Hôm nay,  

Ngày Của Mẹ

09/05/202500:00:00(Xem: 2349)

Nơi ẩn náu yên ổn nhất là lòng mẹ.
Nơi ẩn náu yên ổn nhất là lòng mẹ.

           

Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v.,  nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha.

                   

Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.

           

Có những người con trưởng thành, tốt nghiệp đại học, tiếp tục học cao học, mà mỗi khi có việc gì không hài lòng cũng cứ gọi mẹ ơi, mẹ ơi, mẹ ơi. Ngay cả khi những người con thành tài, là bác sĩ, kỹ sư, luật sư, dược sĩ mà cũng gọi mẹ ơi, mẹ ơi, gọi ới ời như con nít khi gặp mẹ.

           

Tiếng gọi "mẹ ơi, mẹ ơi" ngọt ngào, ấm áp như không bao giờ chấm dứt, vì thế suốt đời tiếng "mẹ ơi" không bao giờ quên được. Nếu chẳng may người mẹ qua đời thì người con sẽ hụt hẫng như mất một cái gì vĩ đại nhất, không còn muốn sống nữa. Hạnh phúc thay những người còn mẹ, không ai thay thế được mẹ của mình.

  

Nuôi con mẹ chẳng thở than,
Mong sao con được bình an tháng ngày.

           

Có nhiều đứa trẻ chẳng may mẹ mất sớm, cha tái giá, người mẹ kế tốt bụng chăm sóc con chồng như chính con ruột của mình. Đứa trẻ cũng thương mẹ kế nhưng làm sao bằng mẹ ruột của mình.

           

Lâu lắm rồi, chúng tôi đọc truyện về một người phụ nữ di tản, đi tị nạn Cộng Sản, lạc đến đảo, người mẹ bồng đứa con trên tay ngồi trên một tảng đá. Hai mẹ con mấy ngày không có một hạt cơm trong bụng, đứa trẻ khóc vì đói, vì khát. Người mẹ đau lòng bèn cắt tay mình để lấy máu cho vào miệng con. Cứu sống được đứa con thì người mẹ kiệt sức qua đời trong khi chờ đoàn cứu trợ đem thực phẩm tới. Khi đọc truyện này, ai cũng rơi lệ. Người mẹ hy sinh mạng của mình, chịu chết để cho con được sống. Hy sinh nào vĩ đại bằng hy sinh mạng sống của mình? Nhiều người mẹ hy sinh cuộc đời của mình để con được sống.

           

Mẹ ơi, mẹ ơi, bao giờ con gặp lại mẹ. Mẹ tôi qua đời năm 1966 nhưng tôi nghĩ mẹ tôi vẫn còn ở đây. Vào chùa nào, tôi cũng nghĩ mẹ tôi đang ở trong chùa, đang nhìn chúng tôi cười. Nhất là đến "Ngày của Mẹ", mỗi lần nhìn thấy các cụ già giống mẹ tôi được con cháu dìu đi vào chánh điện, sao tôi thấy hạnh phúc cho những người còn cầm tay mẹ mình. Sao họ hạnh phúc, sao mình không được phúc đức như thế? Phải tu nhân tích đức thì mới được như thế, mới còn mẹ.

           

Kỷ niệm về mẹ tôi nhiều lắm. Ở Việt Nam, chúng tôi sống trong ngôi nhà rộng, đất rộng. Nhà đầu tiên được xây trên đất của ông nội chúng tôi để lại. Sau này, ba mẹ tôi mua một miếng đất khác rộng rồi xây nhà. Xung quanh là cây xanh, yên tĩnh, chúng tôi lớn lên trong ngôi nhà này, bình yên và hạnh phúc, ngôi nhà có tiếng cười suốt ngày.

           

Nhà chúng tôi nuôi nhiều chó, có những con chó thật to, chó giữ nhà, chó thương chủ nhà, chó đưa chủ nhà ra tận cổng khi chủ nhà đi chợ hay đi đâu đó, chó đón chủ nhà trở về. Có một điều rất lạ mà chúng tôi không hiểu nổi khi thấy một đàn chó chạy ra cổng mừng rỡ đón chủ nhà trở về mà không có tiếng sủa, nhưng nếu có người lạ đến là chó cất tiếng sủa rất to, mẹ tôi chỉ cần lên tiếng: "Các con vô nhà" thì chúng nghe lời ngay, vô nhà im phăng phắc?

me

Thân Mẫu của Kiều Mỹ Duyên và cô Hoàng Minh Thúy, chủ báo Xây Dựng, Houston.

            

Mẹ tôi thường cúng Phật ở nhà, trên bàn thờ lúc nào cũng có trái cây tươi, hoa tươi và nước lọc.Trái cây ngoài vườn, hoa ngoài vườn hái đem vào cúng Phật. Mẹ tôi thường đi chùa đem trái cây, hoa quả cúng Phật, mẹ tôi cũng làm công quả ở chùa. Mẹ tôi là Phật tử thuận thành, mẹ tôi cầu nguyện mỗi ngày, cầu nguyện cho gia đình, cho người thân và cầu nguyện cho người nghèo, mẹ tôi ăn chay vào ngày rằm, ngày lễ.

          

Nhiều lúc chúng tôi nghĩ không biết bây giờ mẹ chúng tôi ở đâu? Mẹ tôi có hạnh phúc hay không? Mẹ tôi ra đi không phiền muộn, ra đi một cách nhẹ nhàng, thanh thản thì chắc mẹ đang hạnh phúc lắm ở cõi Niết Bàn.

          

Không có người mẹ nào thích chiến tranh, bởi vì có chiến tranh thì phải có những chàng trai trẻ lên đường nhập ngũ, tòng quân, thì có chiến tranh làm gì chứ? Em trai tôi đi lính, đêm đêm, mẹ tôi quỳ dưới bàn thiên ngoài trời cầu nguyện cho con mình bình yên trở về. Ra chiến trường giữa bom đạn, chắc gì trở về còn đủ chân tay?

           

Không ai bảo đảm khi lao vào nơi bom đạn mà còn lành lặn tay chân trở về? Có bao nhiêu con, cháu của tỉ phú mà ra chiến trường, cũng là mạng người nhưng con người giàu có mấy người ra chiến tuyến? Ở đời này, tìm sự công bình cho người nghèo có được không?

           

Mẹ ơi, mẹ ơi, chúng con thương mẹ lắm, nhưng bây giờ mẹ ở nơi nào? Mẹ có linh thiêng về đây chứng giám, chúng con làm từ thiện một phần hồi hướng công đức dành cho mẹ. Chúng con hy vọng mẹ đã siêu thoát và về Cõi Niết Bàn. Chúng con nghĩ đến mẹ và thương mẹ nhiều lắm, nhờ có mẹ, chúng con có được hạnh phúc này. Mẹ ơi, chúng con thương mẹ lắm. Mẹ là tất cả, mẹ là Bồ Tát, mẹ là thiên thần, là tình thương bao la, là những gì cao quý nhất trên đời này.

           

Mẹ ơi, bây giờ con không còn mẹ. Mẹ ở đâu, xin một lần mẹ cho chúng con được nhìn thấy mẹ. Nhớ nụ cười thật tươi của mẹ, nhớ bàn tay ấm áp của mẹ dịu dàng đặt trên trán của chúng con khi chúng con bị cảm sốt. Mẹ ơi, mẹ ơi, con nhớ mẹ!

Đừng bao giờ chờ đến khi Mẹ không còn nữa mới nói những lời yêu thương chân thành dành cho Mẹ. Hãy hiếu thảo với Mẹ cho

 

Đừng bao giờ chờ đến khi Mẹ không còn nữa mới nói những lời yêu thương chân thành dành cho Mẹ. Hãy hiếu thảo với Mẹ cho tròn phận con.

           

Mẹ ơi, mẹ ơi, dù con gọi mẹ mỗi ngày nhưng mẹ của chúng con đã đi xa, không bao giờ trở lại. Một đời người, dù có sống lâu trên 100 tuổi cũng phải ra đi và đi không bao giờ trở lại. Mẹ ơi, mẹ ơi, dù tiếng gọi của con có ngọt ngào, có thảm thiết cỡ nào thì mẹ cũng xa con rồi.

           

Mẹ ơi, mẹ ơi! Con nhớ Mẹ nhiều lắm!

  

Orange County, 11/5/2025

KIỀU MỸ DUYÊN

([email protected])

  

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.