29 nửa thế kỷ tháng 4

03/04/202600:00:00(Xem: 975)
 
35_Vietnamese_boat_people_2
Theo Cao ủy Tị nạn Liên Hợp Quốc (UNHCR) thì trong khoảng thời gian 20 năm từ 1975 đến 1995 có 796.310 người từ Việt Nam vượt biên bằng đường biển. Cũng theo số liệu của tổ chức này, trong khoảng thời gian 1975–1995 đã có 849.228 người từ Đông Dương vượt biên bằng đường biển hoặc đường bộ (tính cả người Campuchia). Số liệu và ảnh: wikipedia.
 
Hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao, rồi vĩnh viễn mang thảm sầu, sợ hãi, hy vọng dìm sâu xuống lòng nước.

Những ghe bầu vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt tháng ngày vất vả, tìm kẽ hở chui ra biển cả. Hồn oan triền miên theo ngọn sóng thét gào.

Trên đỉnh núi biến động, đại pháo tấn công, biệt thự tướng Lân bốc khói. Biểu tượng hấp hối khủng hoảng người dân chạy loạn tìm về Vũng Tàu, bến tuy cạn mà sâu ngày di tản.

Đám dân buôn bán trên bờ tán loạn, bầy còng tận sức trốn núp những bàn chân hốt hoảng, chẳng biết nơi nào tỵ nạn thoát thân.

Loạn lính nhiễu nhương, tan tác phố phường cuồn cuộn ra biển, giành ghe, giựt bè, cướp thúng, chân trời trước mặt hung hiểm trừng trừng, sau lưng dày đặc tử vong áp đảo.

Họ bắn nhau, nhận nước, bóp cổ, đâm dao găm, bất kể kẻ lạ người thân, chọn số phận bám ghe bấp bênh chờ hạm đội cứu vớt.
Để chiến tranh tạo một anh hùng, hàng chục ngàn người vong mạng. Để dân chúng ly tan khốn khó, chỉ vài người quyết định dễ dàng trên bản đồ.
Đám ghe chở chật ních những xác hồn trăn trối, hàng trăm cá nhỏ cá lớn xả hết tốc lực leo lên chân trời,
ra khơi,
ra khơi,
ra khơi nơi nào?
Đám ghe gói dân chạy bán mạng, hỗn độn trong khúc đời khổ nạn, tủi nhục, đớn đau, kể làm sao? không thẹn với lịch sử.
Người đi, người ở, người thảm sợ, người phát điên, hên xui  bầy cá ra khơi bỏ lại xác ốc thây sò chìm đáy biển. Anh linh sò ốc có chăng một linh hiển quê nhà?
Ghe chìm,
ghe chết,
ghe thoát,
ghe tử vong,
ghe may mắn,
Sợ hãi, thoát rồi cơn sợ, gặp trùng dương muôn mặt nghi ngờ. Ai chẳng biết lòng trùng dương nghĩa trang bóng tối.
Đêm không có mắt, thuyền mất la bàn, tương lai cưỡi lên đầu nỗi chết.
Thời gian có mắt, chưa bao giờ thấy hết chuyện thương tâm, chuyện phn nộ, Hòa bình tổn thương cá độ với thiêng đàng? T điển trời không có chữ ‘lầm than’.
Thời gian nhắm mắt.
Sóng hăm dọa,
Sóng hung dữ,
Sóng núi lửa,
Sóng động đất,
Mẹ còn, vợ mất,
Con lạc bầy,
Trinh tiết đổi lấy hơi thở.
Kim cương, vàng, đổi lấy sống còn.
Kẻ khôn,
kẻ dại,
kẻ toan tính,
kẻ ngẫu nhiên,
kẻ mừng rỡ,
kẻ reo hò,
kẻ khóc lóc,
kẻ ngẩn ngơ,
Mấy kẻ ra khơi cần biết bến bờ trong hay đục?

Sáng 29 tháng 4 năm đổi đời, mất đời, còn đời, những ai rời Vũng Tàu với vết sẹo sâu hun hút, sẵn sàng vỡ mũ, dù mai sau gần đến quan tài.
Sáng tôi rời quê hương vĩnh viễn mang theo khuôn mặt quê nhà 75, dù mai sau trở lại, quê  còn đó, nhưng nhà ở đâu?

Sáng tiểu sử tôi quay lưng bước đi, đôi mắt nằm sau ót, thấy mẹ lặng im dưới hiên nhà. Con đi. Đi đi con. Mẹ không sao. Mẹ sẽ sống.

Ai biết được khổ đau ra sao ngày trở về, không phải trở lại?

Có xác ốc thây sò nào năm xưa còn quen biết, tôi giẫm lên bờ lạ Vũng Tàu?

Băn khoăn đào cát, lượm được, có phải cặn xương người tức tưởi?

Không, chỉ bụm nước trong.

Nước cạn, tay trống không.
 
Ngu Yên
Tháng Tư, 2026                                                          
  

Em Lễ Chùa Này | gác chuông chim đậu | tan trường lối Ngọ | tình rụng nơi đâu
đời sống này vượt khỏi tay | thành phố này vượt khỏi chân | và những quyển sách nữa | vượt tầm nhìn | em biết không
Tháng 5, cũng có thể đọc là tháng năm, một cách đọc để kéo chuỗi thời gian cùng tham dự để mở ra ký ức. Một thời của chúng ta, một thời của Phan Tấn Hải. Với ba bài thơ ngắn cho ta thấy một chặng dài trăn trở của tâm thức đi tìm chân hạnh phúc. Từ ước muốn ngây thơ ở bài đầu tiên, đến đợi chờ cùng một lời nguyện ở bài hai, và rồi, “Tôi năn nỉ ký ức tôi”, bi kịch của ý thức con người trước cuộc phá sản nhân tính.
Gió Kè Sông Sàigon Xích sắt nó lăn trên bờ sông Sài Gòn lồng lộng gió Xích sắt nó nghiến vào chỗ hai ta ngồi với nhau đêm qua Lục bình quấn quýt trôi trong đêm như đôi ta sợ lạc dòng Sao mình lại chọn chỗ này để ngồi hay còn chuyện gì khác
Chiếc bóng của người chết cho quê hương | Không bao giờ khuất lấp | Tháng Tư vững như tảng đá vọng phu
Trích thi tập “Tháng Tư, Lính Không Cần Hớt Tóc”, thơ Nguyễn Phúc Sông Hương. Ông sinh năm 1941. Năm 1966, với bút hiệu Thái Luân, từng xuất bản tập “Vùng Tủi Nhục”, thơ phản chiến, có bài “Bi Hài Kịch”, Phạm Duy phổ nhạc trong “Tâm Phẫn Ca”. Sau thảm cảnh người dân Huế bị CS chôn sống trong dip Tết Mậu Thân, nhiều tỉnh thành làng xóm miền Nam bị tàn phá vì chiến tranh do CS gây ra, Bút hiệu Thái Luân đã đi vào bóng tối. Từ đó, Nguyễn Phúc Sông Hương thực sự ra chiến trường.
ngỡ những bức thư giữa trang sách trên kệ | lả tả rơi như muôn cánh bướm nhạt nhòa
Có những lúc không còn gì bám víu | Thì ngậm ngùi trăn trở hết đường tay
tháng Tư uống mấy cho vừa | mời nhau ly rượu chiều mưa xứ người
đừng để tôi quên tháng tư năm ấy | và những tháng tư nó kéo theo sau
sau cùng | trăng đâu có làm ai lóa mắt chỉ âm thầm mà sáng | làm người Mỹ gốc Việt | cũng vậy
Như trẻ con đêm hôm sợ ông ba bị | Tôi co ro nấp góc tối mình | Nhớ mẹ ngồi đầu giường vấn tóc đẹp | Khuôn mặt rạng ngời Quan Thế Âm
Có người là con của bà Mẹ | Có người là Mẹ của đứa con | Có người chồng hãy còn rất trẻ
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.