Hôm nay,  

Mì Gói: Triết Học Ngẫu Ứng

04/09/202600:00:00(Xem: 349)

Mì gói

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.

Điều khiến tôi chú ý không phải là Lyotard đang ăn mì gói. Điều khiến tôi chú ý là ông ăn mì gói như thể đang… nghiên cứu hậu hiện đại trong tô nước sôi.

Ông ngồi đó, ánh mắt nghiêng nhẹ, tay cầm đũa, dáng như đang phân tích cấu trúc của từng sợi mì: độ cong, độ xoắn, sức đề kháng, tương quan giữa texture và narrative.

Tôi tiến đến.

Ông ăn gì vậy, Jean?

Ông ngẩng lên, gương mặt sáng lên như thể ông vừa tìm ra “hậu tự sự của ẩm thực cấp tốc”.

Mì gói Việt Nam.

Món ăn của thời gian nén. Món ăn của những thân phận đang ở giữa hai lựa chọn: hoặc nấu ăn tử tế, hoặc… không đủ năng lượng để tử tế.

Tôi bật cười.

Sao ông lại ngồi đây? Ông không đang viết triết học sao?

Tôi đang viết triết học, Lyotard đáp, mắt nhìn tô mì với vẻ trân trọng, và đây chính là nơi triết học xảy ra. Anh biết đấy, trong thời hậu hiện đại, những khoái cảm nhỏ, les petits plaisirs, mới là nơi sự thật trú ẩn. Đại tự sự đã sập. Chỉ còn mì gói là trụ vững.

Tôi ngồi xuống đối diện ông. Bên cạnh chúng tôi là mấy thanh niên ăn mặc phong trần, có lẽ vừa đi làm về và đang thưởng thức tô mì mà họ nói với nhau: “Ăn đại cho no.”

Tôi nhìn tô mì, nhìn Lyotard, rồi hỏi:

Vậy ông nghĩ mì gói nói gì về người Việt?

Lyotard khẽ nhấp một muỗng nước dùng. Nước dùng của mì gói không thể gọi là broth hay bouillon. Nó là một dạng nước có thông điệp: mặn sâu, nóng nhanh, thơm nồng nặc, và đôi khi hơi… tuyệt vọng.

Ông đáp:

Nó nói rằng người Việt là dân tộc giàu tiểu tự sự. Một dân tộc biết kể những câu chuyện nhỏ và sống bằng những câu chuyện đó. Mì gói là biểu tượng của tính chất cấp bách trong đời sống hiện đại: ba phút đổi lấy sinh tồn. Một dân tộc ăn mì gói là một dân tộc biết sống sót.

Tôi ngồi im một lúc. Cái nhận xét nghe vừa đúng vừa… hơi quảng.

Không khí quán mì khá dễ chịu, dù nóng và có phần hỗn loạn. Bà chủ quán hô lớn:

Hai tô mì chay. Một tô mì bò không hành. Một tô gói thêm thịt gà!
Tiếng nước sôi rót xuống, tiếng đũa quẹt vào thành tô, tiếng chai nước ngọt bật nắp. Tất cả tạo thành một bản giao hưởng rất đời thường mà chỉ có ở những nơi người ta không giả vờ sang trọng.

Tôi hỏi tiếp:

Tại sao ông không ăn hamburger? Ông người Tây Phương mà, ông thích thứ đồ ăn nhanh đó, phải không?

Lyotard cười nhẹ, kiểu cười của người đã từ bỏ sự tin tưởng vào bất kỳ hệ thống nào to lớn.

Hamburger là đại tự sự, ông nói, nó luôn cố chứng minh điều gì đó. Nó muốn người ăn tin họ đang bước vào văn minh của sự mạnh mẽ, tiện lợi, và phồn thịnh. Còn mì gói thì khiêm tốn. Nó không hứa gì. Không quảng cáo triết lý “khỏe mạnh”, cũng không bày trò “organic”. Mì gói nói: “Tôi chỉ giúp anh qua đêm nay. Ngày mai thế nào tùy anh.

Tôi bật cười.

Nghe giống như một kiểu tình yêu tạm bợ.

Chính xác! Lyotard vỗ tay, phấn khởi hẳn. Mì gói là mối tình một đêm của ẩm thực. Ngắn, gọn, không ràng buộc. Nhưng ai cũng trở lại ít nhất vài lần trong đời.

Bà chủ quán nhìn chúng tôi bằng vẻ mặt kỳ lạ, chắc không hiểu sao hai người đàn ông trung niên lại bàn chuyện tình yêu với mì gói lúc 10 giờ đêm.

Tôi lấy đôi đũa dùng thử. Nước mì nóng quá mức cần thiết. Cái nóng làm tôi thấy rõ một điều: mì gói không bao giờ cho bạn thời gian do dự. Anh phải ăn ngay, ăn liền, ăn khi còn nóng. Nếu không, nó nở ra, mềm nhũn, và phản bội toàn bộ triết học của nó.

Lyotard nhìn tôi ăn và nói:

Anh thấy không? Đây là triết học của hiện tại. Không có quá khứ. Không có tương lai. Chỉ có cái nóng trong khoảnh khắc này.

Tôi dừng đũa, gật đầu.

Mì gói cũng không quan tâm bạn đang buồn, vui, nghèo, giàu. Nó chỉ cần nước sôi.

Ông gật đầu:

Một triết lý khai mở hơn cả triết học.

Tôi chuyển chủ đề sang câu chuyện người Việt trong nước và người Việt hải ngoại.

Jean, ông nghĩ sao về việc người Việt ở trong nước ăn mì gói khác với người Việt ở nước ngoài?

Lyotard tựa lưng vào ghế, suy nghĩ một lát, như thể ông đang nhìn thấy bản đồ văn hóa hiện ra trong tô mì.

Người Việt trong nước ăn mì gói vì đó là phần tất yếu của đời sống. Nó là món ăn thời gian chuyển động nhanh, là cứu cánh của những hôm lười, những đêm khuya học bài, những lúc cần một “cú chống đỡ” cho cái bụng rỗng.

Còn người Việt hải ngoại?

Nhìn theo góc cạnh triết học, có lẽ, họ ăn mì gói như ăn ký ức. Một gói mì hải ngoại không phải là thức ăn. Nó là bản sao của quê hương bị ép chân không. Mùi hành phi trong gói gia vị gợi lại tiếng bếp của mẹ. Cọng mì vàng gợi lại ánh đèn trong căn bếp tuổi thơ. Nó là “ồn ào” của Việt Nam, nhưng được nén trong một gói vuông vức.

Đúng thật. Có thể quá lời nhưng cảm giác đúng. Ở hải ngoại, mì gói không còn là thức ăn nhanh. Nó là đường dây nóng gọi về quê nhà.

Lyotard mỉm cười:

Đó là triết học của ly tán: cái ăn không còn thuộc về vị giác, mà thuộc về nỗi nhớ.

Bà chủ quán mang thêm ấm nước sôi, hỏi: Mấy anh muốn úp thêm không? Tô này để lâu nó nở đó.

Câu đó, dù vô tình, nghe giống như triết học: Cái gì để lâu cũng nở. Mì gói nở. Ký ức cũng nở. Nỗi buồn cũng nở.

Tôi hỏi:

Jean, vậy ông nghĩ mì gói đại diện cho điều gì về người Việt?

Ông đáp ngay:

Mì gói là biểu tượng của sự co giãn.

Người Việt có khả năng co giãn cảm xúc, văn hóa, và hoàn cảnh đến mức đáng kinh ngạc. Một dân tộc có thể vừa làm thơ, vừa làm kinh tế, vừa sống trong nghèo, vừa cười lớn trong khổ. Mì gói đáp ứng chính xác tinh thần ấy. Nó nở theo hoàn cảnh, giống như người Việt.

Tôi cười nhẹ.

Vậy còn hamburger? Ông đâu thể không so sánh.

Lyotard khoát tay:

Hamburger tượng trưng cho sự thẳng thắn công nghiệp. Nó không thay đổi. Nó đặt ra tiêu chuẩn: dày bao nhiêu, sốt bao nhiêu, thịt bao nhiêu phần trăm. Còn mì gói có thể thêm trứng, thêm xúc xích, thêm kimchi, thêm tỏi phi, thêm hành tím. Mì gói là nghệ thuật biến hoá. Hamburger là nghệ thuật nhất quán.

Tôi gật gù:

Người Việt thích tùy cơ ứng biến.

Đúng, ông bổ sung thêm. Người Việt có DNA của improvisation, ngẫu ứng. Mì gói là món ăn của ứng tác.

Một thanh niên bàn bên chen vào:

Mì gói cũng là món ăn phá sản, anh ơi. Tháng nào kẹt tiền là ăn suốt.

Lyotard nhìn cậu ta đầy hứng thú:

Bravo! Chính xác! Mì gói là triết học của tình trạng khẩn cấp tài chính.

Tất cả chúng tôi phá lên cười.

Gió thổi qua. Đêm hơi lạnh. Tôi nhìn tô mì của mình đã bắt đầu nở. Mì gói luôn nhắc nhở bạn thời gian không đợi ai. Ăn hay không ăn, mì vẫn nở. Giống như cuộc đời: bạn muốn hay không, mọi thứ vẫn tiếp tục.

Lyotard bỗng nói:

Anh có biết điều làm tôi thích nhất ở mì gói là gì không?

Gì?

Nó không bao giờ đòi hỏi phải được hiểu. Còn hamburger thì luôn muốn chứng minh nó là đại diện của văn minh nhanh. Mì gói chỉ nói: “Ăn đi anh. Rồi tính sau.”

Mì gói sống thực tế quá mức.

Nó là triết học của sự giản dị đã tuyệt vọng, Lyotard nói.Và chính sự tuyệt vọng đó làm nó chân thật.

Chúng tôi ngồi đó, ăn từng sợi mì như đang ăn một thứ triết học mềm mại. Tôi thấy lạ: chưa bao giờ có cuộc trò chuyện nào khiến tôi vừa đói vừa triết, vừa buồn cười vừa muốn ghi chép lại.

Lyotard lại nói:

Mì gói trong nước khác mì gói hải ngoại. Trong nước, nó có hương vị của thực tế. Hải ngoại, nó có hương vị của ký ức.

Tôi bỗng im lặng. Không hiểu sao, câu nói đó, chạnh lòng

Có lẽ vì dù ở đâu, khi ăn mì gói, người Việt luôn thấy mình trở về một dạng quê hương nào đó, quen thuộc, mộc mạc, không hoàn hảo nhưng luôn đủ.
Ba phút.

Một gói.

Một hương vị.

Một nỗi nhớ có thể đong bằng nước sôi.

Tôi hỏi:

Jean, vậy triết học mì gói là gì?

Ông đáp:

Là triết học của khoảnh khắc.

Tôi nhìn Lyotard: ông đang xoay sợi mì trên đôi đũa như thể nó là một luận điểm đang được xem xét. Sợi mì rơi xuống, ông lại gắp lên, lặp đi lặp lại như vòng lặp của thời gian hậu hiện đại.

Tôi hỏi:

Jean, ông có thấy mì gói thay đổi tùy người ăn không?

Lyotard đặt đũa xuống, như chuẩn bị đọc một đoạn văn quan trọng.

Mì gói là tấm gương của người ăn. Nó không tự định nghĩa mình. Người ăn mới quyết định nó là ai.

Tôi nhíu mày:

Nghĩa là sao?

Cọng mì không đẹp không xấu. Nó không sang không hèn. Nó chỉ nở theo cái tâm và cái hoàn cảnh của người ăn. Người sinh viên ăn mì gói với cảm giác tranh thủ mong tương lai khá hơn. Người thất tình ăn mì gói để cảm giác được an ủi tạm thời. Người Việt hải ngoại ăn mì gói để cảm giác mình còn liên hệ với tiếng thở của quê nhà.

Vậy mì gói là món ăn đa bản sắc nhất thế giới?

Nếu hamburger là món ăn của bản sắc nước Mỹ, thì mì gói là món ăn của sự đa bản sắc. Nó không ép buộc người ta phải ăn theo đúng định nghĩa. Hamburger muốn người ta ăn “đúng công thức”. Mì gói mời người ta phá công thức.

Tôi ngẫm nghĩ và nhận ra bản thân từng “phá công thức” mì gói không dưới 200 lần trong đời. Thêm trứng. Thêm hành phi. Thêm xúc xích. Thêm ớt. Thêm… tất cả những gì còn lại trong tủ lạnh.

Tôi hỏi:

Vậy ông nghĩ người Việt hải ngoại ăn mì gói với cảm xúc gì?

Người Việt hải ngoại ăn mì gói với sự trung thành.

Giống như người ta giữ một bức thư cũ trong ngăn kéo. Không vứt đi, vì không phải bức thư. Không đọc lại, vì đọc sẽ buồn. Nhưng luôn để đó để biết rằng mình từng thuộc về một nơi.

Câu đó nghe như thể ông nhìn thấy bên trong từng gói mì tôi mua ở chợ Việt hải ngoại.

Còn người Việt trong nước? tôi hỏi.

Họ ăn mì gói với sự… quen thuộc. Giống như quen với trời nóng, quen với kẹt xe, quen với hàng xóm ồn ào. Một thói quen vừa thương vừa ghét. Vừa thoải mái vừa bực mình. Một tình yêu mà người ta không nói bằng lời, nhưng bằng… nước sôi.

Tôi bật cười lớn. Ông Lyotard lúc nào cũng nói những câu nghe vừa đúng vừa quá đúng đến mức làm tôi thấy hơi nhột.

Một cơn gió thổi qua, mang theo mùi nước mì lan ra khắp góc phố. Lạ kỳ thay, mùi mì gói không sang trọng, nhưng có khả năng làm ấm lòng rất nhanh. Chẳng ai thấy mùi mì gói quý phái, nhưng nhiều người thấy nó thân thuộc đến mức không thể thay thế.
  

Văn học về sáng tác truyện ngắn và tiểu thuyết là một chủ đề cần thiết cho nhà văn sáng tác tác phẩm hư cấu bằng tiếng việt. Những nhà văn không học tập theo lề lối chính quy thường tự tin vào khả năng sáng tạo bẩm sinh và khả năng thu thập kinh nghiệm, gọi là “khiếu”, để trở thành nhà văn tự nhiên, cũng đôi khi là nhà văn bỗng nhiên. Những nhà văn được huấn luyện từ trường ốc, nếu không thường xuyên cập nhật văn học sáng tác đương đại, sẽ lỗi thời. Những nhà văn nổi bật trong lịch sử văn chương, thông thường là những người có khả năng tự học rất cao. Song song với sáng tác, họ là những nhà văn học lỗi lạc, cho dù, có thể họ không viết một điều gì về nghiên cứu phê bình. Tôi không phải là người có “khiếu” văn chương cao, cũng không thông qua quá trình học viện hoặc trường lớp sáng tác, chỉ có ý thích tìm hiểu văn học và thử nghiệm những gì đã nghiên cứu. [Không phải là lời khiêm nhường mà là lời trung thực.] Và “Nhận Thức Bảy T” là một phần góp nhặt mà tôi đã kinh qua.
Không có gia đình văn chương nào khiến người đời mãi mê nhắc tới như nhà Brontë. Từ giữa thế kỷ XIX đến nay, bao nhiêu thế hệ độc giả, học giả, nghệ sĩ đã lần lượt quay lại ngôi giáo đường nhỏ ở Yorkshire như hành hương về một thánh địa. Những tiểu sử, kịch bản, phim ảnh, cả những vật dụng tầm thường nhất như khăn trải bàn in hình ba chị em, tất cả tạo thành một nền công nghiệp ký ức, một tín ngưỡng lạ lùng quanh họ. Người ta cứ tìm cách viết thêm, kể thêm, như thể câu chuyện Brontë chưa từng trọn vẹn.
126 câu thơ 7 chữ, xứng đáng gọi bài thơ này là một trường ca. Một trong vài bài thơ dài được phân tích và phê bình nhiều lần bởi một số nhà phê bình chuyên và nhiều nhà bàn thơ tản mạn mang tính nghiệp dư. Hầu hết là khen ngợi sau khi giải thích những ý nghĩ tương đối dễ nắm bắt và những ngụ ý, ẩn dụ quen thuộc tạo nên sự dễ dàng cảm nhận. Đó là bài thơ “Ta Về” của nhà thơ Tô Thùy Yên. Nếu là một bài thơ có giá trị thật hoặc có giá trị bị hoài nghi thì công việc phân tích phê bình bài thơ đó sẽ được tiếp tục qua nhiều thế hệ, ví dụ như chúng ta tiếp tục tìm hiểu và phê phán “Tống Biệt Hành” của Thâm Tâm, hoặc cao hơn là “Kiều” của Nguyễn Du.
... Tôi cảm thấy may mắn vì tôi vẫn có thể kết nối với tổ tiên tôi qua tiếng nói. Nó giúp tôi vững tin hơn vào giá trị những gì tôi hằng tin tưởng và đam mê theo đuổi. Nó phả sức sống vào một người viết lưu vong, cô đơn, tại một bàn viết lữ thứ, cách xa quê hương cả một đại dương rộng lớn...
Khi viết, cô ở trong cơ thể mình, không thể phản bác lại điều đó. Nhưng làm sao giải thích được đồng thới cô cũng ở một nơi khác? Khi viết, cứ như thể cô đang làm việc từ độ cao sáu inch phía trên và ngay trước đầu mình. Nếu năng lượng viết rơi trở lại cơ thể, mọi thứ viết lách đều dừng lại.
Đời Phi Công là truyện vừa, 54 trang, gồm 9 chương. Theo lời tác giả: “Một tuyển tập những bức thư của một phi công viết cho một thiếu nữ còn đang là sinh viên ở đại học để kể cho nàng nghe cuộc đời của những người hàng ngày bay trên gió mây trời”. Phượng cô em hàng xóm ông dạy kèm ở Hà Nội từ hồi nhỏ. Đầu lá thư ông chỉ viết “Phượng”, trong thư có thêm “Phượng em”!
Nếu hỏi tên một tác giả đương thời có nhiều đầu sách, được nhiều tầng lớp độc giả ở mọi tuổi tác thích đọc lẫn ngưỡng mộ và có nhiều bạn bè quý mến, có lẽ trong trí nhiều người sẽ nghĩ đến Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc. Thật vậy, ông có khoảng 60 đầu sách thuộc loại Văn chương, Y học và Phật học; đáp ứng cho nhiều độ tuổi, thường được trưng bày ở các vị trí trang trọng trên các kệ của các nhà sách, thuộc loại best seller, được xuất bản tái bản nhiều lần như “Viết Cho Các Bà Mẹ Sinh Con Đầu Lòng”, “Gió Heo May Đã Về”, “Nghĩ Từ Trái Tim”, “Gươm Báu Trao Tay”... Đó là chưa kể những buổi chia sẻ, đàm đạo, thuyết giảng của ông về sức khỏe, nếp sống an lạc, thở và thiền, v.v... qua những phương tiện truyền thông khác.
Trong một tiểu luận về văn chương Franz Kafka, Milan Kundera đã bắt đầu bằng một câu chuyện có thật xảy ra trên xứ Tiệp Khắc, quê hương ông, dưới thời đảng Cộng sản còn cai trị đất nước này. Một anh kỹ sư được mời sang thủ đô London, Anh quốc để tham dự một hội nghị chuyên ngành. Hôm trở về nhà vào văn phòng làm việc, anh lật tờ báo mới phát hành sáng hôm đó và đã giật bắn người vì trên báo loan tin một kỹ sư người Tiệp sang London dự hội nghị đã xin tị nạn chính trị ở lại Tây phương. Nên nhớ đó là cao điểm căng thẳng của cuộc Chiến tranh Lạnh toàn cầu, đối với các quốc gia trong khối Cộng sản, tị nạn chính trị có nghĩa là phản quốc, là trọng tội mang án tử hình. Anh kỹ sư nọ đã vô cùng hoảng hốt khi đọc bản tin trên báo.
Khi một tác giả hoàn tất xong một bản thảo của một tác phẩm mới, câu hỏi đầu tiên có lẽ tác giả sẽ tự nêu lên rằng: ai sẽ đọc những dòng chữ này của mình? Hẳn là Thầy Tuệ Sỹ cũng có suy nghĩ như thế khi hoàn tất bản thảo tác phẩm “Lý Hạ: Bàn Tay Của Quỷ” vào ngày 19/1/1975. Xin chú ý con số rất tiền định: 1975. Người viết đã hình dung ra hình ảnh Thầy Tuệ Sỹ đứng nơi Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh nhìn ra sân trường, khi Thầy vừa hoàn tất tác phẩm trên khoảng gần nửa thế kỷ trước. Thầy Tuệ Sỹ đã suy nghĩ gì khi cất bản thảo trên vào một góc kệ sách và rồi đời Thầy sẽ không còn thì giờ để mở ra xem nữa? Những gì đời sau biết về nhà thơ Lý Hạ của Trung Hoa không nhiều như các nhà thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ, Tô Đông Pha, Lý Thương Ẩn... Nhà thơ Lý Hạ tuổi thọ chỉ khoảng 25 hoặc 26 hoặc 27 tuổi. Năm sinh của Lý Hạ mơ hồ: tiểu sử trên Wikipedia ghi rằng họ Lý sinh năm 790 hoặc 791.
Đêm sông Hậu, trăng khuyết chiếu mờ mặt sông, sóng ì ọp vỗ mạn thuyền. Đôi khi một bầy chim ăn đêm bay qua sát đầu chúng tôi, cánh chúng xòe ra trong trăng. Đôi khi những con dơi bay chập choạng trong tối như những linh hồn người chết trở lại thăm bạn cũ. Chúng tôi thì thào vào tai nhau những câu chuyện nghe được từ dân làm nghề sông nước. Có lúc sự kiểm soát không gay gắt lắm, chúng tôi được phép lên sàn thuyền ngồi hóng gió. Đôi khi một chiếc ghe nhỏ đi ngang qua, ông chủ thuyền kêu lại mua thêm thức ăn. Không khí ngày tết rộn ràng, tiếng hò trên sông, tiếng máy thuyền, tiếng mua bán nói cười ầm ĩ vọng lại từ một đời sống nửa thực nửa mơ. Một người phụ nữ ngồi trên thuyền vá lại chiếc áo rách cho chồng, như thể chị đang ngồi trong một căn bếp ở thôn xóm an bình nào đó
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.