THƠ THÁNG BẨY

28/07/202216:41:00(Xem: 4632)

THƠ THY AN

2- Ann Phong, Day Dreaming, 8x8, acrylic with found objects, 2019.2
Tranh Ann Phong.

  

Đếm lại bạn bè

 

bao nhiêu cô đơn hẹn nhau nơi này

chất chồng từng mảnh đời ngang dọc

(đôi khi ngang trái)

đóa hoa héo giữa lòng đại lộ

và giọt mưa nằm yên trên viên sỏi xám đen

 

thời gian đi qua

thật nhẹ nhưng thấm lòng 

ngược xuôi những bước chân trần thế

ai  quên, ai nhớ

bên rìa những phế thải trần gian

 

những câu hỏi tưởng vùi sâu

lại nổi lên từ nước

từ trái tim em rung động

có thể lần cuối cùng

em thấy chiếc lá rơi từ trên cao

như những vô định cuộc đời

rụng lên viên sỏi cạnh tường rêu ẩm mốc

 

người đàn bà nhớ thuở vàng son

cười bên cạnh kẻ làm vườn tưới hoa còm cõi

sợi tóc trắng như một nhắc nhở

con sâu nằm im trên lá

con mèo vàng ốm đói

khu vườn thở hơi dài ngắn

buổi chiều nghe nắng tắt trong lòng

 

điểm danh những bạn bè trên bài thơ chữ dối

chỗ ngồi xô lệch

vụng dại đọc tên và nhớ lại ảnh hình

bao nhiêu đã tàn phai

như ngày lần lữa trên tay

một góc phố nghèo, em giữ dùm tôi

dành cho mai sau trở lại

 

mặt đất bao la

ôi núi sông bát ngát tấm lòng

 

thy an   


 

THƠ CHÚC THANH

1- Ann Phong, The Female Stories, 42x50, Litho print and acrylic, 2019
Tranh Ann Phong.

 

Mộng cũ

 

Trời đem dông bão về ngăn lối

Làm cánh chim bay lạc cuối trời

Xứ lạ tình buồn như cỏ mọc

Quê nhà mộng cũ áng mây trôi

 

Chốn xưa từ độ xa vời vợi

Đã mấy lần thu ở cuối đường

Vất vả tình còn năm ngón nhỏ

Ngồi vùi tránh bóng tóc pha sương

 

Bao giờ trở lại thăm quê cũ

Ngắm những lối xưa những phố phường

Để lắng nghe lòng như nước chảy

Êm đềm ngấm xuống mạch quê hương.

 

 

Tiêu dao

 

Rẽ hoa nhẹ bước xuống thuyền

Mây bay từng dải nghiêng nghiêng sườn đồi

Mặt hồ như tấm lụa phơi

Thuyền tôi vô ý tách đôi mặt hồ

Sóng lan bờ đá xanh mờ

Lòng như ngọn gió quanh bờ tiêu dao

Hỏi thông đứng tắm nắng đào

Sống lâu có nhớ lối vào bồng lai?

 

 

Tình yêu

 

Buổi sáng nhìn mây bay

Nhớ nhau như người đói…

Chiều về nghe gió thổi

Nhớ nhau như người say

 

Tình yêu không phải lửa

Sao nung nấu tâm can.

Tình yêu không là núi

Sao tình đầy gian nan?

 

Tình yêu không phải khói

Sao lòng buồn như mây?

Tình yêu không phải rượu

Sao mắt nhìn như say?

 

Tình yêu không là lụa

Sao vương vấn như tơ?

Tình cũng không có tuổi

Sao bỗng thành thiên thu?

 

Chúc Thanh

 

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ