Hôm nay,  

Bính Ngọ Ơi!

06/02/202600:00:00(Xem: 2103)
 Hinh conh ngua 3
 
Là lũ chúng tôi đấy, những con “ngựa” sinh năm Bính Ngọ 1966.
 
Năm đầu tiên bước vào ngưỡng cửa cấp ba, chúng tôi còn ngơ ngác, nhìn nhau …phòng thủ nhiều hơn là thân thiện . Bởi đó là  năm lớp 10, vừa mới chia tay bạn bè, thầy cô của mái trường cấp hai, lại nghe nói lớp 10A1 năm nay sẽ là “Lớp Điểm” dành cho những học sinh được tuyển thẳng từ lớp 9 lên lớp 10 và những học sinh đạt điểm cao trong kỳ thi lên lớp 10 .
 
Nhưng tuổi trẻ vốn dĩ năng động, lại có máu “ngựa” hăng hái nên chúng tôi mau chóng phá bỏ những ngập ngừng xa lạ ban đầu, từ mùa Xuân đầu tiên của năm ấy. Trường tổ chức liên hoan văn nghệ, lớp tôi ngoài vài mục đơn ca là phần hợp ca kèm hoạt cảnh Hội Nghị Diên Hồng (Nhạc Lưu Hữu Phước- Lời Việt Tiến). Suốt hai tuần tập dợt sau giờ học, là những trận cười đau bụng, khi nhóm đóng vai ông già bà cả đi tham dự Hội Nghị Diên Hồng phải diễn y như thiệt, nhưng hễ nhìn thấy chàng lớp phó cầm loa bắt đầu tiết mục, ngân nga: “...Toàn dân nghe chăng, sơn hà nguy biến, hận thù đằng đằng, biên thùy rung chuyển…” là chúng tôi không nhịn được cười . Rồi nhóm hợp ca, khi thấy nhóm “ông già bà cả” còng lưng run rẩy đi dự Hội Nghị thì bật cười ha hả, không thể nào cất tiếng ca: “Kìa vầng hồng bừng chiếu trên đỉnh núi, ôi Thăng Long khói kinh kỳ phơi phới…”! Cứ vài lần như thế, chàng lớp trưởng ra lệnh mọi người phải diễn tập nghiêm túc vì trời đã về chiều tối, còn phải về nhà. Tôi về nhà, vừa ăn cơm vừa nghĩ đến cảnh tập dượt mà tủm tỉm cười một mình. Chưa chính thức đến ngày biểu diễn mà chúng tôi đã gần gũi như tự bao giờ. Sau chương trình văn nghệ toàn trường, mỗi lớp tự liên hoan Tết với nhau. Lớp tôi kéo lên sân thượng trường, là nơi ở của thầy Chủ Nhiệm, thầy người Quảng Nam, món Mì Quảng do mẹ một bạn trong lớp nấu, lần đầu tiên tôi ăn món này vừa lạ vừa đùa giỡn vui chơi với bạn bè nên món ăn bỗng ngon tuyệt vời.
 
Chúng tôi, bầy ngựa non mười tám tuổi
Thức hay mơ đều thấy chuyện thiên đường
Đời vẫn nên thơ dù có lúc buồn
Lòng mở sẵn những ngày vui rạo rực
 
Như thế đấy, suốt ba năm cấp ba, 10A1-11A1-12A1 và vài năm sau nữa khi đã ra trường, chúng tôi vẫn giữ phong tục sáng mồng ba Tết, lớp trưởng và nhóm điều hành lớp, sẽ xuất phát, đi vòng vòng chúc Tết gia đình các bạn trong lớp, từ sáng sớm cho đến chiều, đoàn người ngày càng đông, chúng tôi sẽ kéo nhau đi chúc Tết Thầy Chủ Nhiệm, sau đó cả đám lại kéo nhau ra trung tâm Sài Gòn, chơi Thảo Cầm Viên, Tao Đàn, xem ca nhạc, và lần nào cũng kết thúc tại một quán hủ tíu về khuya trước khi chia tay ai về nhà nấy.
 
Rồi thời gian trôi đi, sau khi ra trường, kẻ vào Đại Học, Cao Đẳng, người đi làm, nỗi nhớ thương lớp cũ trường xưa chưa bao giờ phai nhòa. Chúng tôi vẫn tiếp tục gặp nhau, những buổi picnic tại Núi Bửu Long mùa hè, thăm nhau ngày xuân, số lượng người tham gia dần dần rơi rụng vì cuộc sống mưu sinh, vì gia đình, và cũng có vài bạn “rơi rụng” đúng theo nghĩa đen, vì bệnh hoạn hiểm nghèo, và đau lòng hơn có bạn bỏ xác ngoài Biển Đông trên con đường vượt biển tìm tự do.
 
Những con ngựa năm xưa, nay đã không còn trẻ nữa, mỗi đứa lưu lạc một phương trời, kẻ ở Mỹ, Canada, Úc, Châu Âu, mà dù đông nhất vẫn còn ở lại Việt Nam cũng tản mát khắp chốn, mỗi lần hẹn gặp nhau không phải là chuyện dễ dàng.
 
Thời gian qua đi có trở lại bao giờ! Biết tìm đâu những tháng ngày như Hồ Dzếnh: “Đời đẹp quá, tôi buồn sao kịp ?” và như Hoàng Thi Thơ: “Tìm đâu những ngày chưa biết yêu? Chỉ biết thấy lòng nhớ thương nhiều!”??
Nếu con “ngựa” trong “Vết Thù Trên Lưng Ngựa Hoang” ( Phạm Duy- Ngọc Chánh) chỉ mong về đến bến sông xưa, “cởi mở lòng ra với cõi đời”, thì lũ chúng tôi, tuy không phải là bầy ngựa hoang đàng, nhưng cũng mang trên lưng những dấu vết nhọc nhằn, đôi lúc giữa dòng sông đời hối hả, chỉ ước ao được quay về khúc sông xưa của tuổi học trò mộng mị, dẫu biết rằng đó chỉ là mộng thôi .
 
Đến lúc cứ ngỡ như chẳng còn cơ hội hàn huyên tếu táo với bạn bè thì may mắn thay, thời đại công nghệ bùng nổ, chúng tôi vui sướng “ngồi lại với nhau” như chung lớp học ngày xưa qua Group Facebook 12A1, còn gì hạnh phúc bằng.
 
Lúc đầu mới thành lập nhóm, chỉ gần chục người, nhưng chưa đầy một tháng, các bạn khác lần lượt gia nhập, lên đến con số hơn 30 người, dù chưa phải là đầy đủ sĩ số lớp như xưa, nhưng cũng gọi là đông đảo, nhộn nhịp .
 
Chúng tôi lại tíu tít như tuổi mười tám. Gọi nhau “mày tao” như “khi xưa đôi ta bé ta chơi”, trêu đùa chọc ghẹo, nhắc lại kỷ niệm ba năm dưới mái trường. Có bạn còn vẽ lại sơ đồ lớp, ai ngồi chỗ nào, bạn nào có tật xấu gì, thầy cô nào có những thói quen, bí mật gì … được chúng tôi “bơi móc” ra đầy đủ . Chúng tôi đưa lên Group những tấm hình thuở ấy, những trang “lưu bút ngày xanh” cũng có người còn giữ được, những kỷ vật vô giá của tuổi học trò.
Có bạn khơi lại những câu chuyện tình “anh theo Ngọ về” của lớp, đề tài này hào hứng nhất, vì chúng tôi hầu hết ai cũng tuổi Ngọ, ai cũng muốn “xí” (mơ đi cưng!) bài Ngày Xưa Hoàng Thị (Phạm Thiên Thư- Phạm Duy)  là của riêng mình, thế là có ngay… Ngày Xưa Nguyễn Thị, Trần Thị, Lê Thị, Võ Thị, Bùi Thị … rồi say sưa sống lại những khoảng thời gian hạnh phúc vô tư ấy:
 
Chúng tôi mơ những cánh đồng vô tận
Gió bụi làm đẹp lứa tuổi thanh xuân
Vó ngựa dập dồn không mỏi bước chân
Lòng hối hả như dòng sông cuồn cuộn chảy
 
Tuổi đời thêm chồng chất, lớp Bính Ngọ nay vẫn là những con người ấy, nhưng chín chắn hơn, trưởng thành nhiều hơn.
Giờ đây, lớp chúng tôi vinh dự có một Linh Mục Công Giáo (trước đây là chánh xứ Phú Trung, Tân Bình và hiện nay chánh xứ Phú Hạnh, quận Phú Nhuận) . Có những chàng và nàng bác sĩ, kỹ sư, doanh nhân thành đạt, kinh doanh thành công. Có chàng bên Úc lập nên nhóm từ thiện Bàn Tay Nhân Ái dành riêng cho lớp và những bạn bè cùng trường cũ. Điều lệ và mục tiêu rõ ràng, các thành viên hải ngoại đóng niên liễm 200 đô một năm, các thành viên ở Việt Nam đóng niên liễm 2 triệu VNĐ một năm, đó là quỹ để giúp cho các trẻ em bị ung thư tại bệnh viện Ung Bướu Gia Định hoặc bệnh viện Nhi Đồng Sài Gòn. Đã hơn 8 năm cho đến nay, nhóm từ thiện hoạt động không ngừng, điều lệ ban đầu dường như chẳng ai nhớ, vì ai có bao nhiêu góp bấy nhiêu, có khi chưa đến hạn kỳ niên liễm, các “mạnh thường quân” của lớp vẫn thỉnh thoảng rót tiền vào quỹ những số tiền lớn, nhỏ, và như thế, Bính Ngọ chúng tôi vẫn luôn sát cánh bên nhau, lúc họp mặt ngoài đời theo từng nhóm khi có dịp, hoặc họp mặt online trên Facebook 12A1 và Facebook Bàn Tay Nhân Ái.
 
Năm nay, Bính Ngọ 2026, chắc hẳn nhiều chàng và nàng Bính Ngọ 1966 khắp nơi đang xao xuyến bồi hồi, ngẩn ngơ nhìn tuổi Xuân trôi qua . Bài viết này xin tặng cho tất cả Bính Ngọ và cho Bính Ngọ lớp tôi với tình yêu và kỷ niệm thời mắt sáng môi hồng, vì lần tới Bính Ngọ sẽ là năm …2086.
Viết tới những dòng chữ này, tôi nhận được tin, có một bạn Bính Ngọ từ San Jose vừa bay về Việt Nam và lớp có buổi họp mặt tại nhà xứ giáo xứ Phú Hạnh, quận Phú Nhuận, của Cha Joseph Lê (một trong những Bính Ngọ 12A1). Nhìn những tấm hình các bạn quây quần vui vẻ, trong đó có tấm hình ổ bánh với hàng chữ “ Mừng Họp Mặt 12A1-Xuân Bính Ngọ 2026” mà Cha Joseph nói hài hước là “ Mừng lục tuần của chúng ta”, khiến lòng tôi nao nao nhung nhớ .
 
Cuối cùng, là bài thơ “Bính Ngọ tôi”, viết riêng cho “chàng Bính Ngọ” cùng lớp năm xưa:
 
NHỮNG MÙA XUÂN PHAI
 
Ai vừa nhắc Bính Ngọ 1966?
Mười tám đôi mươi xanh lắm cuộc đời
Đường vào yêu như một cuộc  dạo chơi
Tôi vụng dại mất người từ dạo đó
 
Khi còn trẻ hồn ta là nắng gió
Mong manh như nắng sớm với mưa chiều
Nên khi người chưa kịp ngỏ tiếng yêu
Tôi đã vội đi tìm tình yêu khác
 
Tôi đâu biết đã vô tình dẫm nát
Nụ hoa tình hé nở một đêm xuân
Người đã vì tôi thương nhớ bao lần
Tình trong trắng tuổi học trò hoa bướm
 
Ôi ngắn ngủi những mùa xuân mới lớn
Đã tàn phai, bể dâu mấy nẻo đường
Chợt bàng hoàng nhớ lại một người thương
Êm ái quá mùa xuân trong ánh mắt
 
Nhưng mà thôi, tình đầu không có thật
Như khói sương tan biến tự bao giờ
Cảm ơn người cho một mối tình thơ
Làm kỷ niệm dù bụi mờ năm tháng
 
Rồi hôm nay có người vừa mới nhắc
Tôi bâng khuâng xao xuyến để được gì?
Những mùa xuân vẫn quanh quẩn về, đi ...
Nhưng Xuân Mộng không bao giờ đến nữa !!!
 
Xuân Bính Ngọ 2026
KIM LOAN
 

Biến cố 30 tháng Tư rồi ập đến. Gia đình tôi rời khỏi Sài Gòn trên một con tàu buôn khởi hành từ Bến Bạch Đằng chỉ vài giờ trước khi Sài Gòn thất thủ. Điều đáng nói là nếu tôi không đậu vào Khoá Đốc sự 22 mà vẫn trú đóng ở Củ Chi trong những ngày cuối của cuộc chiến thì bố mẹ tôi chắc chắn không đành lòng để tôi ở lại mà dẫn các em tôi ra xứ người. Quan niệm sống của bố mẹ tôi lúc ấy là “đi thì đi cả, mà ở thì cũng ở cả”. Kẹt lại trên quê hương thì tôi và bố tôi bị đầy ải nhiều năm trời trong trại tù cải tạo, các em tôi phải bỏ học để bươn chải mưu sinh, và có lẽ mẹ tôi phải dẫn các con về vùng Kinh Tế Mới sống ở chốn rừng thiêng nước độc để hy vọng cả nhà có cái ăn cái mặc như những người bạn của bà, cũng lả vợ các sĩ quan cao cấp của QLVNCH.
Chiếc xe bắt đầu vào xa lộ, chúng tôi rời thành phố mình cư ngụ, đi về hướng đông, hướng đông có mặt trời đang mọc, mặt trời có màu đo đỏ như những quả quít người bạn cho mang theo, vừa đi vừa bóc mặt trời nhỏ. Cây cối hai bên đường vẫn còn nhiều màu xanh, thỉnh thoảng mới có vài cây nhuốm đỏ, như một vết thương rất mới. Chiếc xe như con ngựa hiền lành, con ngựa đi qua những ngọn đồi, những rặng núi, lâu lâu lại thấy một con sông nhỏ ở đâu chạy ra. Dòng nước uốn cong hiện ra rồi lại biến ngay, con sông nhỏ hình như vừa bị ai lấy trộm mang đi giấu ở chốn nào!
Tại Thư viện London, Joseph Conrad có buổi đọc tác phẩm. Sau buổi đọc, một người đàn bà tóc đỏ bước đến. Ông đã thấy bà lẩn quẩn quanh phòng trước đó, bà chọn ngồi ở một chiếc ghế hàng cuối, nhưng ông không quan tâm. Bây giờ, bà nói: “Tôi đã quen ông ở Congo. Tôi biết vợ ông.” Vợ tôi ư? Ông nghĩ. Nhưng như mọi lần sau một buổi đọc, giữa tiếng gầm rú đang rút dần vào bên trong tâm hồn mình, ông hầu như không nghe nổi bà nói gì, cũng chẳng còn nhớ tiếng Anh vận hành ra sao. Có phải bà nói “đời tôi” chứ không phải “vợ tôi” không? Giọng bà, khàn và chói như tiếng quạ, chọc thẳng vào tai ông. Bà nhắc đến một dịp cuối tuần nào đó, khi tất cả bọn họ đã cùng nhau trải qua những ngày đó, rồi hôm sau ông gửi cho bà một lá thư, một bài thơ.
Theo lời mời “ghé chơi cho biết nhà mới” của Dzoanh, một người bạn học cũ, tôi đã bay qua Perth - Tây Úc, và lưu trú tại nhà mới của vợ chồng bạn, tọa lạc trên đường Viola, thành phố Beechboro, phía Nam Perth. Beechboro là một thành phố nhỏ yên tĩnh. Hầu hết những căn nhà có kiến trúc thấp, tường gạch với mái ngói đỏ hoặc đen. Sân trước đều có vườn trồng hoa hồng, hoa giấy, hoặc các loại cây chịu nắng như Thiên Tuế, Cọ, v.v.. Nhà của hai bạn có vườn hoa trái trước sân, được chăm sóc cẩn thận nên nhìn xanh mát, dễ thương.
Căn phòng chỉ còn ánh sáng xanh mờ từ màn hình máy tính. Trên bàn, bên cạnh bộ gõ chữ và con chuột, là một ly scotch vàng óng với viên nước đá trong veo. Chiếc micro sẵn sàng trên chân sắt, treo đằng sau tấm chắn đen để chận những tiếng phì phào. Bên dưới là mấy trang giấy tôi vừa in chiều nay dựng nghiêng trên giá nhạc. Những dấu móc đen chen chúc trên năm dòng kẻ làm tôi nhớ đến một bức hình trắng đen của bầy quạ đậu trên mấy hàng dây điện. Con cúi xuống, con ngẩng lên, con bay lên, rời khỏi mớ dây. Nhưng vẫn có trật tự quy củ.
Sáng nay ở Hayward trời đã lạnh hẳn. Nắng không còn gắt nữa, chỉ còn là một dải lụa vàng mỏng, rớt hững hờ trên hàng cây trước sân. Lá phong bắt đầu úa ở đầu cành. Gió thu đi rất khẽ, khua cái se lạnh tới ngập vào hồn như sợi buồn giăng mắc. Mùa thu nghĩ cũng lạ. Nó không dìm mình xuống như mùa đông, cũng không đốt mình lên như mùa hạ. Nó nâng hồn mình lên, nhẹ hều, như một chiếc lá vừa rời cành. Tôi ngồi yên, không muốn làm gì, chỉ muốn để cho hồn mình bay.
Tôi học hỏi từ hắn bao nhiêu điều tốt lành. Đức kiên nhẫn (hắn có thể chờ tôi bên trong khung cửa hàng giờ đồng hồ), sự điềm tĩnh (hắn không bao giờ nổi nóng, không nhiều lời cãi cọ), sự thâm trầm, sự vắn tắt (hắn ít nói và khi phải nói thì nói ít nhưng câu nói luôn đầy ắp ý nghĩa, hắn không bao giờ lặp lại điều gì mình đã minh định), kín đáo: chôn sâu cảm xúc trong lòng. Giữ kín trong nội tâm. Không than thở khi có điều gì không vừa ý. Âm thầm chịu đựng những điều khắc nghiệt. Không rên rỉ, thở than khi đau đớn. Không tranh luận (khi tôi rầy hắn sao lại nhúng tay vào chén nước, hắn chỉ Meo một tiếng, rồi im lặng dù sau đó tôi có dài dòng giải thích vì sao không nên làm như thế). Khi nhìn hắn săm soi khoảng cách từ sàn nhà lên nóc tủ trước khi nhún mình nhảy lên (hắn chưa bao giờ bước hụt), tôi học được nơi hắn thái độ cẩn trọng, luôn phân tích kỹ lưỡng trước khi bắt tay vào bất cứ công việc gì.
Tôi vẫn còn nhớ hình ảnh nhà văn Cung Tích Biền. Trong 10 năm cuối đời, ông tới định cư ở Quận Cam, California. Người ông nhỏ nhắn, gầy, tóc trắng xõa ra tứ phía, đôi mắt kính dày cộm với đôi mắt nhìn như dường muốn kín đáo, giọng nói xứ Quảng rặt nhưng lại dễ nghe; sức khỏe có lẽ như là tuyệt vời, vì những buổi cùng các bạn văn tụ họp hàn huyên ở nhà bạn Lê Lạc Giao, tôi nhìn thấy ông uống rượu không dè dặt, và vì có một lần ông nói với tôi rằng buổi sáng ông vẫn đi tập tạ ở phòng thể dục. Cung Tích Biền luôn luôn lộ ra cho mọi người biết rằng ông đứng sau lưng người vợ -- chị Hoàng Thị Kim Mai, từng theo học Đại học Văn Khoa SG, người mà ông gọi là Phật Bà Quan Âm của ông, và cũng là người chở ông đi nơi này nơi kia, vì ông không lái xe.
Thế giới chúng ta đang sống, có lúc êm ả dễ chịu như trời vào thu với nắng vàng đủ ấm, với gió hiu hiu tưới mát tâm hồn. Rồi cũng có lúc gió bão cuồng phong kéo tới vì không có gì vĩnh cửu, không có gì độc lập. Kinh nghiệm sống đã cho chúng ta thấy dòng đời là những chuỗi biến cố xen kẽ vào nhau, và có lẽ do đấy, tư tưởng của mỗi chúng ta cũng thay đổi theo biến động, theo thời gian đến rồi đi… và tất nhiên có nhiều phát minh, nhiều sáng tạo mới mẻ đến liên tục, có lúc ta hồ hởi đón nhận… cũng nhiều lúc là những áp lực nặng nề.
Vào đêm Ông nội mất, các gia đình con cháu đã tề tựu hầu như đông đủ. Các cháu còn quá nhỏ, không được cho đến gần. Một chục đứa con nít đứng lúp xúp trên các bậc cầu thang, nhìn Ông từ đàng xa. Ông đã đi dần trong tiếng niệm kinh. Người lớn nói với nhau “Ông đi rồi!” và đám nhỏ cũng nói “đi” như vậy. Ông “đi” nhưng Ông vẫn nằm đó. Mi không nhớ lúc ấy mình có thắc mắc gì không, chỉ nhớ là trong những ngày làm đám cho Ông, các anh chị em thường tụ hết vào một phòng, ngồi thắp những khúc đèn cầy ngắn, xin được sau những buổi cúng. Khi nến chảy hết xuống bàn, bọn nhỏ lại bóc những mảnh sáp vụn dồn vào một cái chén, nung chảy ra, cho mấy sợi tim vào, tiếp tục làm thành một cây đèn cầy mới. Cứ như thế mà hết đêm. Người ta nói trẻ con vui chơi, không biết buồn. Nhưng có đấy! Anh chị em có lúc hỏi nhau: “Ông đã đi đâu rồi?”
Với đấng mày râu, hầu như quen thuộc với cà phê từ cuộc sống đến văn chương. Từ thời còn học sinh nơi phố cổ Hội An cho đến nay đã trên, dưới sáu, bảy thập niên, thuộc dân “ghiền” cà phê, vì vậy khi có bài viết nào về cà phê, thích đọc cho biết sự tình. Vài quyển sách tiêu biểu như The Pleasures and Pains of Coffee của văn hào Pháp Honoré de Balzac, tôn vinh cà phê là nguồn cảm hứng khơi nguồn sáng tạo vô tận. The World Atlas of Coffee của James Hoffmann về các vùng trồng cà phê, giống hạt và phương pháp pha chế. The little Coffee know-it-all của Shawn Steiman bàn về mọi khía cạnh trong cà phê trong cuộc sống…
Vào dịp lễ Vu Lan, mùa báo hiếu, Má của Mi thường nhắc lại tích Mục Liên Thanh Đề. Nhờ có phép thần thông nên Đức đại hiếu Mục Kiền Liên có thể nhìn thấy mẹ của ngài là bà Thanh Đề đang bị đày ải ở địa ngục, do lúc sống bà đã làm nhiều điều ác.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.