Hôm nay,  

30 năm Việt Báo

05/09/202215:35:00(Xem: 9337)
Hinh tren
Hình 1. Tờ báo Việt Báo Kinh Tế Số 1 phát hành ngày 5 tháng 9, 1992.
2. Ban sáng lập Việt Báo và thân hữu trồng cây trước cửa tòa soạn Việt Báo
đầu tiên trên đường Moran, Westminster năm 1992. Từ trái: Đỗ Quý Toàn,
Nhã Ca, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Kiều Chinh, Huỳnh Mai, Nguyễn Dũng Tiến, Tài Nguyễn.
 


Đang ở Thụy Điển, đang buông để tuổi già thanh thản, bình yên như cảnh mặt trời lặn trên biển chiều.  Con gái Hòa Bình và thân hữu báo tin: Đến ngày 5 tháng 9, Việt Báo tròn 30 tuổi. Ngày 5 tháng 9, năm 1992 khai sinh của tờ báo. Chúng tôi bàng hoàng nhớ. Toa tầu ký ức, những toa tầu xình xịch chở nặng đi cùng với thời gian. Nặng lắm. Nặng tình nghĩa.

Xin đừng hỏi một người “Đã mất ngày tháng” như tôi, phải nhớ rõ chi tiết, tháng nào, ngày nào. Chỉ nhớ có trước, có sau.

Trước: Từ Lê Đình Điểu, bạn chúng tôi, đã bỏ nhiều công sức, thời giờ để hướng dẫn đi tới các cánh cửa công quyền giúp chúng tôi có được giấy phép ra báo. Bạn Điểu của chúng tôi ít nói, chỉ cười cười. Cười mà được việc. Từ hai cháu thân yêu Nhung Hiển, chia phòng, dọn patio rộng phía sau nhà để làm một tòa soạn nhỏ. Từ sự hỗ trợ của anh Nguyên Sa, nhà báo Hồ văn Đồng, nhạc sĩ Phạm Duy, anh chị Hoàng Văn Đức, anh Trương Quốc Hoa, anh chị Mai Kim Ngọc, hai em Tài-Mai, sự giúp đỡ chân tình của luật Sư Chistine Nga Vũ Đình, khi chúng tôi gặp rối rắm và hoàn tất giấy tờ cho chúng tôi được ở lại, làm báo. Từ chị Kiều Chinh, hàng ngày lái xe bao dặm đường đem về cho chúng tôi những quảng cáo mới. Lê Giang Trần đến với chúng tôi vào thời điểm đó, người em thi sĩ phụ trách Layout, rất mã. Và không thể nào quên anh Trần Huy Bích, người bạn, người anh, lúc nào gặp khó khăn là có anh bên cạnh.

Người anh lớn, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, một hôm bỏ San Jose, với một túi xách nhẹ hều, bước vào nhà: “Anh xuống đây làm báo, ở luôn với bọn em. Anh chỉ cần một chỗ ngủ.”

Người già thì ngủ được bao nhiêu. Viết bài tối khuya, sáng sớm cùng với cháu Hòa Bình đi bỏ báo trên chiếc xe cà rịch cà tàng. Hai bác cháu có biết bao kỷ niệm vui, buồn về nghề báo.

Ngày nào, tháng nào, không nhớ. Địa chỉ được dời tới đường Moran, khu báo chí, chỉ là một phòng nhỏ cùng ké với em Phạm Đắc Hiện, là vua stock thời đó. Hiện vui vẻ nhường cho kê một chiếc bàn để giao thiệp, gặp gỡ bạn văn và độc giả. Lúc này, Phạm Minh đã dựng được nhiều thùng báo để bán, một tờ lấy ra, bỏ vào 25 xu, nhưng đồng xu 25 thì ít, mà những miếng nắp ken cà bằng phẳng giả bỏ vào để lấy báo thì nhiều vô kể.

Chặng đường giữa còn biết bao khó khăn, vẫn được sự giúp đỡ của bạn hữu, của các thân hữu quảng cáo. Tòa soạn báo được dọn sang một khu nhà bên, lớn hơn, cạnh văn phòng nhỏ của Phạm Đắc Hiện. Việt Báo từ một tuần một số, rồi lên một tuần ba số, rồi một tuần bảy số. Lúc này, tòa soạn có thêm Viên Linh, anh Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh trở về lại San José, trấn thủ một chi nhánh Việt Báo. Có thêm sự hợp tác của anh Nguyễn Ngọc Ngạn, nhà in, cùng với những người bạn trẻ mới, Tân, Thắng. Lúc tòa soạn rời đường Moran, xuống Sullivan, có mặt chị Quyên Trần, lo về trị sự. Về kỹ thuật có thêm Khanh Nguyễn, Huy Nguyễn, chị Loan Nguyễn. Về online, có thêm Phạm Luyến… những đêm làm báo khuya có Nguyễn Hoàng Đoan đem các hủ mắm cà thịt kho Khánh Ly tiếp tế, những tô phở của Phở Tàu Bay Lý Thái Tổ, bánh trung thu Kiên Giang, thức ăn và cây xanh từ vườn cây Mimosa Nguyễn Dũng Tiến, vô số cácmón ăn ân tình… Chặng đường giữa này, chúng tôi còn có thêm được tờ Việt Báo Houston do Sông Văn và Như Băng điều hành, tờ Việt Báo Seattle, do Phú Bùi phụ trách, tờ Việt Báo San Diego, do gia đình nhà báo Nguyễn Khắc Nhân phụ trách, chúng tôi có thêm bạn hữu các địa phương. Chúng tôi có sự cộng tác bài vở của các anh Như Phong Lê văn Tiến, anh Lê Văn, bác sĩ Đặng Đức Nghiêm, nhạc sĩ Cung Tiến, nhà trồng lan Ngô Bảo, chị Bích Đào... Đặc biệt anh Doãn Quốc Sỹ, đã gần 90 tuổi, cùng với cô gái út Doãn Hương vẫn hằng ngày viết, dịch truyện cổ tích thế giới cho trang thiếu nhi. Tường Chinh, cô giáo Lan Phương Phạm, cùng hai con BảoNgọc, Quốc Nam, Julie QTran đã ghé vai với cô Nhã Ca, cùng lo trang báo cho con nít, Trương Ngọc Bảo Xuân, Trương Ngọc Anh, Mina Minh Hà, Lê Minh Hải, anh Vi Anh, anh Vũ Linh… và các bạn lo trang báo chuyên mục hàng tuần, rồi Thảo Trương, Tiffany Đoàn cùng Hằng Nguyễn lo trong lo ngoài ... Kể thì nhiều lắm, nhưng quên cũng nhiều, xin đừng giận một bà già trên 80 tuổi đã quên nhiều hơn nhớ.


Không thể quên những thân tình của các vị dành cho Việt Báo: Đức ông Trần văn Hoài, Hòa thượng Geshe la Tsultim Gyeltsen, H.E Zong Rinpoche la, các chư tăng và phái đoàn Tây Tạng từ Ấn Độ, Hòa thượng Thích Nhất Hạnh, Hòa thượng Thích Mãn Giác, Hòa thượng Thích Nhật Thiện, Hòa thượng Thích Tâm Châu, Hòa thượng Thích Như Điển, hòa thượng Thích Trí Chơn, giáo sư Tenzin Dorjee thường ghé thăm, cầu nguyện.

Sau: là tưởng nhớ những người anh đã ra đi: Anh Hồ Văn Đồng, anh Nguyên Sa, anh Nguyễn Sỹ Tế, anh Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Phí Ích Bành.

Và rồi, tiếp tục: nhiều thân hữu đến, rồi đi như Nguyễn Ngọc Minh, Ngân Nguyễn, Nguyễn Hiền phóng viên, Phụng Linh, Nguyễn Chí Khả, Phí Ích Bành, biên tập, anh Nguyễn Hữu Hiền, bảo trợ… dù ở hay đi, vẫn luôn là thân hữu, khi cần, vẫn đến với nhau. Nhà văn Thảo Trường, khi sang tới Mỹ, không rời bạn hữu cùng tờ báo. Không thể thiếu Nguyễn Xuân Nghĩa, báo ngày, báo Xuân, bất kể ngày đêm, mặc áo giáp chủ biên báo xuân Việt Báo chăm sóc tờ báo xuân trong nhiều năm, với các bạn góp bài văn nghệ và thơ xuân hàng năm như Du Tử Lê, Nguyễn Quốc Thái, Nguyễn Lương Vỵ, Quỳnh Giao... Bà Trùng Quang với giải thưởng Trùng Quang của Viết Về Nước Mỹ. “Giải Thưởng Viết Về Nước Mỹ” hằng năm, những tác giả đoạt giải, những người viết, đã gắn bó với giải thưởng, với tòa soạn. Nhóm thân hữu Việt Bút, đã luôn luôn chia xẻ ngọt bùi, góp sức, họp mặt mỗi lần phát giải. Nhóm NTM, đầu tàu là Thân Nguyễn và Bích Liên, luôn sát cánh và hỗ trợ Việt Báo trong các chương trình. Một người mà chúng tôi rất biết ơn, anh TP, ở San Diego, không bao giờ muốn được nhắc, đã âm thầm giúp đỡ giải thưởng VVNM hằng năm. Luật sư Nguyễn Hoàng Dũng và Thụy Trinh, là MC trường kỳ trong các buổi phát giải thường niên, anh Nguyễn Hoàng Linh vẫn hàng năm với Xe Đò Hoàng đưa các tác giả từ bắc xuống nam... Ngoài các chủ khảo kỳ cựu như anh Giao Chỉ Nguyễn Văn Lộc, Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh, Nguyễn Xuân Nghĩa, Bồ Đại Kỳ, một số đoạt giải trong “VVNM” đã trở thành giám khảo như Trương Ngọc Bảo Xuân (rồi lại vác thêm trách nhiệm chánh chủ khảo), Trần Nguyên Đán, Nguyễn Viết Tân, Phạm Hoàng Chương (đã mất), Bồ Tùng Ma (đã mất), Lê Tường Vi, Khôi An, gần đây nhất là Anne Khánh Vân….

Thật tệ, đầu óc tôi. Phan Tấn Hải đến với chúng tôi năm nào, không nhớ. Nhưng với tôi thì lâu lắm, như  từ đầu, như mãi mãi về sau.  Rồi Huỳnh  Kim Quang, Trịnh Y Thư, Thanh Huy, Hưng Doãn, thi sĩ Ngu Yên, Hằng Nguyễn. Còn phải nhớ Trúc Hồ của STBN, lại cho dọn về chung trụ sở của mình, để trở thành anh chị em một nhà. Và điều đáng trân quí biết bao, khi chúng tôi đã mệt, đã nghỉ, tất cả vẫn còn cùng với Hòa Bình giữ tờ Việt Báo, cho đến hôm nay, cùng nhau kỷ niệm Việt Báo 30 năm.

30 năm, biết bao vui buồn. Chúng ta đã xem nhau như anh chị em, như cùng một gia đình. Con tàu vẫn chạy, trẻ hơn, mạnh mẽ hơn. Nặng thêm tình nghĩa.

 

Xin cám ơn tất cả, anh chị em trong gia đình Việt Báo, các thân hữu, các thân chủ quảng cáo, các mạnh thường quân cùng với lời chúc mừng gửi tới tương lai.

Nhã Ca

Chủ Nhiệm Sáng Lập

 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.