Hôm nay,  

Dòng chữ cuối đời Hemingway gửi cho một nữ tu ở Minnesota

2/6/202600:00:00(View: 963)

VB--(9)1. Sister Immaculata (phải), tên khai sinh Helen Hayes, từng làm việc và giảng dạy tại bệnh viện nơi Ernest Hemingway điều trị những ngày cuối đời. Ảnh: Assisi Heights Archives; The Congregational Archives, qua Dòng Nữ Tu Thánh Phanxicô Rochester, Minnesota. 2. Cuốn The Old Man and the Sea với dòng đề tặng viết tay của Ernest Hemingway gửi Sister Immaculata, ghi ngày 16 tháng 6 năm 1961. Ảnh: Curtis DeBerg.


Những ngày cuối đời, Ernest Hemingway sống trong một vòng tròn khép kín của ảo giác, hoang tưởng và trầm uất. Nhưng giữa bóng tối ấy vẫn lóe lên một câu chữ nhỏ, viết cho một nữ tu ở Minnesota. Cuối năm 1960, ông vào Saint Marys, bệnh viện thuộc hệ thống Mayo Clinic do các nữ tu Dòng Thánh Phanxicô điều hành. Ở đó, một toán y tá Công giáo chăm sóc ông, trong đó có Sister Immaculata – Helen Hayes – một y tá tâm thần hiền hòa, sau này sơ trở thành tuyên úy.
 
Người ta không còn biết rõ họ đã nói với nhau những gì trong những đêm trắng ở khu điều trị tâm thần. Chỉ biết mối liên hệ ấy đủ gần để sáng 16 tháng 6 năm 1961, Hemingway – người từng nhận Giải Nobel Văn chương năm 1954 với cuốn The Old Man and the Sea – lấy chính cuốn sách ấy ra, lật trang đầu và viết mấy dòng đề tặng riêng cho bà. Ông gửi tặng sơ cuốn sách này, nói rằng ông hy vọng sẽ viết thêm một cuốn khác cũng xứng đáng như vậy cho bà, khi “vận viết” của mình trở lại – và còn tự khẳng định: “nó sẽ trở lại.” Một câu chữ nhỏ, bình tĩnh, như thể ông đang cố sắp xếp lại một đời sống đang tàn lụi. Mười sáu ngày sau, sáng 2 tháng 7 năm 1961, tại căn nhà ở Idaho, Hemingway tự kết thúc đời mình bằng một phát súng.
 
Từ đó, cuốn Ông Già Và Biển Cả mỏng manh mang dòng chữ tay ấy được các nữ tu Thánh Phanxicô ở Rochester lặng lẽ gìn giữ hơn sáu mươi năm. Có thời, nó nằm giản dị trên kệ thư viện bệnh viện Saint Marys, giữa những cuốn sách khác; ai trong khoảng trăm nữ tu sống ở đó cũng có thể mượn về xem, trước khi được cất kỹ trong kho nhà mẹ như một kỷ vật riêng của hội dòng. Với họ, đó là một dấu vết nhỏ của một bệnh nhân nổi tiếng, nhưng cũng chỉ là một cuốn sách đã từng đi qua tay những người chăm sóc bệnh nhân như một phần đời thường.
 
Câu chuyện chỉ mở sang chương khác khi Curtis DeBerg, một học giả Mỹ chuyên nghiên cứu Hemingway, đến Mayo Clinic làm việc và được nghe nhắc tới cuốn sách. Ông từng lần theo dấu chân Hemingway qua Âu châu, Phi châu, Hoa Kỳ và vùng Caribê. Trong một chuyến ghé thăm Viện Bảo tàng Giải Nobel ở Stockholm, ông nhận ra nơi này chưa hề có một hiện vật nào liên quan đến Hemingway – người được Nobel tôn vinh vì “sự sức mạnh và tính cách tân trong nghệ thuật tự sự của ông,” với minh chứng gần nhất chính là The Old Man and the Sea. Từ đó nảy ra đề nghị: cuốn sách mang dòng đề tặng cuối đời ấy nên bước ra khỏi két sắt nhà dòng để gặp một công chúng rộng lớn hơn.
 
Sau khi bàn bạc, các nữ tu Rochester đồng ý. Họ cho rằng thật uổng khi cuốn sách cứ nằm trong kho, không ai nhìn thấy; để nó đi xa hơn, biết đâu câu chuyện nhỏ giữa một nhà văn và một nữ tu lại chạm được tới nhiều người hơn bốn bức tường nhà mẹ. Tháng 11 năm ngoái, tại Rochester, họ trao cuốn sách cho DeBerg; rồi trong một buổi lễ ở Stockholm, ông mang nó tới Viện Bảo tàng Nobel. Trong buổi lễ ấy, người ta đọc lại những đoạn văn trong The Old Man and the Sea, như nối giọng kể về ông già trên biển với dòng chữ run tay dành cho một nữ tu trong dãy hành lang trắng ở Saint Marys, Minnesota.
 
Đối với Viện Bảo tàng Nobel, đây là hiện vật Hemingway đầu tiên trong bộ sưu tập, và là một hiện vật “giàu ý nghĩa”: chỉ một trang đề tặng mà gói lại cả chặng cuối đời của ông. Nét chữ, thói quen chấm phẩy, những “tật” nhỏ trong tay bút đều trùng với thư từ cùng thời; lại không có chuyện mua bán, nên không ai đặt vấn đề giả mạo. Điều đáng kể hơn nằm ở nội dung: Hemingway, ở đoạn đường cùng của mình, vẫn còn đủ dịu dàng để viết vài dòng ân cần cho người y tá đã chăm sóc ông, vẫn bấu víu vào hy vọng rằng mình “sẽ còn viết được thêm một cuốn nữa.”
 
Saint Marys – nơi câu chuyện diễn ra – là cơ sở do Mẹ Alfred Moes thuộc Dòng Thánh Phanxicô ở Rochester, tiểu bang Minnesota sáng lập năm 1889, với mô hình quen thuộc: các nữ tu điều hành, y tá dòng trực tiếp chăm sóc bệnh nhân, còn gia đình Mayo – rồi về sau là đội ngũ bác sĩ – phụ trách chuyên môn. Về sau, quyền quản trị được chuyển sang Mayo Clinic, nhưng các nữ tu vẫn giữ vai trò giám sát về giá trị và tinh thần qua các ghế trong hội đồng. Trong bối cảnh ấy, Sister Immaculata, y tá tâm thần rồi tuyên úy, sống phần lớn đời mình giữa bệnh nhân và những ca trực đêm, cho tới khi qua đời năm 1992. Những người cùng dòng nhớ về bà như một người khoan hòa, chăm sóc người bệnh bằng sự dịu dàng không ồn ào – thứ dịu dàng mà có lẽ Hemingway đã cảm nhận trong những ngày mong manh nhất của mình.
 
Các nhà nghiên cứu đọc dòng đề tặng ấy như một cánh cửa nhỏ mở vào khuôn mặt ít được biết tới của Hemingway. Họ tự hỏi: ông có thật sự tin rằng “vận viết sẽ trở lại” sau những đợt sốc điện làm trí nhớ chập chờn, hay chỉ đang cố thuyết phục bác sĩ – và chính mình – rằng ông đã đủ “ổn” để rời bệnh viện? Hồ sơ ghi nhận bác sĩ Howard Rome, trưởng khoa tâm thần của Mayo, cho Hemingway xuất viện ngày 26 tháng 6 năm 1961, kết luận ông đã hồi phục đủ khỏi cơn trầm uất. Sáu ngày sau, phát súng ở Idaho vang lên. Giữa hai mốc ấy là một khoảng trắng không ai lấp đầy được.
 
Với Viện Bảo tàng Nobel, trang đề tặng này ghi lại Hemingway ở cuối đời: vẫn còn viết, vẫn còn nghĩ tới “một câu chuyện nữa,” vẫn còn đưa tay về phía một người đã trông nom ông trong những tháng ngày tối tăm. Đặt cuốn sách vào tủ kính, giữa hiện vật của hơn chín trăm người từng nhận Nobel, bảo tàng muốn nhắc người xem một điều giản dị: phía sau huy chương, danh hiệu và những bản in lừng danh, đôi khi chỉ còn lại một trang giấy đã ố màu, vài chữ viết tay dành cho một người rất cụ thể. Ở đây, đó là một nữ tu ở Rochester, và là lời nhắn nhỏ nhoi của một nhà văn đã đi gần hết đường, vẫn cố tin rằng đâu đó, “vận viết” của mình chưa tắt hẳn.
 
Cung Đô biên dịch
Nguồn: dựa trên tường thuật “Days Before His Suicide, Hemingway’s Hopeful Note to Sister Immaculata” của John Rosengren đăng trên The New York Times, ngày 23 tháng 1 năm 2026.

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.