Hôm nay,  

Mì Gói: Triết Học Ngẫu Ứng

04/09/202600:00:00(Xem: 351)

Mì gói

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.

Điều khiến tôi chú ý không phải là Lyotard đang ăn mì gói. Điều khiến tôi chú ý là ông ăn mì gói như thể đang… nghiên cứu hậu hiện đại trong tô nước sôi.

Ông ngồi đó, ánh mắt nghiêng nhẹ, tay cầm đũa, dáng như đang phân tích cấu trúc của từng sợi mì: độ cong, độ xoắn, sức đề kháng, tương quan giữa texture và narrative.

Tôi tiến đến.

Ông ăn gì vậy, Jean?

Ông ngẩng lên, gương mặt sáng lên như thể ông vừa tìm ra “hậu tự sự của ẩm thực cấp tốc”.

Mì gói Việt Nam.

Món ăn của thời gian nén. Món ăn của những thân phận đang ở giữa hai lựa chọn: hoặc nấu ăn tử tế, hoặc… không đủ năng lượng để tử tế.

Tôi bật cười.

Sao ông lại ngồi đây? Ông không đang viết triết học sao?

Tôi đang viết triết học, Lyotard đáp, mắt nhìn tô mì với vẻ trân trọng, và đây chính là nơi triết học xảy ra. Anh biết đấy, trong thời hậu hiện đại, những khoái cảm nhỏ, les petits plaisirs, mới là nơi sự thật trú ẩn. Đại tự sự đã sập. Chỉ còn mì gói là trụ vững.

Tôi ngồi xuống đối diện ông. Bên cạnh chúng tôi là mấy thanh niên ăn mặc phong trần, có lẽ vừa đi làm về và đang thưởng thức tô mì mà họ nói với nhau: “Ăn đại cho no.”

Tôi nhìn tô mì, nhìn Lyotard, rồi hỏi:

Vậy ông nghĩ mì gói nói gì về người Việt?

Lyotard khẽ nhấp một muỗng nước dùng. Nước dùng của mì gói không thể gọi là broth hay bouillon. Nó là một dạng nước có thông điệp: mặn sâu, nóng nhanh, thơm nồng nặc, và đôi khi hơi… tuyệt vọng.

Ông đáp:

Nó nói rằng người Việt là dân tộc giàu tiểu tự sự. Một dân tộc biết kể những câu chuyện nhỏ và sống bằng những câu chuyện đó. Mì gói là biểu tượng của tính chất cấp bách trong đời sống hiện đại: ba phút đổi lấy sinh tồn. Một dân tộc ăn mì gói là một dân tộc biết sống sót.

Tôi ngồi im một lúc. Cái nhận xét nghe vừa đúng vừa… hơi quảng.

Không khí quán mì khá dễ chịu, dù nóng và có phần hỗn loạn. Bà chủ quán hô lớn:

Hai tô mì chay. Một tô mì bò không hành. Một tô gói thêm thịt gà!
Tiếng nước sôi rót xuống, tiếng đũa quẹt vào thành tô, tiếng chai nước ngọt bật nắp. Tất cả tạo thành một bản giao hưởng rất đời thường mà chỉ có ở những nơi người ta không giả vờ sang trọng.

Tôi hỏi tiếp:

Tại sao ông không ăn hamburger? Ông người Tây Phương mà, ông thích thứ đồ ăn nhanh đó, phải không?

Lyotard cười nhẹ, kiểu cười của người đã từ bỏ sự tin tưởng vào bất kỳ hệ thống nào to lớn.

Hamburger là đại tự sự, ông nói, nó luôn cố chứng minh điều gì đó. Nó muốn người ăn tin họ đang bước vào văn minh của sự mạnh mẽ, tiện lợi, và phồn thịnh. Còn mì gói thì khiêm tốn. Nó không hứa gì. Không quảng cáo triết lý “khỏe mạnh”, cũng không bày trò “organic”. Mì gói nói: “Tôi chỉ giúp anh qua đêm nay. Ngày mai thế nào tùy anh.

Tôi bật cười.

Nghe giống như một kiểu tình yêu tạm bợ.

Chính xác! Lyotard vỗ tay, phấn khởi hẳn. Mì gói là mối tình một đêm của ẩm thực. Ngắn, gọn, không ràng buộc. Nhưng ai cũng trở lại ít nhất vài lần trong đời.

Bà chủ quán nhìn chúng tôi bằng vẻ mặt kỳ lạ, chắc không hiểu sao hai người đàn ông trung niên lại bàn chuyện tình yêu với mì gói lúc 10 giờ đêm.

Tôi lấy đôi đũa dùng thử. Nước mì nóng quá mức cần thiết. Cái nóng làm tôi thấy rõ một điều: mì gói không bao giờ cho bạn thời gian do dự. Anh phải ăn ngay, ăn liền, ăn khi còn nóng. Nếu không, nó nở ra, mềm nhũn, và phản bội toàn bộ triết học của nó.

Lyotard nhìn tôi ăn và nói:

Anh thấy không? Đây là triết học của hiện tại. Không có quá khứ. Không có tương lai. Chỉ có cái nóng trong khoảnh khắc này.

Tôi dừng đũa, gật đầu.

Mì gói cũng không quan tâm bạn đang buồn, vui, nghèo, giàu. Nó chỉ cần nước sôi.

Ông gật đầu:

Một triết lý khai mở hơn cả triết học.

Tôi chuyển chủ đề sang câu chuyện người Việt trong nước và người Việt hải ngoại.

Jean, ông nghĩ sao về việc người Việt ở trong nước ăn mì gói khác với người Việt ở nước ngoài?

Lyotard tựa lưng vào ghế, suy nghĩ một lát, như thể ông đang nhìn thấy bản đồ văn hóa hiện ra trong tô mì.

Người Việt trong nước ăn mì gói vì đó là phần tất yếu của đời sống. Nó là món ăn thời gian chuyển động nhanh, là cứu cánh của những hôm lười, những đêm khuya học bài, những lúc cần một “cú chống đỡ” cho cái bụng rỗng.

Còn người Việt hải ngoại?

Nhìn theo góc cạnh triết học, có lẽ, họ ăn mì gói như ăn ký ức. Một gói mì hải ngoại không phải là thức ăn. Nó là bản sao của quê hương bị ép chân không. Mùi hành phi trong gói gia vị gợi lại tiếng bếp của mẹ. Cọng mì vàng gợi lại ánh đèn trong căn bếp tuổi thơ. Nó là “ồn ào” của Việt Nam, nhưng được nén trong một gói vuông vức.

Đúng thật. Có thể quá lời nhưng cảm giác đúng. Ở hải ngoại, mì gói không còn là thức ăn nhanh. Nó là đường dây nóng gọi về quê nhà.

Lyotard mỉm cười:

Đó là triết học của ly tán: cái ăn không còn thuộc về vị giác, mà thuộc về nỗi nhớ.

Bà chủ quán mang thêm ấm nước sôi, hỏi: Mấy anh muốn úp thêm không? Tô này để lâu nó nở đó.

Câu đó, dù vô tình, nghe giống như triết học: Cái gì để lâu cũng nở. Mì gói nở. Ký ức cũng nở. Nỗi buồn cũng nở.

Tôi hỏi:

Jean, vậy ông nghĩ mì gói đại diện cho điều gì về người Việt?

Ông đáp ngay:

Mì gói là biểu tượng của sự co giãn.

Người Việt có khả năng co giãn cảm xúc, văn hóa, và hoàn cảnh đến mức đáng kinh ngạc. Một dân tộc có thể vừa làm thơ, vừa làm kinh tế, vừa sống trong nghèo, vừa cười lớn trong khổ. Mì gói đáp ứng chính xác tinh thần ấy. Nó nở theo hoàn cảnh, giống như người Việt.

Tôi cười nhẹ.

Vậy còn hamburger? Ông đâu thể không so sánh.

Lyotard khoát tay:

Hamburger tượng trưng cho sự thẳng thắn công nghiệp. Nó không thay đổi. Nó đặt ra tiêu chuẩn: dày bao nhiêu, sốt bao nhiêu, thịt bao nhiêu phần trăm. Còn mì gói có thể thêm trứng, thêm xúc xích, thêm kimchi, thêm tỏi phi, thêm hành tím. Mì gói là nghệ thuật biến hoá. Hamburger là nghệ thuật nhất quán.

Tôi gật gù:

Người Việt thích tùy cơ ứng biến.

Đúng, ông bổ sung thêm. Người Việt có DNA của improvisation, ngẫu ứng. Mì gói là món ăn của ứng tác.

Một thanh niên bàn bên chen vào:

Mì gói cũng là món ăn phá sản, anh ơi. Tháng nào kẹt tiền là ăn suốt.

Lyotard nhìn cậu ta đầy hứng thú:

Bravo! Chính xác! Mì gói là triết học của tình trạng khẩn cấp tài chính.

Tất cả chúng tôi phá lên cười.

Gió thổi qua. Đêm hơi lạnh. Tôi nhìn tô mì của mình đã bắt đầu nở. Mì gói luôn nhắc nhở bạn thời gian không đợi ai. Ăn hay không ăn, mì vẫn nở. Giống như cuộc đời: bạn muốn hay không, mọi thứ vẫn tiếp tục.

Lyotard bỗng nói:

Anh có biết điều làm tôi thích nhất ở mì gói là gì không?

Gì?

Nó không bao giờ đòi hỏi phải được hiểu. Còn hamburger thì luôn muốn chứng minh nó là đại diện của văn minh nhanh. Mì gói chỉ nói: “Ăn đi anh. Rồi tính sau.”

Mì gói sống thực tế quá mức.

Nó là triết học của sự giản dị đã tuyệt vọng, Lyotard nói.Và chính sự tuyệt vọng đó làm nó chân thật.

Chúng tôi ngồi đó, ăn từng sợi mì như đang ăn một thứ triết học mềm mại. Tôi thấy lạ: chưa bao giờ có cuộc trò chuyện nào khiến tôi vừa đói vừa triết, vừa buồn cười vừa muốn ghi chép lại.

Lyotard lại nói:

Mì gói trong nước khác mì gói hải ngoại. Trong nước, nó có hương vị của thực tế. Hải ngoại, nó có hương vị của ký ức.

Tôi bỗng im lặng. Không hiểu sao, câu nói đó, chạnh lòng

Có lẽ vì dù ở đâu, khi ăn mì gói, người Việt luôn thấy mình trở về một dạng quê hương nào đó, quen thuộc, mộc mạc, không hoàn hảo nhưng luôn đủ.
Ba phút.

Một gói.

Một hương vị.

Một nỗi nhớ có thể đong bằng nước sôi.

Tôi hỏi:

Jean, vậy triết học mì gói là gì?

Ông đáp:

Là triết học của khoảnh khắc.

Tôi nhìn Lyotard: ông đang xoay sợi mì trên đôi đũa như thể nó là một luận điểm đang được xem xét. Sợi mì rơi xuống, ông lại gắp lên, lặp đi lặp lại như vòng lặp của thời gian hậu hiện đại.

Tôi hỏi:

Jean, ông có thấy mì gói thay đổi tùy người ăn không?

Lyotard đặt đũa xuống, như chuẩn bị đọc một đoạn văn quan trọng.

Mì gói là tấm gương của người ăn. Nó không tự định nghĩa mình. Người ăn mới quyết định nó là ai.

Tôi nhíu mày:

Nghĩa là sao?

Cọng mì không đẹp không xấu. Nó không sang không hèn. Nó chỉ nở theo cái tâm và cái hoàn cảnh của người ăn. Người sinh viên ăn mì gói với cảm giác tranh thủ mong tương lai khá hơn. Người thất tình ăn mì gói để cảm giác được an ủi tạm thời. Người Việt hải ngoại ăn mì gói để cảm giác mình còn liên hệ với tiếng thở của quê nhà.

Vậy mì gói là món ăn đa bản sắc nhất thế giới?

Nếu hamburger là món ăn của bản sắc nước Mỹ, thì mì gói là món ăn của sự đa bản sắc. Nó không ép buộc người ta phải ăn theo đúng định nghĩa. Hamburger muốn người ta ăn “đúng công thức”. Mì gói mời người ta phá công thức.

Tôi ngẫm nghĩ và nhận ra bản thân từng “phá công thức” mì gói không dưới 200 lần trong đời. Thêm trứng. Thêm hành phi. Thêm xúc xích. Thêm ớt. Thêm… tất cả những gì còn lại trong tủ lạnh.

Tôi hỏi:

Vậy ông nghĩ người Việt hải ngoại ăn mì gói với cảm xúc gì?

Người Việt hải ngoại ăn mì gói với sự trung thành.

Giống như người ta giữ một bức thư cũ trong ngăn kéo. Không vứt đi, vì không phải bức thư. Không đọc lại, vì đọc sẽ buồn. Nhưng luôn để đó để biết rằng mình từng thuộc về một nơi.

Câu đó nghe như thể ông nhìn thấy bên trong từng gói mì tôi mua ở chợ Việt hải ngoại.

Còn người Việt trong nước? tôi hỏi.

Họ ăn mì gói với sự… quen thuộc. Giống như quen với trời nóng, quen với kẹt xe, quen với hàng xóm ồn ào. Một thói quen vừa thương vừa ghét. Vừa thoải mái vừa bực mình. Một tình yêu mà người ta không nói bằng lời, nhưng bằng… nước sôi.

Tôi bật cười lớn. Ông Lyotard lúc nào cũng nói những câu nghe vừa đúng vừa quá đúng đến mức làm tôi thấy hơi nhột.

Một cơn gió thổi qua, mang theo mùi nước mì lan ra khắp góc phố. Lạ kỳ thay, mùi mì gói không sang trọng, nhưng có khả năng làm ấm lòng rất nhanh. Chẳng ai thấy mùi mì gói quý phái, nhưng nhiều người thấy nó thân thuộc đến mức không thể thay thế.
  

“Làm nghệ sĩ là một lời cam kết với đồng loại rằng những vết rách của kiếp sống sẽ không biến ta thành kẻ sát nhân,” Louise Bourgeois từng viết trong nhật ký thuở thiếu thời. “Những kẻ làm thơ — tôi muốn nói: mọi nghệ sĩ — rốt cuộc là những kẻ duy nhất biết sự thật về chúng ta,” James Baldwin từng viết ở tuổi ba mươi, “…không phải binh lính, càng không phải chính khách… chỉ có thi sĩ.” Và sự thật ấy, cách ta yêu, cách ta cho đi, và cách ta chịu đựng –là chính bản thể của ta.
Tờ Việt Báo Kinh Tế số 28 ngày 13 tháng 2 năm 1993 có đăng bài thơ “Lửa, Thấy Từ Stockholm” của nhà thơ Trần Dạ Từ, nhân tuần lễ nhà văn Thảo Trường thoát khỏi nhà tù lớn đến định cư ở Hoa Kỳ. Đây là bài thơ Trần Dạ Từ viết từ 1989 rời Việt Nam, khi được các bạn Văn Bút Thụy Điển mời ăn cơm chiều, Ông nhớ đến bạn còn ở trong tù khổ sai dưới chân núi Mây Tào, Hàm Tân. 33 năm đã trôi qua kể từ ngày chúng ta chào đón nhà văn Thảo Trường đến Hoa Kỳ, 15 năm kể từ ngày Thảo Trường từ bỏ thế gian, Chiều Chủ Nhật tuần này, 22 tháng Sáu, nhân dịp tái xuất bản bốn cuốn sách của Thảo Trường (Hà Nội, Nơi Giam Giữ Cuối Cùng; Người Khách Lạ Trên Quê Hương; Ngọn Đèn; Lá Xanh), bạn bè văn hữu và gia đình cùng tề tựu tưởng nhớ Nhà Văn. Việt Báo trân trọng mời độc giả cùng đọc, cùng nhớ nhà văn lớn của chúng ta, một thời, một đời.
Thăm nuôi năm thứ mười: trại Z30D Hàm Tân, dưới chân núi Mây Tào, Bình Tuy. Cuối năm 1985, mấy trăm người tù chính trị, trong đó có cánh nhà văn nhà báo, được chuyển từ trại Gia Trung về đây. Hồi mới chuyển về, lần thăm nuôi đầu, còn ở bên K1, đường sá dễ đi hơn. Cảnh trí quanh trại tù nặng phần trình diễn, thiết trí kiểu cung đình, có nhà lục giác, bát giác, hồ sen, giả sơn... Để có được cảnh trí này, hàng ngàn người tù đã phải ngâm mình dưới nước, chôn cây, đẽo đá suốt ngày đêm không nghỉ. Đổi vào K2, tấm màn hoa hòe được lật sang mặt trái: những dãy nhà tranh dột nát, xiêu vẹo. Chuyến xe chở người đi thăm nuôi rẽ vào một con đường ngoằn nghoèo, lầy lội, dừng lại ở một trạm kiểm soát phía ngoài, làm thủ tục giấy tờ. Xong, còn phải tự mang xách đồ đạc, theo đường mòn vào sâu giữa rừng, khoảng trên hai cây số.
Theo một ý nghĩa nào đó, Farrington đóng vai trò là một kiểu người có thể thay thế hoặc tồn tại ở bất cứ đâu, có thể là một nhân vật đặc trưng nào đó nhưng cũng có thể là một người bình thường. Bằng cách chọn chủ thể như thế, Joyce đưa Farrington vào bối cảnh đường phố Dublin và gợi ý rằng sự tàn bạo của gã không có gì là bất thường. (Lời người dịch).
Thông thường người ta thỏa thuận những tác phẩm và những tác giả đó thuộc về văn học bản xứ với phụ đề “gốc Việt.” Thỏa thuận đó đặt cơ bản trên ngôn ngữ, có tên gọi “ngôn ngữ chính thống”, còn tiếng Việt là “ngôn ngữ thiểu số.” Tất cả những ý nghĩa này được nhìn thấy và định nghĩa từ những người bản xứ của ngoại ngữ. Còn người Việt, chúng ta nhìn thấy và nghĩ như thế nào? Hai tập thơ tiếng Hán của Nguyễn Du, thuộc về văn học Trung Quốc hay Việt Nam? Những bài viết, sách in tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Latin của các học giả và các linh mục dòng tên, thuộc về văn học nào?
Đứa trẻ đi học bị bạn bè bắt nạt ở trường về nhà mét mẹ, một đứa trẻ bị trẻ con hàng xóm nghỉ chơi, về nhà mét với mẹ, cô con gái bị người yêu bỏ về tâm sự với mẹ, v.v., nói chung những đứa trẻ cần bờ vai của mẹ, bờ vai mẹ là nơi các con nương tựa. Con cái thường tâm sự với mẹ về những phiền não hàng ngày hơn tâm sự với cha. Ngày của mẹ là ngày tưng bừng, náo nhiệt nhất. Cha thường nghiêm nghị nên trẻ con ít tâm sự với cha. Nói như thế, không có nghĩa là trẻ con không thương cha? Không có cha làm sao có mình, cho nên tình thương cha mẹ cũng giống nhau, nhưng trẻ con gần mẹ hơn gần với cha. Khi đi học về, gọi mẹ ơi ới: mẹ ơi, con đói quá, mẹ ơi, con khát quá, mẹ ơi, con nhức đầu, mẹ ơi,... Tối ngày cứ mẹ ơi, mẹ ơi. Nhất là những đứa trẻ còn nhỏ, chuyện gì cũng kêu mẹ.
Giải thưởng cho thể loại Tiểu Thuyết (Fiction) về tay nhà văn Percival Everett với tác phẩm James. Tiểu thuyết James là sự tái hiện nhân vật Huckleberry Finn trong tiểu thuyết Adventures of Huckleberry Finn của văn hào Mark Twain. Nhà văn Percival Everett kể lại góc nhìn của Jim, người bạn đồng hành của Huck bị bắt làm nô lệ trong chuyến du lịch mùa Hè. Trong James, Percival Everett đã trao cho nhân vật của Jim một tiếng nói mới, minh họa cho sự phi lý của chế độ chủng tộc thượng đẳng, mang đến một góc nhìn mới về hành trình tìm kiếm gia đình và tự do.
Văn học miền Nam tồn tại mặc dù đã bị bức tử qua chiến dịch đốt sách và cả bắt bớ cầm tù đầy đọa những người cầm bút tự do sau ngày Cộng sản Bắc Việt chiếm lĩnh miền Nam. Chẳng những tồn tại mà nền văn học ấy đã hồi sinh và hiện đang trở thành niềm cảm hứng cho các thế hệ Việt kế tiếp không chỉ ở hải ngoại mà còn cả trong nước. Có lẽ chưa có một nền văn học nào trên thế giới đã có thể thực hiện được những thành quả trong một thời gian ngắn ngủi chưa đầy một thế hệ như vậy. Bài viết này sẽ tổng kết các lý do dẫn đến thành quả của văn học miền Nam trong 20 năm, từ 1954 tới 1975, một trong hai thời kỳ văn học phát triển có thể nói là rực rỡ và phong phú nhất của Việt Nam (sau nền văn học tiền chiến vào đầu thế kỷ 20). Tiếp theo là việc khai tử văn học miền Nam qua chiến dịch đốt và tịch thu các văn nghệ phẩm, cầm tù văn nghệ sĩ của Việt cộng. Và kế là những nỗ lực cá nhân và tự nguyện để phục hồi văn học miền Nam tại hải ngoại và hiện trở thành nguồn cảm hứng cho các thế hệ Việt..
Văn học luôn được xây dựng trên tác giả, tác phẩm và độc giả, với những cơ chế tất yếu là báo, tạp chí văn học, nhà xuất bản, mạng lưới văn chương, và phê bình. Gần đây thêm vào các phương tiện thông tin xã hội. Trên hết là quyền lực xã hội nơi dòng văn học đang chảy, bao gồm chính trị, tôn giáo. Giá trị của một giai đoạn văn học được đánh giá bằng những thành phần nêu trên về sáng tạo và thẩm mỹ qua những cơ chế như tâm lý, ký hiệu, cấu trúc, xã hội, lịch sử… Việc này đòi hỏi những nghiên cứu mở rộng, đào sâu theo thời gian tương xứng.
Có lần tôi đứng trước một căn phòng đầy học sinh trung học và kể một câu chuyện về thời điểm chiến tranh Việt Nam chấm dứt, về việc tôi đã bỏ chạy sang Mỹ khi còn nhỏ, và trải nghiệm đó vẫn ám ảnh và truyền cảm hứng cho tôi như thế nào, thì một cô gái trẻ giơ tay hỏi tôi: “Ông có thể cho tôi biết tại sao cha tôi không bao giờ kể cho tôi nghe về cuộc chiến đó không? Cha tôi uống rượu rất nhiều, nhưng lại ít nói.” Giọng nói cô run rẩy. Cô gái bảo cha cô là một người lính miền Nam Việt Nam, ông đã chứng kiến nhiều cảnh đổ máu nhưng nỗi buồn của ông phần nhiều là trong nội tâm, hoặc nếu đôi khi thể hiện ra ngoài thì bằng những cơn thịnh nộ.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.