Một Vài Cảm Nghĩ Khi Đọc Tập Thơ Vợ Lính

8/1/202612:36:00(View: 680)

TẶP THƠ VỢ LÍNH IMG_9048

Tôi có mười năm làm lính.

Trong thời gian nầy tôi vẫn sống độc thân có nghĩa là chưa vợ chưa con. Đây không phải là một lời than, đây chỉ là một lần quay về với thân phận…

Mười năm làm lính đương nhiên là, dù cho bất tài, tôi cũng như bao người lính trẻ khác, cũng có dăm mãnh tình vắt vai. Vì thế… tôi không thể, không trực diện, chạm đến những lo âu, những đợi chờ và…trong đó có cả một trời hy sinh của những ai cả gan làm người yêu của lính.

Những câu thơ tôi viết gởi cho người tôi thương, nhẹ tênh, nhưng nặng trĩu lời cảnh giác ngập lòng.

‘Về được vài ngày rồi ta biến mất

Nỗi lo âu choàng kín cả sân trường

Trang cáo phó bạn ta vài đứa mất

Tập nguyện cầu… Người học cách yêu đương’

Hành trang tôi mang vác dập dìu lửa đạn, khi vuốt mặt cùng hào hùng, khi vuốt  mặt cùng xót xa. Những thằng em, những thằng em nằm xuống đã để lại cho tôi hơi thở, niềm tin giúp tôi đủ sức tiếp tục trên con đường tìm kiếm hòa bình. Nhưng đau hơn, có những thằng em đã để lại sau lưng nó  là những giọt nước mắt chết lịm quanh những vòng khăn tang.

Tôi từng uống bao ly rượu cô đơn một mình vì những chiếc ghế quanh bàn trống ngốc, mới cười đùa cùng tôi ngày nào, giờ biền biệt chia xa… nhưng nỗi buồn của nó tôi nhằm nhò gì, làm sao sánh bằng bên khói nhang từ những người thân ôm lời vĩnh biệt…Có bao giờ bạn rơi vào tình huống nầy không, trước tết Mậu Thân vài tháng, tôi đứng ra  làm chủ hôn cho một thằng em, trung sĩ của tôi. Tôi cả gan vì đươc trao quyền, gởi gắm của cha mẹ nó.

Trận Mậu Thân xãy ra, đơn vị tôi đánh nhau với vc ngay sân nhà.Trận Gò Me Biên Hòa cách hậu cứ tôi chừng 500 mét. Thằng em tôi, thằng em… tôi vừa cưới vợ cho nó nằm lại cùng chiến trường. Vợ nó đón đơn vị quay về ngay tại sân cờ, nhìn quanh không thấy nó, mang cái bầu, xông thẳng đến tôi, không một giọt nước mắt đấm vào ngực tôi bình bịch ‘chồng em đâu, mất rồi hả anh hai’. Vâng đời lính là vậy, vợ lính là vậy.



Mất nước tha phương hành trang của tôi là trăm ngàn nỗi nhớ. Nhớ chiến trường xưa, nhớ từng khuôn mặt của các thằng em, nhớ những ngày tù lạnh căm đất Bắc… Nhớ những nụ cười bất hạnh của những người vợ lính, cái hệ lụy mà tôi bỏ lại vì… liệng súng chôn chân.

Tôi đã ghi lại những nhớ thương, trong tâm tư của tôi, bằng những lời thơ và dăm ba truyện ngắn nhưng sự thiếu sót của tôi là từ trong lắng đọng khôn nguôi… tôi không hề viết nỗi một lời tâm sự nào thay cho tâm trạng của những người Vợ Lính.Tôi hoàn toàn bất lực vì tôi không có được cái thực chất trên từng thân phận.

….

Tôi quen Chị, tệ đến nỗi không hề biết tên, qua những lần gặp gỡ trong những buổi sinh hoạt cộng đồng nhằm gợi lại bao nhớ thương. Tôi trân trọng tấm lòng của Chị.

Một hôm gặp Chị nơi tượng đài Chiến Sỹ, Chị gợi ý mời tôi đến tham dự một buổi họp mặt “Trại Gia Binh” tại phòng họp của Cộng Đồng Nam Cali mà…Chị là một trong những người trong ban tổ chức. Chỉ ba tiếng Trại Gia Binh cũng đủ thúc dục tôi tìm đến. Tôi muốn tìm và được gặp, đây là một ao ước, không thiếu trong cuộc đời. Tôi không bao giờ quên và… bao cơn nhớ đến.

Trong buổi họp mặt Chị có trao tặng tôi một tập thơ, thơ do chính tay Chị viết. Tập thơ có tựa đề Vợ Lính. Tên chị là Minh Hân.

Cầm tập thơ trong tay, tôi miên man xúc động. Tôi chạm mặt tận cùng những thiếu sót mà…đã bao năm tôi mong chờ được gặp. Trong tập thơ trước lời ngỏ là những dòng chữ:

“Kính dâng Mẹ một vợ lính, Người gần gũi chia sẻ và cảm thông với con nhiều nhất”

“Thương tặng các chị em, thân hữu… một đời Vợ Lính đặc biệt các chị em trong trại gia binh g/đ Mũ Xanh Nam Cali”



Tôi có thói quen khi cầm một tập thơ tôi không quan tâm đến lời thơ ngỏ, không quan tâm đến lời giới thiệu và cũng không quan tâm đến phần mục lục. Hai bài thơ mà tôi tìm đến trước tiên là bài thơ đầu và bài thơ cuối cùa tập thơ. Sau đó, nơi êm ả nhất trên ghế dựa của phòng đọc sách tôi sẽ nghiền ngẫm từng hơi thở của những bài thơ còn lại.

Bài thơ đầu của tập thơ, tôi gặp “Thiên thần của Anh”:

“Thiên thần của Anh đã không còn đôi cánh

Đưa những vần thơ bay bổng cõi trời mơ

Từ yêu anh người lính chiến xa nhà

Bạc vai áo trận miệt mài vì non nước

….

Thiên thần của anh chỉ còn anh là tất cả

Là niềm vui là đau khổ cuộc đời buồn

Như quê hương mình nhọc nhằn giữa đau thương

Nhưng… chẳng là gì khi tình yêu còn tỏa sáng”


Đề tài trong bài thơ thứ 2, cuối tập, mà tôi gặp có tựa đề “Tâm sự của người lính cựu thù”:

“Tôi chẳng nghĩ được có ngày lòng nhẹ nhàng thanh thản

Trút nỗi niềm với các anh, cùng những lời ân hận muộn màng…

Băn khoăn mãi từ khi vào miền nam ‘giải phóng’

Sự thật phơi bày tôi đã tỉnh cơn mê

Tôi đã từng giận sôi, nghe miền nam đói khổ,

Giặc Mỹ xâm lăng vơ vét cạn tài nguyên

Bắt thanh niên đi lính ‘đánh thuê’, tàn sát dân lành… không gớm…

Tôi đã đau…nỗi đau của miền Nam thân yêu…”

Nếu bài  thơ thứ nhất tôi đã chạm tới quặng đau, đã chạm đến tấm lòng chung thủy nồng nàn trước thân phận nghiệt ngã của người vợ lính, một hình ảnh tuyệt vời của đợi chờ, trao gởi thì…trong bài thơ cuối, đâu đó, tôi đạp chân nhằm một thức tỉnh hiếm hoi của những thân phận tự biết mình cầm nhầm ‘giải phóng’…

Ngày xưa trong tuổi học trò tôi đã từng mọ mại làm thơ. Có được bài nào đăng báo tôi mang đến khoe cùng Mẹ tôi. Mẹ tôi là một nhà văn.Tôi được một lời khuyên “Con ạ, làm thơ thì người Việt Nam mình ai cũng có thể làm được… nhưng người thưởng thức thơ lại hiếm hoi lại khó tánh. Mai nầy giả dụ như con có được 100 bài thơ, nếu có một người nào chỉ vào một trong 100 bài thơ của con, nói cùng con, tôi thích bài nầy. Như vậy đã đủ rồi… con đã có chút thành danh…

….

Đọc tập thơ Vợ lính của Chị Minh Hân, tôi thích nhiều bài. Cám ơn chị đã tặng cho tôi niềm thích thú nầy.

Trạch Gầm
Tháng 7, Anaheim 2026

đời sống này vượt khỏi tay | thành phố này vượt khỏi chân | và những quyển sách nữa | vượt tầm nhìn | em biết không
Tháng 5, cũng có thể đọc là tháng năm, một cách đọc để kéo chuỗi thời gian cùng tham dự để mở ra ký ức. Một thời của chúng ta, một thời của Phan Tấn Hải. Với ba bài thơ ngắn cho ta thấy một chặng dài trăn trở của tâm thức đi tìm chân hạnh phúc. Từ ước muốn ngây thơ ở bài đầu tiên, đến đợi chờ cùng một lời nguyện ở bài hai, và rồi, “Tôi năn nỉ ký ức tôi”, bi kịch của ý thức con người trước cuộc phá sản nhân tính.
Gió Kè Sông Sàigon Xích sắt nó lăn trên bờ sông Sài Gòn lồng lộng gió Xích sắt nó nghiến vào chỗ hai ta ngồi với nhau đêm qua Lục bình quấn quýt trôi trong đêm như đôi ta sợ lạc dòng Sao mình lại chọn chỗ này để ngồi hay còn chuyện gì khác
Chiếc bóng của người chết cho quê hương | Không bao giờ khuất lấp | Tháng Tư vững như tảng đá vọng phu
Trích thi tập “Tháng Tư, Lính Không Cần Hớt Tóc”, thơ Nguyễn Phúc Sông Hương. Ông sinh năm 1941. Năm 1966, với bút hiệu Thái Luân, từng xuất bản tập “Vùng Tủi Nhục”, thơ phản chiến, có bài “Bi Hài Kịch”, Phạm Duy phổ nhạc trong “Tâm Phẫn Ca”. Sau thảm cảnh người dân Huế bị CS chôn sống trong dip Tết Mậu Thân, nhiều tỉnh thành làng xóm miền Nam bị tàn phá vì chiến tranh do CS gây ra, Bút hiệu Thái Luân đã đi vào bóng tối. Từ đó, Nguyễn Phúc Sông Hương thực sự ra chiến trường.
ngỡ những bức thư giữa trang sách trên kệ | lả tả rơi như muôn cánh bướm nhạt nhòa
Có những lúc không còn gì bám víu | Thì ngậm ngùi trăn trở hết đường tay
tháng Tư uống mấy cho vừa | mời nhau ly rượu chiều mưa xứ người
đừng để tôi quên tháng tư năm ấy | và những tháng tư nó kéo theo sau
sau cùng | trăng đâu có làm ai lóa mắt chỉ âm thầm mà sáng | làm người Mỹ gốc Việt | cũng vậy
Như trẻ con đêm hôm sợ ông ba bị | Tôi co ro nấp góc tối mình | Nhớ mẹ ngồi đầu giường vấn tóc đẹp | Khuôn mặt rạng ngời Quan Thế Âm
Có người là con của bà Mẹ | Có người là Mẹ của đứa con | Có người chồng hãy còn rất trẻ
Hàng loạt đạn pháo cuồng nộ đâm xuống biển, tung lên những cột nước cao, rồi vĩnh viễn mang thảm sầu, sợ hãi, hy vọng dìm sâu xuống lòng nước. Những ghe bầu vô phước trúng đạn tung tóe gỗ nát trộn thịt da, chấm dứt tháng ngày vất vả, tìm kẽ hở chui ra biển cả. Hồn oan triền miên theo ngọn sóng thét gào. Trên đỉnh núi biến động, đại pháo tấn công, biệt thự tướng Lân bốc khói. Biểu tượng hấp hối khủng hoảng người dân chạy loạn tìm về Vũng Tàu, bến tuy cạn mà sâu ngày di tản. Đám dân buôn bán trên bờ tán loạn, bầy còng tận sức trốn núp những bàn chân hốt hoảng, chẳng biết nơi nào tỵ nạn thoát thân.