Hôm nay,  

Noor Hindi: thơ cho một đất nước đã mất

10/04/202600:00:00(Xem: 645)

NOOR Hindi doc tho tren YouTube

Noor Hindi đọc thơ trên YouTube.

 
Các sinh viên Đại Học UCI (Quận Cam, California) trong chương trình thạc sĩ sáng tác văn học MFA Programs in Writing hôm Thứ Tư ngày 4 tháng 2/2026 đã được tham dự buổi đọc thơ và văn từ ba tác giả -- hai nhà thơ gốc tỵ nạn từ Palestine là Noor Hindi và George Abraham; và tiểu thuyết gia Hoa Kỳ Matt Sumell. Nhà thơ nữ Noor Hindi là ai, và thơ của chị nói gì?

Cô đã đứng đọc thơ tại các trường đại học, đọc lên những bài thơ nói lên căn cước của cô, thí dụ như bài có tựa đề "Self-Portrait as a Palestinian" (Tự mô tả như một người Palestine) với những dòng như:
 
Tôi là tấm bản đồ của một đất nước không còn hiện hữu
trên các bức tường lớp học của bạn. Tôi là lớp đất
dưới các móng tay của một bóng ma.
Mỗi khi cất lời, tôi đang phiên dịch một nỗi câm lặng
trong nhiều thập niên bị bưng bít.
 
Nếu bạn vào YouTube và gõ hai chữ "Noor Hindi" bạn sẽ thấy những buổi đọc thơ của cô tràn ngập giảng đường đại học Hoa Kỳ. Cô có văn phong thơ phù hợp với giới trẻ Hoa Kỳ, và những đau đớn vì dân tộc Palestine bị quân đội Israel diệt chủng đã chuyển thành một ngôn ngữ thơ rất đặc biệt nơi đây.

Noor Hindi đặt chân đến Hoa Kỳ cùng gia đình khi còn là một đứa trẻ thơ. Cô sinh năm 1995 tại Amman, Jordan, trong một gia đình tị nạn người Palestine. Đến Hoa Kỳ cùng gia đình khi còn nhỏ, cô lớn lên tại Akron, Ohio, trong một cộng đồng chủ yếu bao gồm những người tị nạn đến từ Bhutan và Nepal. Tiểu sử công khai của cô không ghi rõ năm vào Mỹ, chỉ biết rằng cô đã sinh sống tại Hoa Kỳ từ cuối những năm 1990s hoặc đầu những năm 2000s.

NOOR Hindi sach o Amazon
2 bìa sách của Noor Hindi trên Amazon

Sau khi lấy bằng Cử nhân (BA) chuyên ngành Tiếng Anh tại Đại học Akron, cô tiếp tục theo học chương trình Thạc sĩ Mỹ thuật (MFA) chuyên ngành Thơ ca của trường (giai đoạn 2017–2019) thông qua chương trình NEOMFA. Năm 2020, tổ chức Twelve Literary Arts đã lựa chọn cô tham gia Chương trình Nghệ sĩ Lưu trú Barbara Smith của họ. Một năm sau đó, cô vinh dự nhận được Học bổng Thơ ca Ruth Lilly và Dorothy Sargent Rosenberg do Quỹ Thơ ca (Poetry Foundation) trao tặng.

Tập ​​thơ đầu tay của cô— "Dear God, Dear Bones, Dear Yellow" (Haymarket Books, 2022)—đã nhận được giải thưởng Danh dự (Honorable Mention) tại Giải thưởng Sách Mỹ gốc Ả Rập (Arab American Book Award). Hiện cô đang biên tập một tuyển tập thơ Palestine cùng với George Abraham (Haymarket Books, 2025).

Bên cạnh việc biên tập các tuyển tập thơ có chủ đề Palestine, cô vẫn tiếp tục công việc phóng viên của mình, tập trung vào các vấn đề về sự công bằng và tính hòa nhập. Cô từng đảm nhiệm vị trí Phóng viên chuyên trách về Công bằng và Hòa nhập cho tờ báo The Devil Strip tại Ohio.

Tính đến đầu năm 2026, cô đã thực hiện các chuyến lưu diễn và tham gia các buổi đọc thơ tại những tổ chức lớn—chẳng hạn như Đại học California, Irvine—cũng như tại các lễ hội văn học, tiêu biểu là Lễ hội Thơ New Orleans; tại đây, cô tham gia các phiên thảo luận bàn tròn xoay quanh chủ đề thơ tài liệu và báo chí hoạt động xã hội.

Hiện tại, cô đang sinh sống và làm việc tại Dearborn, Michigan—nơi được biết đến là quê hương của một trong những cộng đồng người Mỹ gốc Ả Rập lớn nhất cả nước—một yếu tố góp phần định hình sâu sắc trọng tâm trong các tác phẩm thơ ca cũng như hoạt động báo chí của cô về cộng đồng người Palestine hải ngoại.

Sự xuất hiện của nhà thơ Noor Hindi trong giới văn chương được đánh dấu bằng thành công vang dội của bài thơ "Fuck Your Lecture on Craft, My People Are Dying" (Mẹ kiếp bài giảng về kỹ thuật thơ của quý vị, dân tộc tôi đang hấp hối), tác phẩm mà sau này đã trở thành tựa đề cho tập thơ đầu tay của cô, được nhà xuất bản Haymarket Books ấn hành vào năm 2022. Bài thơ đã tạo nên tiếng vang trên phạm vi toàn cầu, phản ánh một cách chân thực nỗi đau của những cây bút thường bị các tạp chí thơ yêu cầu phải đặt "vẻ đẹp thẩm mỹ" lên trên thực tại khẩn thiết của bạo lực và chiến tranh.

Sau đây là bản dịch bài thơ tự do tựa đề "Fuck Your Lecture on Craft, My People Are Dying" dài 14 dòng của Noor Hindi:
 
Mẹ kiếp bài giảng về kỹ thuật thơ của quý vị, dân tộc tôi đang hấp hối
---- Thơ Noor Hindi

Bọn thực dân viết về hoa.
Còn tôi kể cho quý vị nghe về các trẻ em ném đá vào xe tăng Israel
chỉ vài giây trước khi hóa thành những đóa hoa cúc.
Tôi muốn được như các nhà thơ kia—những người say đắm với mặt trăng.
Dân Palestine không thể nhìn thấy trăng từ sau song sắt nhà tù.
Trăng đẹp biết bao.
Và hoa cũng đẹp biết bao.
Tôi hái hoa dâng lên người cha đã chết mỗi khi tôi buồn
Cha tôi cả ngày chỉ ngồi xem đài Al Jazeera.
Tôi ước rằng Jessica đừng nhắn tin chúc tôi "Lễ Ramadan vui vẻ" nữa.
Tôi biết mình là người Mỹ, vì mỗi khi tôi bước vào một căn phòng, thì lại có điều gì nơi đó chết đi.
Các ẩn dụ về cái chết chỉ dành cho các nhà thơ nghĩ rằng những hồn ma cũng bận tâm đến âm thanh.
Khi tôi chết, tôi hứa rằng tôi sẽ về ám ảnh quý vị mãi mãi.
Rồi một hôm, tôi sẽ viết về những đóa hoa—như thể chúng thực sự thuộc về chúng ta vậy.

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.