cho lớp và những bạn bè cùng trường cũ. Điều lệ và mục tiêu rõ ràng, các thành viên hải ngoại đóng niên liễm 200 đô một năm, các thành viên ở Việt Nam đóng niên liễm 2 triệu VNĐ một năm, đó là quỹ để giúp cho các trẻ em bị ung thư tại bệnh viện Ung Bướu Gia Định hoặc bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn. Đã hơn 8 năm cho đến nay, nhóm từ thiện hoạt động không ngừng, điều lệ ban đầu dường như chẳng ai nhớ, vì ai có bao nhiêu góp bấy nhiêu, có khi chưa đến hạn kỳ niên liễm, các “mạnh thường quân” của lớp vẫn thỉnh thoảng rót tiền vào quỹ những số tiền lớn, nhỏ, và như thế, Bính Ngọ chúng tôi vẫn luôn sát cánh bên nhau, lúc họp mặt ngoài đời theo từng nhóm khi có dịp, hoặc họp mặt online trên Facebook 12A1 và Facebook Bàn Tay Nhân Ái.
 
Năm nay, Bính Ngọ 2026, chắc hẳn nhiều chàng và nàng Bính Ngọ 1966 khắp nơi đang xao xuyến bồi hồi, ngẩn ngơ nhìn tuổi Xuân trôi qua . Bài viết này xin tặng cho tất cả Bính Ngọ và cho Bính Ngọ lớp tôi với tình yêu và kỷ niệm thời mắt sáng môi hồng, vì lần tới Bính Ngọ sẽ là năm …2086.
Viết tới những dòng chữ này, tôi nhận được tin, có một bạn Bính Ngọ từ San Jose vừa bay về Việt Nam và lớp có buổi họp mặt tại nhà xứ giáo xứ Phú Hạnh, quận Phú Nhuận, của Cha Joseph Lê (một trong những Bính Ngọ 12A1). Nhìn những tấm hình các bạn quây quần vui vẻ, trong đó có tấm hình ổ bánh với hàng chữ “ Mừng Họp Mặt 12A1-Xuân Bính Ngọ 2026” mà Cha Joseph nói hài hước là “ Mừng lục tuần của chúng ta”, khiến lòng tôi nao nao nhung nhớ .
 
Cuối cùng, là bài thơ “Bính Ngọ tôi”, viết riêng cho “chàng Bính Ngọ” cùng lớp năm xưa:
 
NHỮNG MÙA XUÂN PHAI
 
Ai vừa nhắc Bính Ngọ 1966?
Mười tám đôi mươi xanh lắm cuộc đời
Đường vào yêu như một cuộc  dạo chơi
Tôi vụng dại mất người từ dạo đó
 
Khi còn trẻ hồn ta là nắng gió
Mong manh như nắng sớm với mưa chiều
Nên khi người chưa kịp ngỏ tiếng yêu
Tôi đã vội đi tìm tình yêu khác
 
Tôi đâu biết đã vô tình dẫm nát
Nụ hoa tình hé nở một đêm xuân
Người đã vì tôi thương nhớ bao lần
Tình trong trắng tuổi học trò hoa bướm
 
Ôi ngắn ngủi những mùa xuân mới lớn
Đã tàn phai, bể dâu mấy nẻo đường
Chợt bàng hoàng nhớ lại một người thương
Êm ái quá mùa xuân trong ánh mắt
 
Nhưng mà thôi, tình đầu không có thật
Như khói sương tan biến tự bao giờ
Cảm ơn người cho một mối tình thơ
Làm kỷ niệm dù bụi mờ năm tháng
 
Rồi hôm nay có người vừa mới nhắc
Tôi bâng khuâng xao xuyến để được gì?
Những mùa xuân vẫn quanh quẩn về, đi ...
Nhưng Xuân Mộng không bao giờ đến nữa !!!
 
Xuân Bính Ngọ 2026
KIM LOAN
 

Nhóm cựu nhân viên Phòng Thương Vụ Úc người Việt đang sống ở Sài Gòn, Hà Nội, Úc, Mỹ, Canada email cho nhau về sự ra đi của cựu tổng giám đốc Austrade vùng Đông Bắc Á, cùng hồi tưởng về một “ông xếp lớn” người Úc dễ thương, gần gũi, với tình yêu đặc biệt dành cho đất nước và con người Việt Nam.
Theo số liệu của Cục Thống kê Dân số Hoa Kỳ, năm 1990 có 1.000 người Việt ở St. Petersburg và 600 ở Tampa. Đến nay con số lên đến 21.000 cho toàn vùng Vịnh Tampa, gồm các thành phố Pinellas Park, St. Petersburg, Tampa, Largo, Clearwater. Một số làm việc cho các hãng xưởng, nhiều người làm móng tay. Có người đi câu, lưới cá về bán hay buôn bán rau trái.
Dù chưa đến tuổi nghỉ hưu, nhưng con cái đã lớn, tài chánh gia đình không còn là nỗi lo, Nàng quyết định đi làm volunteer tại một Nhà Già (Retirement Home). Lúc đầu, nàng muốn làm chỗ Nhà Già dành cho người Việt để Nàng được trò chuyện lắng nghe tâm tình của những “cư dân”, nhưng nơi đó khá xa, ông xã khuyên nàng chọn làm chỗ gần nhà, chỉ có 3 blocks đường đi bộ, người Tây họ cũng có những nỗi lòng, những câu chuyện đời để cần người chia sẻ.
“Ngày nào em cũng nhắc mà anh cứ quên hoài. Rán uống thuốc cho mau hết bịnh,” cô chưa kịp dứt lời thì một tiếng sủa bung ra cùng lúc với cái gạt tay hung hãn, “Hết cái con mẹ cô ấy!” Ly nước tay này, lọ thuốc tay kia cùng lúc bật khỏi tay cô, văng xuống nền xi măng, ném ra một mảng âm thanh chát chúa. Cái ly vỡ tan. Nước văng tung tóe, những mảnh thủy tinh văng khắp chung quanh, vạch những tia màu lấp lánh. Không dám nhìn vào hai con mắt đỏ lửa, cô cúi đầu dán mắt vào vũng nước loang loáng, vào những viên thuốc vung vãi trên nền nhà. Những viên thuốc đủ màu làm cô hoa mắt (viên màu vàng trị đau, viên màu đỏ an thần, viên màu nâu dỗ giấc ngủ, cô nhớ rõ như thế...) Một viên màu đỏ lăn tới chân cô.
Tôi định cư tại San Diego đã ngoài bốn mươi năm qua. Vùng đất hiếm hoi khó có nơi nào sánh được: bởi chỉ nội trong một ngày lái xe quanh quẩn, người ta có thể đi từ biển lên núi, từ rừng xanh đến sa mạc, thưởng ngoạn đủ đầy hương sắc của đất trời. Sáng sớm thong dong bên vịnh Mission, mặt nước yên như tờ, hàng cọ in bóng trên nền sương mỏng. Trưa ghé Julian, nhâm nhi ly cà phê hay lát bánh táo giữa tiết trời lành lạnh và màu xanh thăm thẳm của rừng thông. Chiều về, con đường tới Borrego mở ra vùng sa mạc hoang vu, xương rồng rải rác trên nền đá đỏ. Suốt dọc hành trình đâu đó hiện ra vườn cam, vườn bơ, đồng nho trĩu quả giữa thung lũng nắng chan hòa. Cảnh vật thay đổi không ngừng, khi mộc mạc, lúc rực rỡ, nhưng vẫn hài hòa như một bản nhạc êm dịu của đất trời. Mỗi lần lái xe ngang qua, tôi cảm thấy mình như được nối lại với nhịp sống của đất, và lòng bỗng nhẹ nhàng lạ thường.
Nhà kho Walmart ở ngoại ô Dallas chiều 24 tháng 12 lạnh như cái tủ đông bị quên đóng cửa. Đèn neon trên trần sáng trắng, lâu lâu chớp một cái như mệt mỏi. Mùi nhựa mới, mùi carton ẩm và tí mùi dầu máy trộn lại với nhau, cảm thấy nghèn nghẹn như cổ họng khi nuốt tin xấu. Tôi đứng giữa hai dãy kệ cao ngất, tay cầm clipboard, tay kia nhét sâu trong túi áo khoác xanh có logo Walmart. Đồng hồ trên tay: 5:17 PM. Giáng Sinh, Walmart đóng cửa sớm lúc 6 giờ. Nếu rời đúng giờ, chạy bốn tiếng, trừ chút kẹt xe, tôi sẽ về đến Houston khoảng mười, mười rưỡi. Trễ, nhưng vẫn còn kịp thấy tụi nhỏ mở quà.
Khi những ngày tháng cuối của một năm đang dần hết, chúng ta thường có lúc bồi hồi nhớ về cố hương, về mảnh đất chôn nhau cắt rốn, hoặc nơi đã in dấu nhiều kỷ niệm đã qua trong đời. Và tôi cũng vậy, xin được nhớ về Gò Vấp, nơi có địa danh Xóm Mới, vùng ngoại ô không xa Sài Gòn, được nhiều người biết đến như vùng đất với nhiều dân Bắc kỳ di cư, nổi tiếng là khu Xóm Đạo, đã từng là nơi sản xuất pháo cùng với món thịt cầy (mộc tồn) lừng danh.
Ông từ người Papua New Guinea đón cha xứ mới người Việt Nam trước cổng nhà xứ. Dáng người ông từ khoảng chừng 30, khuôn mặt PNG nâu nâu đậm nét đăm chiêu, ánh mắt ẩn hiện nét hồi tưởng. Khi nhìn thấy cha xứ mới đang kiên nhẫn đứng đợi dưới mái hiên nhà xứ, nụ cười xuất hiện trên môi ông từ để lộ hàm răng trắng đều thường thấy nơi người bản xứ. Nhưng nụ cười ấy vụt tắt khi ông mở cửa, mời cha xứ lên xe. Ông từ nhanh chóng quay về lại trạng thái khô khốc khi chiếc xe cũ lăn bánh nhọc nhằn trên con đường đá sỏi gập ghềnh. Sau vài câu trao đổi xã giao ngắn gọn, ông từ lại chìm vào trạng thái im lặng. Thời gian trôi qua, năm phút rồi mà vẫn không ai nói thêm một lời nào. Cuối cùng cha xứ lên tiếng,
Giáo Sư Dương Ngọc Sum, với tôi, là hình ảnh tiêu biểu, đáng kính từ nhân cách, hiếu học, luôn luôn cởi mở, tính tình hòa nhã, thân thiện với mọi người. Ông định cư tại Hoa Kỳ theo diện H.O 3 vào tháng 7 năm 1990 (trước tôi một tháng, H.O 4) và cũng trải qua những giai đoạn thăng trầm trong tháng ngày tị nạn. Nhân dịp kỷ niệm Lễ Thượng Thọ 90 tuổi của GS Dương Ngọc Sum, nhà giáo và nhà văn, nhà thơ Dương Tử, viết những dòng về ông
Mấy chị em tôi chia nhau mua nhiều loại báo: Làng Văn, Thế Kỷ 21, Văn, Văn Học… chuyền tay nhau đọc. Tôi “quen” Thế Kỷ 21 đã lâu, nhưng chỉ là quan hệ... đơn phương. Vào những năm 90 của thế kỷ trước, tôi gởi bài đến tờ báo Măng Non, sau này đổi thành Văn Nghệ Trẻ của nhà văn Ngô Nguyên Dũng ở Tây Đức. Mãi năm 2003, tôi mon men vượt đại dương, tìm đến Làng Văn Canada. Được thời gian ngắn, anh Ngô Nguyên Dũng cho biết, báo Làng Văn phải đình bản, vì những khó khăn về tài chánh. Duyên văn nghệ của tôi với Làng Văn chưa kịp “bén” đã chấm dứt. Nghe chị Hoàng Nga “mách nhỏ”, tôi gởi bài đến Văn Học. Có lẽ địa chỉ hotmail của tôi bị nhầm là thư rác, junkmail, điện thư bị trả lại với lý do không giao thư được. Tôi vẫn tiếp tục viết, xếp trong “tủ”, lâu lâu đem ra đọc. Mỗi lần đọc, dặm thêm chút “mắm muối”.
Tôi học được cụm động từ “đi lăng quăng” của bố Sỹ vào những ngày còn học tiểu học. Sau giờ tan trường hay vào cuối tuần, thỉnh thoảng bố lại hỏi mấy thằng con trai: “Có đi lăng quăng không?” Dĩ nhiên là có rồi! Ngồi ở thùng xe phía sau chiếc Daihatsu, chúng tôi theo bố đi giao sách ở những tiệm sách, sạp báo ở trung tâm Sài Gòn. Cũng có khi chỉ là ra một công viên, chúng tôi được chạy nhảy, trong khi bố ngồi trên xe viết lách. Không rõ có bao nhiêu tác phẩm của Doãn Quốc Sỹ được viết trong hoàn cảnh này. Rồi cụm từ “đi lăng quăng” trở lại sau gần một nửa thế kỷ. Ở căn nhà Lampson thành phố Garden Grove, mỗi chiều tôi đi làm về ghé qua, bố đã ngồi đợi trước cửa. Thấy tôi đến, bố hỏi ngay: “Có đi lăng quăng không?” Thế là hai bố con bắt đầu hành trình “lăng quăng” đúng nghĩa, qua những khu dân cư ở gần nhà. Đi không có phải là để đến một nơi chốn nào đó. Đi chỉ để mà đi, để hai bố con có thì giờ ngồi bên nhau trò chuyện. 50 năm trước, bố chở con đi; 50 năm sau đổi ngược lại.
Buổi sáng cuối cùng ở Chamonix im lặng lạ thường. Suốt đêm qua, tôi đã để cửa sỗ mở toang, nên khi giựt mình thức dậy, ánh sáng trong suốt của núi tràn đầy phòng. Tấm mền len và drap giường trắng lóa như được phủ lân tinh. Không một tiếng động nào từ dưới đường phố vọng lên. Chỉ có hơi lạnh. Tôi nằm co ro và nghĩ đến ly cà-phê đen. Mùi thơm sẽ bốc lên cùng hơi nóng, rồi tan dần vào không khí. Giống như ký ức. Đôi giày đóng đầy đất bùn và gậy trekking đã xếp gọn gàng trong bao duffle cùng với áo quần đi núi từ đêm hôm qua. Chúng nằm bên cửa, sẵn sàng lên đường. Bên ngoài cửa sổ, rặng núi Mont Blanc vẫn kia, vẫn vĩ đại, vẫn trùng điệp, vẫn lặng lẽ xa xăm. Tôi nghĩ đến 11 ngày vừa qua và cảm thấy buồn buồn, làm như có điều gì tôi đã đánh mất, hay đã để quên trên ngọn núi kia, ở đâu đó, trong quãng đường dài tôi đã đi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.