Hôm nay,  

Bí Mật Nhà BRONTË

12/09/202500:00:00(Xem: 1968)

Không dám chạm vào gai, đừng mong hái hoa hồng.*

Hình ba chị em Bronte
Ảnh AI minh họa

 

Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.

Nhưng điều làm nên huyền thoại không nằm ở lớp tro trang trí ấy, mà ở một câu hỏi vẫn chưa nguôi: bằng cách nào ba người con gái, sống heo hút giữa đồng hoang, nghèo, vắng lặng, lại viết nên những cuốn sách làm chấn động đến tận hôm nay? Charlotte, vụng về và khép kín; Emily, ưa cô độc và thẳng tính; Anne, lặng lẽ hơn cả; vậy mà Jane Eyre, Wuthering Heights, Agnes Grey đã vượt khỏi khuôn thước văn chương đương thời, đem đến những nhân vật còn sống động hơn cả đời thật.

Virginia Woolf từng ngờ rằng Charlotte bị “corset” bởi xã hội, rằng giá như nàng có ba trăm bảng một năm để sống thong dong, thì tài năng mới thật sự nở rộ. Nhưng chính ở đây, bí mật bắt đầu lộ hình. Những sợi dây ràng buộc không thổi tắt ngọn lửa, mà trở thành nhiên liệu. Sự ngột ngạt của công việc gia sư, sự nhục nhằn khi bị coi rẻ, những ngày dài lặng lẽ khâu vá, dọn dẹp, chính là đất màu cho những trang văn rực rỡ. Họ hiểu thân phận đàn bà bị bóp nghẹt, và từ đó viết ra những câu chuyện vừa phẫn nộ, vừa khát khao, vừa chan chứa sức sống.

Tuổi thơ Brontë không giống ai. Mẹ mất sớm, cha bận rộn, lũ trẻ được bỏ mặc trong tự do hoang dại. Họ đọc bất cứ gì tìm được, bày ra những vương quốc tưởng tượng với lịch sử, chính sự, báo chí riêng. Họ viết những cuốn sách nhỏ xíu bằng thứ chữ li ti mà người lớn không đọc nổi. Từ trò chơi ấy, họ đã học được cách dựng nên thế giới. Nhưng lớn lên, thực tại nghiệt ngã buộc họ phải đi làm: dạy học, làm gia sư, giữ nhà cho người khác. Charlotte gọi đó là “xiềng xích khổ sở.” Emily thú nhận nàng thích con chó trong trường hơn lũ học trò. Anne kiên nhẫn hơn, nhưng cũng mòn mỏi. Mỗi lần vấp ngã, họ đều chạy về giáo đường, tìm lại chút yên tĩnh, và biến nỗi bẽ bàng thành chữ nghĩa.

Trong những trang Jane Eyre hay Villette, người ta đọc thấy tiếng kêu thác loạn của một cô giáo trẻ bị coi như không hiện hữu; thấy nỗi cô độc của Lucy Snowe khi tình yêu biến thành trò đùa quyền lực. Còn trong Wuthering Heights, cơn bão của Emily không chỉ phá tan mái nhà Earnshaw và Linton, mà còn xé rách bức màn đạo đức giả, phơi ra sự dữ dội ẩn trong gia đình. Nhân vật Nelly Dean, cô quản gia tưởng chừng vô hại, lại nắm quyền kể chuyện, điều chỉnh, thậm chí bóp méo số phận các nhân vật khác. Đó chính là ẩn dụ tuyệt diệu: kẻ ở ẩn, kẻ bị coi thường, lại là người cầm trọn cuốn sách cuộc đời trong tay.

Thời Victoria, không phải ai cũng vỗ tay. The Quarterly Review (1848) chê Jane Eyre là “mang một giọng điệu thấp kém và thô tục (a low tone of morality and coarse).” Báo Examiner cùng năm gọi Wuthering Heights là “thô bạo, gớm ghiếc, tàn nhẫn.” Anne cũng bị coi là quá trực diện khi mô tả cảnh ngộ gia sư. Những phê bình ấy ngày nay càng làm nổi rõ sự cách tân: họ viết ra điều xã hội không muốn nghe, nhưng lại không thể quên.

Bí mật Brontë nằm ở đó. Họ giấu ngọn lửa sau khói than và mùi bánh nướng, sau từng mũi kim, từng nếp vá. Người ngoài chỉ thấy ba cô gái cần mẫn giữ nhà cho ông cha già yếu, nhưng thực ra họ đang tạo dựng cõi văn chương. Họ chọn sống trong ‘seclusion’—sự ẩn dật, sự rút lui khỏi xã hội—không phải vì yếu đuối, mà vì chỉ trong lặng im mới có đủ khoảng trống để viết. Công việc nhỏ bé che chắn cho họ, và cũng tiếp nhiên liệu cho họ: từng đường chỉ may, từng lớp bột nhào đều trở thành nhịp điệu cho trí tưởng tượng phiêu du.

Người anh Branwell, được đi học nhiều hơn, nuôi ảo tưởng nghệ sĩ, cuối cùng chìm trong rượu và thất bại. Ba chị em, ngược lại, hiểu rằng sức mạnh của họ không nằm trong vinh quang công khai, mà trong quyền giữ kín. Họ biết dùng dáng vẻ hiền thục nội trợ để bảo vệ ngọn lửa sáng tạo. Đó là điều thế giới bên ngoài ít ai nhận ra.

Emily Dickinson, khi đọc họ, gọi Emily Brontë là “khổng lồ.” Nhưng không chỉ riêng Emily: cả ba chị em Brontë chưa từng yếu đuối. Họ sống như kẻ âm thầm, nhưng viết như sấm sét. Những cuốn sách của họ vừa bị mắng là thô thiển, vừa được ca ngợi là không ai sánh kịp. 

Từ gian phòng nhỏ họ mở ra một cõi khác: gió đồng hoang thổi mãi, mang theo tiếng thì thầm của những người đàn bà đã biến lao dịch thành văn chương, và riêng tư, cô độc thành di sản bất tận.
 
Cung Mi tóm lược & biên tập

* Anne Brontë, Agnes Grey, 1847: “But he that dares not grasp the thorn should never crave the rose.”
 
Nguồn:  The Brontës’ Secret, tạp chí The Atlantic
 

Trong dòng chảy của Văn học hải ngoại, Trịnh Y Thư là một thành phần cá biệt. Văn chương nghệ thuật với ông trước hết phải đồng nghĩa với cái Đẹp và ông đã áp dụng trong văn thơ cũng như dịch phẩm của ông...
Nhà thơ tên thật Lê Hà Vĩnh, sinh năm 1940 tại Hải Dương. Ông theo gia đình di cư vào Nam năm 1954. Đầu thập niên 1960 ông cộng tác với Nguyên Sa làm tờ Gió Mới. Sau ngày 30-4-1975, ông cùng vợ - Nhã Ca, bị chính quyền Cộng sản Việt-Nam bắt giữ, riêng ông bị giam cầm 12 năm, 1976 -1988.
Nhã Ca, tên thật Trần Thị Thu Vân, sinh ngày 20-10-1939 tại Huế. Nhà văn nhà báo thời Việt Nam Cộng Hoà, sau nhiều năm tháng bị bắt và tù đày sau biến cố 30-4-1975, đã được Văn Bút Thụy Điển bảo lãnh sang nước này tháng 9-1988. Một thời cùng gia-đình sang định cư ở vùng Quận Cam CA, cùng chồng Trần Dạ Từ chủ trương tuần báo Việt Báo Kinh Tế (sau thành nhật-báo Việt Báo và từ tháng 12-2019 trở lại thành tuần báo) rồi thêm Việt Báo USA (San Jose, cùng Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh)
Nhã Ca sáng tác bài “Một Đoạn Nhã Ca” vào năm 1972. Trước biến cố lịch sử 1975, bà là một trong vài nhà thơ nữ hàng đầu ở Miền Nam Việt Nam, với dòng thơ mang những tứ thơ sâu sắc, ngôn ngữ thơ lãng mạn, ý niệm thể hiện và bênh vực giá trị của người nữ. Thơ Nhã Ca có thể gom vào hai chữ “dám nói.” Bài “Một Đoạn Nhã Ca” mở đầu bằng 9 câu, kết bằng 3 câu, và 111 câu thân, tổng thể là 123 câu, chia ra 15 đoạn. Nhìn một cách tâm lý, phải chăng 15 đoạn thơ này đại biểu một số điều cho một đoạn tiểu sử ngầm của Nhã Ca? Nói một cách văn vẻ, phải chăng có 15 cửa sổ để mở nhìn vào căn nhà bí ẩn của một nhà thơ nữ? Đây là bài thơ truyền đạt qua thể thơ tự do. Số chữ không đều trong mỗi câu. Số câu không đều trong mỗi đoạn. Số đoạn không có giới hạn trong bài. Sự so le và thoát khỏi ràng buộc này nói lên tình tiết diễn đạt qua thơ không bị tù túng, ý thơ không bị chật hẹp trong luật lệ. Phù hợp với cảm xúc thôi thúc, ngổn ngang của tác giả và tạo ra cảm giác kích động của độc giả
Khăn quấn. Áo sơ sinh. Muối. Tuyết. Băng. Năm vật trắng - năm tiếng gọi đầu tiên - đặt lên trang giấy như một chuỗi hạt. Trong tay Han Kang, chúng vừa là dấu hiệu khởi sinh, vừa là định mệnh. Đứa trẻ chưa kịp sống đã được bọc trong khăn trắng, và cũng chính khăn quấn ấy trở thành tấm liệm. Trắng ở đây không phải nền sáng, mà là sự trống vắng ngân nhịp toàn cuốn sách. Han Kang, nhà văn Hàn Quốc được biết nhiều qua The Vegetarian, tác phẩm đã đem về cho bà giải Nobel Văn chương năm 2024, xuất hiện trong văn học thế giới như một cơn gió lớn. Nhưng The White Book mới là tác phẩm tôi rất yêu của Bà – những dòng chữ lặng mà sáng, mong manh mà bám riết.
Nếu phải tóm tắt các tác phẩm lớn của nhà văn Doãn Quốc Sỹ (1923-2025), có thể nói rằng ông đã phản ánh nỗi lòng của người trí thức Việt Nam cùng thế hệ, là những người bước vào tuổi 20 trong thời kháng chiến, chứng kiến sự đảo lộn của xã hội. Họ đã có thể có những phản ứng, hành động trước thời cuộc đó, nhưng phần nào bất lực không ngăn chặn được những xáo trộn xảy ra chung quanh. Truyện dài Dòng Sông Định Mệnh (1959) là một tác phẩm như thế. Ở mặt nổi, đó là một chuyện tình lãng mạn, hai người trẻ, một dòng sông. Nhưng sâu hơn, đó là bi kịch của những con người bị cắt đôi giữa lý tưởng và sự thật phũ phàng. Ở phương diện đó, Dòng Sông Định Mệnh có những chi tiết, những nhân vật hình mẫu sẽ trở lại trong bộ tiểu thuyết Khu Rừng Lau, nhất là tập Ba Sinh Hương Lửa (1962), mà ông sẽ viết sau này.
Krasznahorkai, trong các tiểu thuyết như Melancholy of Resistance hay Baron Wenckheim’s Homecoming, viết như người vừa chứng kiến ngày tận thế và vẫn phải tiếp tục kể, dù biết không còn có người nghe. Văn chương ấy, như James Wood nói, “vừa tuyệt vọng vừa kiêu hãnh, như một bản cầu siêu cho nhân loại.”
Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vừa từ trần vào lúc 10 giờ sáng ngày 14/10/2025 tại bệnh viện ở Nam California hưởng thọ 102 tuổi . Ông sanh năm Quí Hợi 1923 nên tính theo tuổi ta, ông thượng thọ 103 tuổi. Nhân đây, tưởng nhớ ông nên đắng lại bài viết Tác Phẩm Khu Rừng Lau Của Nhà Văn Doãn Quốc Sỹ vào ngày 5/11/2025
László Krasznahorkai – nhà văn Hungary vừa được trao giải Nobel văn chương – nổi tiếng với những câu văn dài như một hơi thở kìm nén, nơi ý tưởng đi qua địa ngục mà vẫn giữ vẻ điềm tĩnh của thiên thần. Một thiên thần lướt trên chúng ta là truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách ấy: giữa bùn lầy chiến hào và tiếng pháo rít xé trên đầu, một người lính cụt chân, mắt mờ, lại giảng về văn minh số, về văn hóa như bản năng sinh tồn của loài người. Chiến tranh vẫn gầm thét, nhưng lời anh vẫn tuôn, dài, sáng, và lạ thay – đầy hy vọng. Bản Việt ngữ của Ngu Yên dịch từ bản Anh ngữ của John Batki, giữ nguyên nhịp câu, những đoạn văn dài như dòng suy tưởng không dứt.
Khoảng hai giờ trước khi Mats Malm, vị thư ký trầm tĩnh của Viện Hàn Lâm Thụy Điển, bước ra, thế giới vừa nghe tin: Israel và Hamas ký hiệp định hòa bình. Một mẩu tin nhỏ, nhưng làm cả hành tinh thở nhẹ. Có lẽ, nếu tinh ý, người ta đã thấy khóe miệng vị diễn giả ấy nhích lên một nụ cười như thể dành riêng cho nhân loại, sau khi đã hứng chịu quá nhiều tuyệt vọng. Và rồi, cái tên được xướng lên: László Krasznahorkai, nhà văn Hungary – kẻ viết những câu văn dài như cơn hấp hối, nhưng mỗi chữ lại sáng rực như ngọn đèn dầu giữa đêm mất điện. Một bất ngờ… mà thật ra chẳng mấy ai bất ngờ. Viện Hàn lâm Thụy Điển, như thường lệ, lại khiến người ta ngạc nhiên bằng cách không hề ngạc nhiên.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.