Tản mạn bi hài trong thơ

09/05/202408:27:00(Xem: 2128)
poetry

Tính hài được đưa vào văn chương bi kịch quả là rất khó nhất là thơ. Chỉ cần vụng một chút là gây dị cảm trong lòng người đọc, ngả ngớn quá cũng không xong các người đọc do sự hạn chế của tiếp nhận thẩm mỹ sẽ chỉ nhìn thấy nụ cười không nên cười vào thời điểm buồn của không gian thơ. Dù biện hộ cách nào đó cũng là điểm hạn chế của tác giả. Các bạn đi ngõ trước vào căn nhà gặm nhấm nỗi buồn nhưng hãy chịu khó ra ngõ sau nhìn mây trắng bay, nghe con chim vành khuyên hót trong bụi tre, chọc một bé thơ nhả vú mẹ ra cười ngặt nghẽo với bạn trong chiếc võng trưa hè sẽ thấy ẩn trong nỗi buồn của căn nhà bạn phải sống lấp lánh niềm vui, lòng ham sống muốn làm một cái đó trước hết là cho người thân thuộc rồi sau mới tới cái gì cao xa hơn.Tính hài được đưa vào thơ tình cũng làm nhiều tác giả trong đó có tôi điêu đứng... Tình yêu phải luôn luôn mất mát không trọn vẹn thậm chí sinh ly tử biệt mới làm quý bà quý cô rung động rơi nước mắt bi thương đồng cảm (ai không bị mất mát, phụ bạc thậm chí bị thất tình) chứ hài không khéo thành phản cảm... Nhưng tôi nghĩ chúng ta lưu giữ nỗi buồn lưu cữu để làm gì nhỉ? Cuộc đời này ngắn lắm cất nỗi buồn vào một ngăn nào đó trong hồn mình để mà vui... Chớp mắt một cái là tan loãng vào hư không có muốn buồn muốn vui được nữa hay không... sao ta không cười lên một tiếng theo chức phận thơ... Các bạn sẽ bảo: Buồn chết đi được mà vui làm sao hở ông tản thần? Các bạn chắc từng nghe câu cảm thán khi đọc một bài thơ buồn:"Thơ hay nhưng buồn quá!" Như tôi đã nói ở trên,tôi cam đoan ai là thi sĩ sẽ không bao giờ cảm thán như vậy.Vì sao thì các bạn tự ngẫm vậy.
 
– Nguyễn Hàn Chung

(Viết ở chùa Việt Nam Houston TX  tháng 5/2024 nhân đọc cảm nhận của nhà thơ Trịnh Y Thư về một tác phẩm của nhà văn nữ Lại Thanh Hà: Butterfly Yellow/ Bướm Vàng).
 
*
 
Tội gì mà không yêu?
 
 
Yêu Hoa yêu Thủy yêu Hồng
yêu Lan yêu Ngọc yêu không điểm dừng
yêu Hoàng yêu Thúy yêu Dung
yêu khánh kiệt yêu điên khùng đắm say
 
Yêu quê nhà một áng mây
yêu mai một cánh chim bay cuối trời
yêu con yêu vợ yêu đời
yêu rêu bụi bám tháp Hời quê cha

Người còn chưa chịu ra ma
chưa bước lên phà mót máy yêu xanh
các em ơi cứ yêu anh
đừng buông, để gã dỗ dành khói sương
 
Yêu không thèm đậy nắp rương
hở hơi bay thấu mù phương kiếp người!
 

Thơ. đầy như tiếng thở ra | Có khi khúc hát ngân nga tuổi chiều | Từ em thả một cánh diều | Bay về định hướng liêu xiêu tình buồn
Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.