Hôm nay,  

Bí Mật Nhà BRONTË

9/12/202500:00:00(View: 1966)

Không dám chạm vào gai, đừng mong hái hoa hồng.*

Hình ba chị em Bronte
Ảnh AI minh họa

 

Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.

Nhưng điều làm nên huyền thoại không nằm ở lớp tro trang trí ấy, mà ở một câu hỏi vẫn chưa nguôi: bằng cách nào ba người con gái, sống heo hút giữa đồng hoang, nghèo, vắng lặng, lại viết nên những cuốn sách làm chấn động đến tận hôm nay? Charlotte, vụng về và khép kín; Emily, ưa cô độc và thẳng tính; Anne, lặng lẽ hơn cả; vậy mà Jane Eyre, Wuthering Heights, Agnes Grey đã vượt khỏi khuôn thước văn chương đương thời, đem đến những nhân vật còn sống động hơn cả đời thật.

Virginia Woolf từng ngờ rằng Charlotte bị “corset” bởi xã hội, rằng giá như nàng có ba trăm bảng một năm để sống thong dong, thì tài năng mới thật sự nở rộ. Nhưng chính ở đây, bí mật bắt đầu lộ hình. Những sợi dây ràng buộc không thổi tắt ngọn lửa, mà trở thành nhiên liệu. Sự ngột ngạt của công việc gia sư, sự nhục nhằn khi bị coi rẻ, những ngày dài lặng lẽ khâu vá, dọn dẹp, chính là đất màu cho những trang văn rực rỡ. Họ hiểu thân phận đàn bà bị bóp nghẹt, và từ đó viết ra những câu chuyện vừa phẫn nộ, vừa khát khao, vừa chan chứa sức sống.

Tuổi thơ Brontë không giống ai. Mẹ mất sớm, cha bận rộn, lũ trẻ được bỏ mặc trong tự do hoang dại. Họ đọc bất cứ gì tìm được, bày ra những vương quốc tưởng tượng với lịch sử, chính sự, báo chí riêng. Họ viết những cuốn sách nhỏ xíu bằng thứ chữ li ti mà người lớn không đọc nổi. Từ trò chơi ấy, họ đã học được cách dựng nên thế giới. Nhưng lớn lên, thực tại nghiệt ngã buộc họ phải đi làm: dạy học, làm gia sư, giữ nhà cho người khác. Charlotte gọi đó là “xiềng xích khổ sở.” Emily thú nhận nàng thích con chó trong trường hơn lũ học trò. Anne kiên nhẫn hơn, nhưng cũng mòn mỏi. Mỗi lần vấp ngã, họ đều chạy về giáo đường, tìm lại chút yên tĩnh, và biến nỗi bẽ bàng thành chữ nghĩa.

Trong những trang Jane Eyre hay Villette, người ta đọc thấy tiếng kêu thác loạn của một cô giáo trẻ bị coi như không hiện hữu; thấy nỗi cô độc của Lucy Snowe khi tình yêu biến thành trò đùa quyền lực. Còn trong Wuthering Heights, cơn bão của Emily không chỉ phá tan mái nhà Earnshaw và Linton, mà còn xé rách bức màn đạo đức giả, phơi ra sự dữ dội ẩn trong gia đình. Nhân vật Nelly Dean, cô quản gia tưởng chừng vô hại, lại nắm quyền kể chuyện, điều chỉnh, thậm chí bóp méo số phận các nhân vật khác. Đó chính là ẩn dụ tuyệt diệu: kẻ ở ẩn, kẻ bị coi thường, lại là người cầm trọn cuốn sách cuộc đời trong tay.

Thời Victoria, không phải ai cũng vỗ tay. The Quarterly Review (1848) chê Jane Eyre là “mang một giọng điệu thấp kém và thô tục (a low tone of morality and coarse).” Báo Examiner cùng năm gọi Wuthering Heights là “thô bạo, gớm ghiếc, tàn nhẫn.” Anne cũng bị coi là quá trực diện khi mô tả cảnh ngộ gia sư. Những phê bình ấy ngày nay càng làm nổi rõ sự cách tân: họ viết ra điều xã hội không muốn nghe, nhưng lại không thể quên.

Bí mật Brontë nằm ở đó. Họ giấu ngọn lửa sau khói than và mùi bánh nướng, sau từng mũi kim, từng nếp vá. Người ngoài chỉ thấy ba cô gái cần mẫn giữ nhà cho ông cha già yếu, nhưng thực ra họ đang tạo dựng cõi văn chương. Họ chọn sống trong ‘seclusion’—sự ẩn dật, sự rút lui khỏi xã hội—không phải vì yếu đuối, mà vì chỉ trong lặng im mới có đủ khoảng trống để viết. Công việc nhỏ bé che chắn cho họ, và cũng tiếp nhiên liệu cho họ: từng đường chỉ may, từng lớp bột nhào đều trở thành nhịp điệu cho trí tưởng tượng phiêu du.

Người anh Branwell, được đi học nhiều hơn, nuôi ảo tưởng nghệ sĩ, cuối cùng chìm trong rượu và thất bại. Ba chị em, ngược lại, hiểu rằng sức mạnh của họ không nằm trong vinh quang công khai, mà trong quyền giữ kín. Họ biết dùng dáng vẻ hiền thục nội trợ để bảo vệ ngọn lửa sáng tạo. Đó là điều thế giới bên ngoài ít ai nhận ra.

Emily Dickinson, khi đọc họ, gọi Emily Brontë là “khổng lồ.” Nhưng không chỉ riêng Emily: cả ba chị em Brontë chưa từng yếu đuối. Họ sống như kẻ âm thầm, nhưng viết như sấm sét. Những cuốn sách của họ vừa bị mắng là thô thiển, vừa được ca ngợi là không ai sánh kịp. 

Từ gian phòng nhỏ họ mở ra một cõi khác: gió đồng hoang thổi mãi, mang theo tiếng thì thầm của những người đàn bà đã biến lao dịch thành văn chương, và riêng tư, cô độc thành di sản bất tận.
 
Cung Mi tóm lược & biên tập

* Anne Brontë, Agnes Grey, 1847: “But he that dares not grasp the thorn should never crave the rose.”
 
Nguồn:  The Brontës’ Secret, tạp chí The Atlantic
 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.