Nghĩ Về Thơ

02/02/202516:32:00(Xem: 3405)
tuyết trước nhà anh Tùng Nguyễn
Bông hoa hồng duy nhất còn lại sau sân nhà của tác giả. Ảnh: Nguyễn Đức Tùng.



Ngày 2 tháng 2, 2025,

Hôm nay chủ nhật, tuyết rơi từ quá nửa đêm, gần sáng, rơi mờ mịt đất trời. Đây là trận tuyết đầu mùa. Sau một năm khô hạn, thiếu nước, cháy rừng nhiều nơi ở British Columbia và California.

Trên CBC, thủ tướng Trudeau tuyên bố về việc đáp trả quyết định của tổng thống Trump đánh thuế 25 phần trăm lên hàng hoá Canada vào Mỹ, cùng với Mexico 25 phần trăm, China 10 phần trăm. Không phải chỉ là chuyện tiền bạc, chén cơm, nó còn báo hiệu sự chia rẽ đáng tiếc giữa hai đất nước có một lịch sử đồng minh lâu đời. Niềm hy vọng của nhiều người Việt vào việc Trump sẽ kềm chế China cũng đang bị thử thách.

Tôi yêu Canada, và yêu nước Mỹ. Tôi có nhiều người thân ở đó. Căn nhà tuổi thơ của S vẫn còn nằm bên rừng cây rợp bóng mát ở Texas. Tôi nhớ đến bài thơ của Robert Frost, người đọc thơ trong lễ nhậm chức của tổng thống Kennedy. Kennedy có câu nói nổi tiếng được Trudeau nhắc lại: "địa lý làm cho hai nước chúng ta là hàng xóm, nhưng lịch sử làm cho chúng ta trở thành bạn bè."

Bài thơ ngắn của Frost giải toả tâm trạng của tôi. Bài thơ nói về quyền năng của thiên nhiên đối với con người chỉ qua những việc nhỏ bé. Một cái lắc mình của chú quạ làm thay đổi tâm trạng và mang lại cái nhìn tươi sáng mạnh mẽ trong một ngày ảm đạm, lạnh giá.

Dust of Snow

By Robert Frost

The way a crow

Shook down on me

The dust of snow

From a hemlock tree

 

Has given my heart

A change of mood

And saved some part

Of a day I had rued.

*

Bụi Tuyết


Cách mà chú quạ

Lắc mình rũ tuyết

Xuống trên tôi

Từ nhành cây gỗ cần

 

Đã làm trái tim tôi

Thay đổi cả tâm trạng

Và cứu chuộc đôi phần

Một ngày đầy hối tiếc.

Tôi mặc áo khoác, mang giày, chuẩn bị ra đường xúc tuyết. Tiếng lạo xạo làm tôi ngẩng đầu lên, nhìn thấy người hàng xóm đang xúc cả tuyết cho con đường phía trước nhà tôi, tuyết tung lên bụi mù che phủ cả mặt anh, một thứ bụi trắng ngần như khi ta bỏ đi, ngoái lại, nhìn thấy ở cuối đường một ký ức sáng ngời.

Con người sẽ sống được mà chưa cần đến các thiên thần.

Nguyễn Đức Tùng

 

Mưa Mưa Mưa Bên kia biển Mưa có lạnh không em Dúi ngón chân son dưới lòng cát ấm Cát sẽ phủ chân em Biển vuốt ve trìu mến Sóng nhấp nhô mưa đời
Tam quan mái lạnh người không tới | Cả ngôi chùa đứng khóc trong mưa.
Trước khi là một bài thơ, "Hòn Đá Làm Ra Lửa" đã là một hành vi kỳ lạ đối với chính khái niệm văn bản. Nó ra đời không trên trang giấy mà trong trí nhớ, giữa hai trại tù Gia Trung và Hàm Tân, suốt gần một thập niên, chỉ được ghi thành chữ lần đầu khi tác giả đã đặt chân tới Thụy Điển, theo tài liệu, nhưng tôi nghĩ, phải trước đó, khi ra khỏi tù hay đến chốn an toàn, phải ghi lại dù không được tề chỉnh như sau này. Phần đông người đọc dừng lại tắc lưỡi, xem đây là một chi tiết cảm động về nghị lực.
Tôi gặp lại anh bên kia ngọn núi / Trong nắng chiều sắp tối / Sao anh không về nhà? / Cha khóc con tàn hết mùa hoa / Mẹ chờ con khuyết cả trăng rằm / Nhà xưa em vẫn đợi / Đó không phải là nhà / Đó là cái còn lại / Của bóng tối. Khuôn mặt tôi không còn nữa / Bên kia cánh cửa: không ai chờ / Làng quê xa vời vợi: tiếng gà gáy sáng / Chó sủa đêm trăng.
Như đứa trẻ nghịch ngợm xé ra trên mặt nước những vòng tròn quấn quít trăm điểm mở
buổi chiều trở về từ cuộc đi bộ | nghe chút hương thơm của hoa jasmin | trắng như bạch ngọc
Cách tốt nhất để giết một con chim | là thế này: dù nó đang cãi cọ hay cất tiếng kêu, | bạn hãy viết rằng chú chim nhỏ đang hót.
Thưa Công nương mắt hương thu u uất Mùa thu không trở lại trong đôi mắt đại dương xanh đầy móng vuốt và, tiếng hát của nàng rắc hoa trên đường về quê cũ xa xăm. Công nương không tin ư
Chuỗi hạt mẹ nằm trên trang | Ý thờ sâu lắng miên man niệm tình
Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.
Để hiểu một nhà thơ, đôi khi phải bắt đầu từ chỗ thân xác họ đã đi qua. Với Nguyễn Hoàng Nam, chỗ ấy là một chiếc ghe đánh cá ra cửa biển Rạch Giá. Trong bài Về nguồn (1990), ông ghi lại khoảnh khắc mửa thốc mật xanh trong hầm ghe, và chính trong cơn say sóng kinh hoàng đó, ký ức quê nhà bật lên: xứ Bưởi Biên Hòa, căn nhà số 66 đường Phan Đình Phùng nơi người mẹ mang ông trong lòng. Rồi đến trại tị nạn Songkhla ở Thái Lan với nắng cháy tóc và sứa lửa phỏng da, sau những bữa ăn cá sình rau vụn. Rồi đến Bolsa, đến tượng Phước Lộc Thọ, đến những bãi biển California.
Môi thầm ngậm nửa lời kinh | Tưởng như thập giá ẩn mình trong sương | Trả lại Chúa những vết thương
tâm trí và khói lang thang | bên này, bên kia trái đất | hồ nước cạn, con đường ngập | cánh rừng tự thiêu | tảng băng bắc cực lững lờ