Đoản khúc 304

13/04/202309:31:00(Xem: 4285)

reeducationcamp
    

Anh thăm nhà về

Anh nằm ngủ

Hai tay úp trên ngực

Giấc nghủ thanh thản

Nét mặt phong trần

Chị ngồi cạnh anh

Chị khâu lại khuy áo

Chiếc áo trận màu chàm

Anh vừa mang từ Việt Nam về

Sao gần ba mươi năm bỏ lại tại quê nhà

Chị còn ngửi thấy mùi mồ hôi của anh

Chị cảm động

Chị áp áo vào lòng

Chị thổn thức...

 

Vâng, chị đang ngồi bên cạnh anh đang ngú

Sao chị vẫn nhớ anh

Nhớ anh ở cuối trời xa

Năm sáu mươi tư

Anh vừa tốt nghiệp quân trường Thủ Đức

Anh được ném vào trận Bình Giã

Những ngày đó với chị biết bao là đau xót

Chị quay quắt nhớ thương chồng

Rủi ro người không về thì sao?

 

Nhưng là trai thời loạn

Anh vẫn hiên ngang vượt muôn ngàn sóng gió

Với chiếc áo trận này anh lội suối băng ngàn

Những năm tháng ở Đồng Tháp Mười-U Minh Thượng-U Minh Hạ-Tết Mậu Thân ở Huế-A Sầu- A Lưới-Khe Sanh-An Lộc-Đại Lộ Tử Thần-Cổ Thành Quảng Trị...

Những lúc ấy chị biết nỗi lo canh cánh bên lòng anh là chị – người vợ ở hậu phương

Những thư anh viết cho chị từ KBC

Những thư anh viết trên thùng đạn

Những thư tràn đầy yêu thương

Không có màu khói lửa chiến tranh

Không có chết chóc hận thù

Đối với anh

Đời chiến binh thắng bại là lẽ thường

Điều quan trọng là ta có thể làm gì cho lich sử

 

Sau ba mươi tháng tư bảy lăm

Anh trở lại những vùng binh lửa anh đã từng đi qua

Với thân phận người tù cải tạo

Những địa danh An Dưỡng, Suối Máu, Kà Tum, Bù Gia Mâp, Vườn Đào, Phú Quốc, Khám Lớn Chí Hòa, Đồng Tháp, Lý Bá Sơ, Cổng Trời, Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn, Lào Kai...

Những trại tập trung

Những nhà tù cải tạo

Khi nhắc đến làm đau lòng cho những ai yêu nước

Hơn mười năm

Trong lao tù cải tạo

Những ngộ nhận, những nhầm lẫn, những hận thù phi lý

Không ngừng đổ xuống trên thân phận những chàng trai yêu nước.

Chị ôm chiếc áo,

Siết chặt vào lòng

Chị nức nở...

 

Anh giật mình thức giấc

Ôi! Em làm gì vậy?

Chiếc áo ấy cũ xưa quá rồi

Thời thế đã đổi thay

Không còn ai cần mặc những cái áo nặng nề như vậy nữa đâu...

Chị vẫn cúi xuống ngồi yên lặng

Anh đến ngồi bên chị

Em khóc?

Anh ôm vai chị

Anh thều thào:

Chiến tranh mà em

Dù sao nó cũng qua rồi…

 

Đào Như

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ