Hôm nay,  

Bí Mật Nhà BRONTË

12/09/202500:00:00(Xem: 1965)

Không dám chạm vào gai, đừng mong hái hoa hồng.*

Hình ba chị em Bronte
Ảnh AI minh họa

 

Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.

Nhưng điều làm nên huyền thoại không nằm ở lớp tro trang trí ấy, mà ở một câu hỏi vẫn chưa nguôi: bằng cách nào ba người con gái, sống heo hút giữa đồng hoang, nghèo, vắng lặng, lại viết nên những cuốn sách làm chấn động đến tận hôm nay? Charlotte, vụng về và khép kín; Emily, ưa cô độc và thẳng tính; Anne, lặng lẽ hơn cả; vậy mà Jane Eyre, Wuthering Heights, Agnes Grey đã vượt khỏi khuôn thước văn chương đương thời, đem đến những nhân vật còn sống động hơn cả đời thật.

Virginia Woolf từng ngờ rằng Charlotte bị “corset” bởi xã hội, rằng giá như nàng có ba trăm bảng một năm để sống thong dong, thì tài năng mới thật sự nở rộ. Nhưng chính ở đây, bí mật bắt đầu lộ hình. Những sợi dây ràng buộc không thổi tắt ngọn lửa, mà trở thành nhiên liệu. Sự ngột ngạt của công việc gia sư, sự nhục nhằn khi bị coi rẻ, những ngày dài lặng lẽ khâu vá, dọn dẹp, chính là đất màu cho những trang văn rực rỡ. Họ hiểu thân phận đàn bà bị bóp nghẹt, và từ đó viết ra những câu chuyện vừa phẫn nộ, vừa khát khao, vừa chan chứa sức sống.

Tuổi thơ Brontë không giống ai. Mẹ mất sớm, cha bận rộn, lũ trẻ được bỏ mặc trong tự do hoang dại. Họ đọc bất cứ gì tìm được, bày ra những vương quốc tưởng tượng với lịch sử, chính sự, báo chí riêng. Họ viết những cuốn sách nhỏ xíu bằng thứ chữ li ti mà người lớn không đọc nổi. Từ trò chơi ấy, họ đã học được cách dựng nên thế giới. Nhưng lớn lên, thực tại nghiệt ngã buộc họ phải đi làm: dạy học, làm gia sư, giữ nhà cho người khác. Charlotte gọi đó là “xiềng xích khổ sở.” Emily thú nhận nàng thích con chó trong trường hơn lũ học trò. Anne kiên nhẫn hơn, nhưng cũng mòn mỏi. Mỗi lần vấp ngã, họ đều chạy về giáo đường, tìm lại chút yên tĩnh, và biến nỗi bẽ bàng thành chữ nghĩa.

Trong những trang Jane Eyre hay Villette, người ta đọc thấy tiếng kêu thác loạn của một cô giáo trẻ bị coi như không hiện hữu; thấy nỗi cô độc của Lucy Snowe khi tình yêu biến thành trò đùa quyền lực. Còn trong Wuthering Heights, cơn bão của Emily không chỉ phá tan mái nhà Earnshaw và Linton, mà còn xé rách bức màn đạo đức giả, phơi ra sự dữ dội ẩn trong gia đình. Nhân vật Nelly Dean, cô quản gia tưởng chừng vô hại, lại nắm quyền kể chuyện, điều chỉnh, thậm chí bóp méo số phận các nhân vật khác. Đó chính là ẩn dụ tuyệt diệu: kẻ ở ẩn, kẻ bị coi thường, lại là người cầm trọn cuốn sách cuộc đời trong tay.

Thời Victoria, không phải ai cũng vỗ tay. The Quarterly Review (1848) chê Jane Eyre là “mang một giọng điệu thấp kém và thô tục (a low tone of morality and coarse).” Báo Examiner cùng năm gọi Wuthering Heights là “thô bạo, gớm ghiếc, tàn nhẫn.” Anne cũng bị coi là quá trực diện khi mô tả cảnh ngộ gia sư. Những phê bình ấy ngày nay càng làm nổi rõ sự cách tân: họ viết ra điều xã hội không muốn nghe, nhưng lại không thể quên.

Bí mật Brontë nằm ở đó. Họ giấu ngọn lửa sau khói than và mùi bánh nướng, sau từng mũi kim, từng nếp vá. Người ngoài chỉ thấy ba cô gái cần mẫn giữ nhà cho ông cha già yếu, nhưng thực ra họ đang tạo dựng cõi văn chương. Họ chọn sống trong ‘seclusion’—sự ẩn dật, sự rút lui khỏi xã hội—không phải vì yếu đuối, mà vì chỉ trong lặng im mới có đủ khoảng trống để viết. Công việc nhỏ bé che chắn cho họ, và cũng tiếp nhiên liệu cho họ: từng đường chỉ may, từng lớp bột nhào đều trở thành nhịp điệu cho trí tưởng tượng phiêu du.

Người anh Branwell, được đi học nhiều hơn, nuôi ảo tưởng nghệ sĩ, cuối cùng chìm trong rượu và thất bại. Ba chị em, ngược lại, hiểu rằng sức mạnh của họ không nằm trong vinh quang công khai, mà trong quyền giữ kín. Họ biết dùng dáng vẻ hiền thục nội trợ để bảo vệ ngọn lửa sáng tạo. Đó là điều thế giới bên ngoài ít ai nhận ra.

Emily Dickinson, khi đọc họ, gọi Emily Brontë là “khổng lồ.” Nhưng không chỉ riêng Emily: cả ba chị em Brontë chưa từng yếu đuối. Họ sống như kẻ âm thầm, nhưng viết như sấm sét. Những cuốn sách của họ vừa bị mắng là thô thiển, vừa được ca ngợi là không ai sánh kịp. 

Từ gian phòng nhỏ họ mở ra một cõi khác: gió đồng hoang thổi mãi, mang theo tiếng thì thầm của những người đàn bà đã biến lao dịch thành văn chương, và riêng tư, cô độc thành di sản bất tận.
 
Cung Mi tóm lược & biên tập

* Anne Brontë, Agnes Grey, 1847: “But he that dares not grasp the thorn should never crave the rose.”
 
Nguồn:  The Brontës’ Secret, tạp chí The Atlantic
 

Chiến tranh là một nỗi đau dằn vặt của nhân loại vì không ai muốn nó xảy ra, nhưng chiến tranh vẫn cứ xảy đến như một điều kiện cần thiết biện minh cho sự tồn tại của thế giới con người. Ngày Ba mươi tháng 4 năm 1975 là một cột mốc đánh dấu một biến cố chính trị trong lịch sử chính trị thế giới, ngày cuộc chiến tranh Việt Nam (1954-1975) chấm dứt.
“Cơn mưa di tản trở về giữa quá khứ và hiện tại, giữa người chết và người sống. Đó là lăng kính mà mọi thứ đã được chắt lọc qua. Những năm tháng trở nên trong suốt như nước. Những gì chúng ta thấy là những hình dạng mờ nhạt đang trôi về nguồn. Tất cả những viễn cảnh và cách diễn giải của chúng ta khi chúng ta quay trở về là đường nét chuyển động của người khác. Để tồn tại, chúng ta đã di tản qua thời gian, và để nói, chúng ta học ngôn ngữ của mưa.”
Bạn tắt hết điện thoại, truyền hình, bạn gập lại các quyển sách đang đọc. Bạn ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, khóa kín cửa, hay bạn ngồi trên một tảng đá trong rừng, hay bạn ngồi giữa chợ, điều ấy không quan trọng. Bạn không cần phải thực hành bất kì một lễ nghi tôn giáo, yoga hay thiền nào cả.
Một trong những thành tựu quan trọng đáng tự hào của cộng đồng người Việt là sự thành công của những cây bút người Mỹ gốc Việt, kể câu chuyện Việt góp phần vào nền văn học lưu vong Việt Nam cũng như góp mặt vào dòng văn học chính Hoa Kỳ. Bài giới thiệu sách này thuộc loạt bài giới thiệu các tác giả, tác phẩm thuộc dòng văn học thế hệ thứ nhất-thứ hai, trong thời điểm 50 Năm Nhìn Lại, từ biến cố tháng Tư, 1975.
Bạn có thích đọc thơ không? Người ta nói, mỗi người Việt là mỗi nhà thơ. Nhà thơ sao lại không đọc thơ? À, như vậy, bạn có đọc thơ. Dĩ nhiên bạn thích đọc thơ hay. Nhưng làm thế nào để biết bài thơ hay? Có bài thơ được nhiều người khen hay quá trời, sao bạn lại nghĩ là dở. Hoặc bạn hí hửng khoe bài thơ hay vừa đọc được, người bạn đọc xong, lắc đầu. Sao vậy? Thơ hay không bảo đảm người đọc đồng ý với nhau. Hãy hỏi bạn Trí Thông Minh Nhân Tạo (A.I.), trông cậy anh ta biết nhiều, hiểu rộng, có thể cho đôi lời vắn tắt.
Tôi có một thói quen xấu khi đọc sách – luôn bắt đầu bằng cách mở trang cuối và đọc hàng cuối rồi gấp sách lại xem đầu óc mình nghĩ gì. Hôm nay, mở cuốn “Stories from the Edge of The Sea”, cuốn sách dày 216 trang với 14 truyện ngắn của tác giả người Mỹ gốc Việt Andrew Lâm, tôi lẩm nhẩm: “Hãy đứng đến giây phút cuối cùng, và bạn sẽ không bao giờ, không bao giờ phải đứng một mình.“* “Giây phút cuối cùng”? Không hiểu sao hình ảnh Việt Nam những ngày cuối tháng Tư, 1975 hiện về. Dẫu chỉ là một đứa bé con 6 tuổi vào thời điểm này, nhưng lớn lên và sống với những hệ lụy lịch sử kéo dài từ cái ngày định mệnh đó, ngay trên mảnh đất quê hương bị đánh mất, những mảng đời, những câu chuyện, những ám ảnh, những mất mát luôn là những gì mà chính tôi, bạn bè tôi, gia đình tôi, quê hương, dân tộc tôi, vẫn gồng mình hứng chịu… dẫu nửa thế kỷ đã trôi qua. Tôi hiểu mình sẽ bắt đầu đọc cuốn sách này bằng một sự “khó ở” trong lòng của một độc giả người Việt sống xa quê hương, trong tâm trạng u uẩn
Cô lớn lên như một đứa con gái tomboy, đánh gậy bóng chày giỏi hơn thằng em trai mình, có thể đá văng cặp kính ra khỏi mặt một thằng con trai, và vì thế cô không gần với mẹ lắm. Cô chẳng thấy mẹ mình có gì đáng yêu kính. Bà là người với một thân hình đẫy đà, có tật ngồi lê đôi mách, luôn tay luôn chân công việc nhà cửa, lại nợ nần cờ bạc, chẳng bao giờ thích hoạt động ngoài trời, vì quá quan tâm đến những chuyện trong gia đình nên bà chẳng hề đi đâu thăm thú thế giới, đại dương này nọ, ví dụ, bầu trời xanh chẳng có gì cho bà quan tâm, thấy thú vị.
Hôm nay 17 tháng 3, 2025, dân chúng Canada tạm biệt Justin Trudeau. Tôi yêu mến thủ tướng và tự hào về ông. Trudeau nói: Dân chủ không phải được ban cho, tự do không phải được ban cho, Canada cũng không phải được ban cho. Bạn phải giành lấy chúng bằng tất cả lòng can đảm, sự hy sinh và công việc cần mẫn mỗi ngày.
Vào đầu tháng 3, 2025 xem chương trình The Jimmy TV trên YouTube trò chuyện với nhà văn Nguyễn Thị Hoàng, cụ bà năm nay 86 tuổi nhưng vẫn còn minh mẫn trò chuyện với nhau. Gần sáu thập niên qua, Hè năm 1967, sau bốn tháng học Quân Sự trong giai đoạn I cùng với Khóa 24 ở Truồng Bộ Binh Thủ Đức, Khóa Nguyễn Trãi I thuyên chuyển về Trường ĐH. CTCT ở Đà Lạt. Vào thời điểm đó Vòng Tay Học Trò của nhà văn Nguyễn Thị Hoàng đã tái bản nhiều lần gây xôn xao trong dư luận và dĩ nhiên thu hút độc giả nơi nầy vì nhân vật và bối cảnh xảy ra trên mảnh đất nầy.
Một buổi chiều, từ rất lâu rồi, tôi thấy mình đơn độc trên bãi biển Vũng Tàu, Việt Nam, một thành phố biển gần Sài Gòn, đứng nhìn ra khơi. Chiến tranh ngày một tệ hơn. Huế và Đà Nẵng đã thất thủ. Tiếp theo là cao nguyên Trung Phần. Sài Gòn đang hoảng loạn. Quân đội cộng sản đang tiến quân mà không bị cản trở. Tôi mới mười một tuổi và khá nhỏ con so với tuổi của mình. Bãi biển gần như vắng tanh. Gió và sóng như thét gào bên tai tôi. Với hai cánh tay dang rộng, tạo thành những hình thù kỳ lạ trên không, tôi lớn tiếng tụng niệm những câu thần chú.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.