Pariseine

30/03/202309:43:00(Xem: 3405)

marloes-hilckmann-EUzxLX8p8IA-unsplash


 

 1.

Tim bay qua Đại Tây Dương

           lượn trên thành phố lịch sử

           đậu xuống vai Louis 14 trên lưng ngựa

           đêm không biết tim tên gì

           gọi Pariseine.

 

Tim có thể đi có thể bay có thể bơi

            nhưng tạm thời

            nó cưỡi ngựa trắng Napoléon

            ngày không biết tim tên gì

            gọi Pariseine.

 

Băng qua đền đài Versailles, điện Louvre, nhà thờ Notre Dame, vườn Tuilerie:

            mấy trăm năm chết đứng trong tranh và        tượng,

            bao nhiêu người quá vãng chỉ còn vài           hình hài vẽ khắc,       

            mới ngậm ngùi thời gian vô lý và vô lương,

            kẻ bất tử chẳng nói được gì cho người         chết.

            Nó đậu xuống cổng Triomphe

            nắng không biết tim tên gì

            gọi Pariseine.

 

Băng qua tháp Eiffel, vườn Luxembourg, bảo tàng Armée, lâu đài Bourbon:         

            những kỳ công bằng mồ hôi long lanh           rực rỡ,

            sáng tạo lưu truyền phải chăng gồm máu nghệ sĩ trộn nước mắt dân nghèo?

            thưởng ngoạn về sau phải chăng từ ngưỡng mộ đến tự nhiên quên lãng?

            người nghèo làm nghệ thuật người giàu       lưu truyền cho người nghèo hưởng thụ.

            Những hạt mưa đến vội vàng đi vội vã          không biết tim tên gì

            gọi Pariseine.

2.

Chiếc lá lượm ven sông,

            nhàu nát dưới chân du khách,

            lá ngâm nước bầm giập.

            Chiều 21 tháng 3 năm 2014 chưa hết           mùa xuân,

            có định mệnh nào cho bàn tay cứu lá?

            hay chỉ tình cờ?

            có ân sủng nào cho bàn tay cứu linh             hồn?

            hay chỉ ngẫu hứng?

            Ngàn tượng thần thánh dựng khắp phố        phường, mở mắt đời đời nhìn thấy tang        thương,

            sao muộn màng phép lạ?

            dù sao năm nào lá vẫn rụng,

            đời chỉ có người quét không ai đếm.

 

            Lá rụng vào dòng sông,

            lá chìm xuống thành bùn,

            lá hóa ra  nước nuôi đất từ làng mạc             mọc lên thành phố xây cao đô thị.

 

Viên đá lượm ven sông,

            hình thù dị dạng mòn nhẵn dưới chân           du khách,

            đá vỡ từ thế kỷ 13,

            khi thành trì thất thủ,

            vương triều tan hoang,

            nhiều thứ trọng đại biến mất,

            viên đá vẫn còn.

            Đá rơi vào dòng sông,

            đá chìm xuống đất bùn,

            đá hóa thành sỏi,

            giữ linh hồn cho lá.

 

Để có dòng sông Seine,

            chim muôn ca hót từ trăm thế kỷ, suối           nguồn mây mưa dâng hiến vài ngàn             năm.

Để có dòng sông Seine chia đôi thành phố.

            biết bao thăng trầm thành bại theo sóng       lô nhô, không bao giờ ngơi nghỉ.

Đố ai biết Paris có bao nhiêu tượng?

Đố ai biết sông Seine có bao kẻ chết chìm?

 

Để có một Paris,

            biết bao lần Thượng Đế phải suy nghĩ?

Để có một sông Seine,

            biết bao lần Thượng Đế phải sửa đổi số       phần?

Để có một Paris lầu cao, hàng hàng lớp lớp dãy ngang dãy dọc, đồng hình đồng dạng, duy nhất

            lòng sông Seine ghi lại biết bao thảm            cảnh?

Để có một Paris lộng lẫy tượng thần,

            lòng sông Seine ghi lại biết bao nghệ sĩ        thảm thương cùng tro xương Jeane d'Arc.

Để có một Paris, phố xá hoa đèn rực rỡ, lòng sông Seine ghi lại biết bao đen tối. 

Để có một Paris nổi tiếng trăm năm.

            lòng sông Seine ghi lại biết bao bước           chân qua lại ba mươi bảy chiếc cầu và         oan hồn thảm sát thả trôi .

Để có một Paris xụp đổ,

            lòng sông Seine ghi lại biết bao sự tích         và đợi chờ.

            Đố ai biết Paris bao giờ bị tàn phá?

            Đố ai biết sông Seine bao giờ cạn?

Để có một Paris hôm nay, lòng sông Seine ghi         lại biết bao hơi thở,

            khốn cùng là hơi thở hấp hối, hài lòng           của Paul Celan dưới đáy sông:

            "Ông ấy sống cô đơn trong nhà chỉ chơi       với rắn rồi viết..." (1)

 

Đêm Paris,

            uống rượu dọc bờ  sông ,

            trở về say mòng lúc 2 giờ sáng,

            lạc quận 5 quận 4 quận 3,

            đi mãi trong bóng đen và đèn đường,

            không tìm ra khách sạn,

            ngang qua điện Louvre,

            thấy bóng người đội mũ rộng vành,

            dạng đồ quân nhân thời cũ,

            chìm trong âm u,

            tới gần hỏi thăm đường:

- Thưa ông, tôi đi lạc.

- Westin khách sạn gần thôi.

- Làm sao ông biết tôi?

- Theo dõi chuyện trên đời, tôi là chiếc bóng.

- Nhìn ông rất giống một người, Napoléon?

- Chính tôi. Napoléon Bonaparte.

- Chào ông. Lạ lùng quá! Vì sao ông lạc đến đây?

- Mỗi đêm tôi vẫn đứng nơi này xem thử. Thiên hạ mấy ai nhận quen lịch sử. Họ ca tụng tôi vinh dự trong  Louvre, nhưng thờ ơ ngoài thiên thu đời sống.

- Ông có công với Pháp nhưng có tội sâu rộng. Người chết vì ông, vì giấc mộng đế vương. Lịch sử chẳng qua là xấp giấy tầm thường, buồn vui mỗi ngày chẳng phải phi thường hay sao?

- Cậu nghĩ tôi đáng tội thế nào?

- Nếu tính bằng xác chết, làm sao ông có công lao thật? Nếu tính bằng xác chết, ông là một trong mười sát nhân bậc nhất trên đời.

(Tiếng hát văng vẳng từ sông Seine. Bài Fugue de Mort của Paul Celan. )

Sữa đen lúc rạng đông chúng ta uống buổi hoàng hôn

uống buổi trưa buổi sáng và buổi tối

chúng ta uống và tiếp tục uống

chúng ta đào mộ trên không trung cho người chẳng nằm tù túng.

Ông ấy sống trong nhà chỉ chơi với rắn và viết   (1)

- Cậu giống như Paul Celan, rất tự hào việc làm thi sĩ?

- Tôi làm thơ nhưng không như thi sĩ tin thơ. Tôi làm thơ để thí nghiệm bất ngờ: Những suy nghĩ những kinh nghiệm về thơ thật sự. Tôi muốn viết những tình tự trí tuệ. Những bí mật giữa dòng lệ nụ cười. Những cảm xúc giữa đất và trời, giữa hư và thật, giữa men say rượu mạnh và trà Sen no Rikyu (2).

- A, thí nghiệm. Đúng như vậy. Ai đi tìm thiên thu mà không thí nghiệm? Không thực hành, không biết đúng sai. Mỗi trận chiến là mỗi bài khảo hạch tài binh pháp.Thử thách khả năng cao thấp làm người. Xác nhận tự do ý chí hay ý mệnh do trời.  Anh hùng can đảm hay tình cờ phản ứng. Mỗi chiến tranh là mỗi sử chứng tài năng. Lãnh tụ bất tử hay hoang         mang chết yểu. Tôi thí nghiệm nhiều kiểu chiến tranh, để trí tuệ minh oan cho vô lý mong manh một đời.

- Nói sao ông vẫn có tội giết người. Kết quả đúng hay sai có quá nhiều người chết và nhiều người tiếp tục khổ đau. Còn tôi, đúng hay sai, chỉ bài thơ vô cầu. Hay hoặc dở không mấy ai hơi đâu lưu ý.

- Chứng minh hiện hữu cậu làm thơ đi tìm thẩm mỹ. Chứng minh hiện hữu tôi đánh trận đi tìm chân lý tài năng. Cậu là nghệ sĩ, tôi là quân nhân. Trong ngắn ngủi dấn thân vào đêm tối. Không phải thành bại là niềm tự hối chung thân. Chính là không-dám-làm sẽ muôn thuở             ăn năn.

- Nói sao đi nữa, ông vẫn là kẻ sát nhân. Dù thành hay bại vẫn ăn năn tự hối. Giết một sự sống là phạm tội thẫm mỹ.  Mỗi con người là thẫm mỹ vẹn toàn một cách riêng.

( Tiếng hát lại vọng lên từ sông Seine.)

Sữa đen lúc rạng đông chúng ta uống buổi hoàng hôn

uống buổi trưa buổi sáng và buổi tối

chúng ta uống và tiếp tục uống

chúng ta đào huyệt mộ trên không trung cho người chẳng nằm tù túng.

Ông ấy sống trong nhà chỉ chơi với rắn và viết (1) 

- Này cậu thi sĩ, chẳng phải có duyên mới gặp nhau. Hãy tự đốt đời mình như ngọn đuốc soi đen tối mai sau. Bây giờ tôi phải về cõi sầu bí tích. Trời sắp sáng. Cậu đi đến cuối con đường u tịch, rẽ hướng này sẽ thấy khách sạn u minh.

- Còn ông đi về đâu?

- Nơi tôi ở cậu không tới được. Nơi đó là cõi sầu nhân danh bất khả tri.

- Rồi tôi cũng sẽ chết.

- Không giống đâu. Tôi chết với lịch sử. Còn cậu, chỉ chết với thời gian. Thôi giã từ...

( Tiếng hát từ sông Seine nhỏ dần rồi tan vào vắng lặng.)

Ông ấy viết rồi bước ra bên ngoài

sao trên trời lấp lánh

ông huýt sáo say mê   (1)

 

3.

Sông Seine mặt nước xanh rêu,

            xanh đặc không thấy đáy,

            ngậm biết bao bí mật, biết bao huyền            thoại,

            biết bao điều không ai biết về sau.

            Trôi trên dòng sông đêm,

            qua những khúc in ánh đèn long lanh, như ánh mắt xúc động sắp khóc.

            Qua những khúc tối đen,

            cảm giác tiếng kêu thầm oán trong im lặng, khao khát.

            Phải chăng tiếng ngư nhân từ đáy sông Seine bị Paris giăng lưới không về được             biển?

            Phải chăng tiếng Pariseine trầm uất giữa đời sống bất thường đồng hóa bình thường?

Il était une fois la Seine
il était une fois những nguồn nước trong mát đầu tiên hội ngộ rủ nhau về biển
il était une fois l’amour những tâm hồn lạ lẫm đầu tiên biết yêu đương
il était une fois le malheur từ đó những đau khổ hòa tan trong nước
et une autre fois l’oubli sông rời tháng ngày chôn giấu hư tình

Il était une fois la Seine bây giờ sông Seine mai mốt sông Seine
il était une fois la vie  biết gì chăng đời sống? nhớ gì chăng đời sống? 
(3)

 

Pariseine!

            Ngươi là linh hồn thành phố và dòng             sông.

Pariseine!

            Ngươi là xung đột giữa Paris đứng và nước Seine chảy.

Pariseine!

            Ngươi là cặn bã thời gian lắng đọng lâu đời hóa ngọc trai. 

Pariseine!

            Ngươi là nguyên vẹn một chữ không thể tách rời.

Pariseine!

            Ngươi sẽ được ghi nhớ từ đây.

 

================================

(1) Trích trong bài thơ Fugue de Mort của Paul Celan (1920-1970). Ông là một trong những thi sĩ được tuyển chọn vào hàng thi sĩ thế giới. (The Vintage Book of Contemporary World Poetry by J.D. Mc Clatchy. Và The Poetry of Our World by Jeffery Paine  và một số tác giả khác.) Người Romania nhưng sang học ở Pháp năm 1938. Trở về quê hương sau thế chiến thứ hai. Trở lại Pháp năm 1948 và sống ở đây cho đến ngày ông trầm mình tự vận trong dòng sông Seine. Bài thơ Fugue de Mort được xem là một trong vài bài thơ nặng ký viết về sự thảm sát của Holocaust.

Trong phần chuyển thơ, câu:

nguyên tác: wir schaufeln ein Grab in den Lüften da liegt man nicht eng

Tôi không đọc được tiếng Đức nên dùng bản dịch của Michael Hamburger

we dig a grave in the breezes there one lies unconfined

chúng ta đào mồ trong gió mát cho một người nằm tự do.

Nhà thơ Đoàn Minh Đạo, anh đọc được Đức ngữ, đề nghị nên chuyển thành:

chúng ta đào mộ huyệt trên không trung người chẳng phải nằm bó chặt

Tôi tra cứu trở lại, tìm thêm những câu dịch khác nhau của các dịch giả:
we scoop out a grave in the sky where it’s roomy to lie  (Jerome Rothenberg)

chúng ta đào mộ trên trời nơi nằm rộng rãi

we dig at a Grave in the Air there one lies unconfined ( A.S. Kline)

chúng ta đào Mộ trong (không trung/ gió/ không gian) cho người nằm (tự do / không tù túng)

 we shovel a grave in the air where you won't lie too cramped ( John Felstiner)

chúng ta đào mộ trong (không trung / gió / không gian ) cho anh nằm không quá chật hẹp

Theo như tự điển:

Chữ Lüften: Thông khí, phơi gió, phô bày

Chữ nicht: Không

Chữ eng: Chật chội, đóng kín, ngột ngạt, bí hơi, giới hạn, nhỏ hẹp.

Bản dịch của John Felstiner gần gũi nhất với nguyên bản. Bản dịch của anh Đào Minh Đạo sát nghĩa. Những bản dịch còn lại thoát hơn.

Tôi xin được sửa lại:

chúng ta đào mộ trên không trung cho người chẳng nằm tù túng.

Cảm ơn anh Đào Minh Đạo.

(2) Sen no Rikyu: 1522-1591. Ông dẩn đầu một trường phái trà đạo ở Nhật bản. Cắt bỏ những phức tạp rườm rà, chuyên chú về đơn giản. Dùng những sáng tạo tầm thường biểu dương công phu và phẩm hạnh. Gọi là "Con Đường Trà Đạo".

(3) Trích La Seine a rencontré Paris, bài thơ của Jacques Prévert được phổ nhạc. Hàng chữ nghiêng không phải là hàng dịch, chỉ là lời tiếp theo của bài thơ Pariseine.

 

 

 

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ