Hôm nay,  

Dạ Khúc, Đêm Trốn Chạy

03/07/202600:00:00(Xem: 256)
Thanh tam tuyen_Đinh Cường
Chân dung Thanh Tâm Tuyền - Họa sĩ Đinh Cường.
 
Một thi sĩ đúng nghĩa là một nhân chứng trung thực qua chữ nghĩa thơ. Đây là ý của nhà thơ Wilfred Owen (1893-1918.)

Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)

Cái đẹp bao gồm tính vật lý, tâm lý và siêu hình. Trong lãnh vực tâm lý và siêu hình, cái đẹp hiện diện khắp nơi, chờ đợi sự khám phá. Trong cái xấu, cái ác, cái hư hỏng vẫn có thể nhìn thấy cái đẹp, vì vậy, có câu: Đẹp một cách xấu hoặc xấu một cách đẹp. Thơ cưu mang bản chất thuận và nghịch. Chính vì vậy, một trong số thủ thuật tìm hiểu thơ hay là tìm thấy những nghịch lý, phi lý ở nội dung cũng như hình thức của bài thơ.

Dạ Khúc là một trong số bài thơ nổi bật của Thanh Tâm Tuyền. Trong dạng thơ tự do trình bày bằng nhiều ẩn dụ và biểu tượng. Những hình ảnh truyền đạt, những hình ảnh đối nghịch trong các tứ thơ rất sắc sảo, mạnh mẽ, tạo ấn tượng. Sử dụng tứ thơ khác lạ, chọn những hình ảnh hữu hiệu là điểm mạnh trong sáng tác của nhà thơ Thanh Tâm Tuyền.

Về cấu trúc

Dạ khúc gồm có: Bốn câu mở, bốn câu kết, mười sáu câu thân chia làm hai đoạn. Diễn tiến của cấu trúc theo chiều dài thời gian. Một lối cấu trúc tự nhiên và truyền thống trong văn học thơ Việt.

Bài thơ bắt đầu bằng bốn câu mở, tiếp theo là mười sáu câu thân và bốn câu kết. Toàn bài dựng trên những câu thơ chủ lực:

Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Rồi dây điện cuốn lấy chúng ta
Sao tuổi trẻ quá buồn
như con mắt giận dữ
Sao tuổi trẻ quá buồn
Như bàn ghế không bầy
Anh đưa em đi trốn.

Bảy câu trên cũng có thể là một bài thơ đầy đủ như một bài thơ ngắn với nhiều khoảng trống để tư duy. Câu “như bàn ghế không bầy” là câu yếu nhất so với các câu kia. Ý thơ chỉ là “tuổi trẻ cô đơn”

Thông điệp chính của bài thơ là “Sao tuổi trẻ quá buồn.” Ông đại diện cho thế hệ của ông để nói lên thực trạng chung, một cách sống chung của tuổi trẻ trong cùng thời đại. Thông điệp đó là một câu hỏi.

Câu hỏi không hẳn cần câu trả lời vì câu hỏi này mang tính triết lý hơn là cách hỏi bình thường. Câu hỏi lôi theo nhiều câu hỏi khác. Ví dụ như, tại sao tuổi trẻ chúng tôi lại buồn? Tuổi trẻ có quả gì với cái nhân của đất nước, dân tộc? Tại sao tuổi trẻ không được tận hưởng mùa xuân mà lây lất trong mùa thu, chuẩn bị một mùa đông lầy lội trước mặt?

Tựu trung, bài thơ này “buồn” là dấu hỏi, một thao thức, một phản đối, một chất vấn. Như Leonard Cohen đã viết: “Thơ chỉ là bằng chứng của cuộc sống. Nếu cuộc sống của bạn đang cháy, thơ chỉ là tro tàn.” (Poetry is just the evidence of life. If your life is burning well, poetry is just the ash.) 

Phân lý bài thơ

Đây là một bài thơ dễ hiểu qua diện ngôn ngữ. Không có chữ mới. Không có chữ phức tạp. Tất cả những gì khó hiểu nằm nơi hình ảnh trong ẩn dụ và biểu tượng. Nghĩa là chúng ta nỗ lực vạch trần những ngụ ý theo lề lối khoa học nhân văn để minh bạch hóa thay vì những lời tán rộng mơ hồ và những ý tưởng chơi vơi không liên can mấy đến bài thơ.

Lối bình thơ mà chúng ta thường gặp là lối bình thơ kéo dài từ trước năm 1975, Bình Thơ Tản Mạn. Nghĩa là trích những đoạn thơ rồi tản mạn về những đoạn thơ đó. Giải thích càng mơ hồ thì càng đúng với bản chất mơ hồ của thơ. Đôi khi chính vì lời bình, làm cho bài thơ khó hiểu hơn. Không phải chỉ phê bình Việt đi trên lối truyền thống này, mà nền phê bình Tây phương trước thế kỷ 20 cũng vậy. Từ thế kỷ 20 trở đi, phê bình Tây phương mới có nhiều thay đổi mới, lộng lẫy với lý thuyết tâm lý của Freud và các tâm lý gia của các thế hệ tiếp theo; với lý thuyết kinh tế-xã hội của Karl Marx; với Ký Hiệu Học; với Cấu Trúc Luận; với giải Cấu Trúc, vân vân…tiến vào thế kỷ 21 bằng một hỗn hợp phê bình với cá tính độc đáo của mỗi nhà phê bình nổi bật.

Bốn câu đầu tiên, bốn câu mở, hoàn tất luận lý và văn phạm như nhột đoạn văn xuôi: “Anh sợ những cột đèn đổ xuống rồi dây điện cuốn lấy chúng ta. Bóp chết mọi hy vọng nên anh dìu em đi xa.” Nếu lấy đi hai chữ “rồi” và “nên”, thì câu văn sẽ thơ hơn. Đoạn thơ sẽ rời rạc, không cần luận lý chặt chẽ, tạo ra khoảng trống cho tư duy, như:       

Anh sợ những cột đèn đổ xuống
Dây điện cuốn lấy chúng ta
Bóp chết mọi hi vọng
Anh dìu em đi xa

Cụm từ “bóp chết” có vẻ không phù hợp ý thơ. Dây điện cuốn lấy chúng ta, siết chết mọi hy vọng thì mới phù hợp với luận lý liên tục bởi chữ rồi và nên. Tôi nghĩ, sau cột đèn và dây điện, tác giả đổi sang một góc nhìn khác. Bóp chết ngụ ý một lực lượng khác mà cột đèn và đây điện làm ẩn dụ. Lực lượng đời sống, xã hội hoặc định mệnh. Hoặc là tác giả có ngụ ý gì khác với chữ ”bóp” mà tôi chưa khám phá ra.


Tứ thơ và hình ảnh cột đèn đổ xuống, dây điện cuốn chết con người là một tứ thơ độc đáo, ấn tượng. Mở đầu bằng một ẩn dụ như vậy khiến cho bài thơ quyến rũ người đọc tò mò muốn biết kết cuộc sẽ ra sao?

Phần mười sáu câu thơ thân chia làm hai đoạn “Đi đi”. Đoạn đầu là đi công viên. Đoạn tiếp theo là đi quán rượu.
Đi đi chúng ta đến công viên / Nơi anh sẽ hôn em đắm đuối / Ôi môi em như mật đắng / Như móng sắc thương đau

Đoạn đầu ngắn, tác giả nói về bản chất tình tình yêu. Muôn thuở, tình lúc nào cũng ngọt mà yêu lúc nào cũng đắng. Tác giả sử dụng những hình ảnh rất hiệu quả vì gần gũi với trải nghiệm vị giác: ngọt và đắng, gần gũi với xúc giác: móng sắc. Theo tâm lý, yêu thường xuyên đắng là vì ghen và sợ mất người yêu.

Tình yêu là một phần thứ yếu trong bài thơ này, phần dài hơn là chủ đề thân phận trong đoạn thứ hai:

Đi đi anh đưa em vào quán rượu / Có một chút Paris / Để anh được làm thi sĩ / Hay nửa đêm Hà Nội / Anh là thằng điên khùng.

Paris và Hà Nội là một cặp đối đầu. Thi sĩ và thằng điên là một cặp đối đầu. Paris thuở ấy là chiếc nôi vàng son của văn học nghệ thuật, hầu hết các nghệ sĩ danh tiếng trên thế giới và những nghệ sĩ sắp nổi danh đều sống ở đó hoặc ghé đến như những kẻ hành hương. Ước mơ của nhân vật chính là được làm và được công nhận như một thi sĩ ở cấp độ Paris. Nhưng tiếc thay chỉ là nửa đêm Hà Nội.

Lúc này, tác giả đã vào Nam. Ký ức về Hà Nội mang tính chính trị và xã hội, gợi ý nơi đó, không thể làm nghệ thuật, không có thi sĩ chỉ có những gã điên khùng. Dưới chế độ Cộng Sản có bao nhiêu người làm thơ là thi sĩ thực sự?

Hình ảnh quán rượu có người bán hàng ngủ sau quầy, không phải là quán cóc bên đường bán rượu đế, mà là một “bar” rượu theo kiểu Pháp. Nơi thấp thoáng một chút Tây, một chút Paris. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng của Tây Phương vào tận sở thích và ý tưởng của tác giả.

Ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới / Chiếc kèn hát mãi than van / Điệu nhạc gầy níu nhau tuyệt vọng /

Câu ôm em trong tay là ý thơ của Jack Prevet mà Thanh Tâm Tuyền đã khéo léo tái tạo trong ngôn ngữ Việt. Cụm từ “đã nhớ” chính xác nói lên điều gì đau đớn cho mai sau từ hạnh phúc hôm nay. Hai câu tiếp theo có thể diễn tả một bối cảnh của đôi tình nhân đang dìu nhau trong điệu nhạc khắc khoải. Thêm một hình ảnh nữa về nếp sống rất Tây.

Sao tuổi trẻ quá buồn / như con mắt giận dữ / Sao tuổi trẻ quá buồn /như bàn ghế không bầy

Thông điệp và ý chính của tác giả nằm trong bốn câu này. Tứ thơ con mắt giận dữ diễn tả tuổi trẻ quá buồn nói lên sự uất hận trong tâm trạn chán nản. Truyền đạt đến như vậy là cùng, khó làm sao hơn nữa. Nhưng bàn ghế lẻ loi không bầy để gợi lên sự cô đơn lạc lỏng của tuổi trẻ thì không xuất sắc lắm. Có nhiều hình ảnh khác độc đáo, mạnh bạo hơn để so sánh với tuổi trẻ quá buồn.

Thôi em hãy đứng dậy 
người bán hàng đã ngủ sau quầy 
anh đưa em đi trốn 
những giày vò ngày mai

Bốn câu kết thể hiện nỗi cam chịu, bỏ cuộc và trốn tránh. Tâm lý bi quan. Hình như chỉ có sức giận dữ hiện lên nơi con mắt. Thế thôi, toàn bộ bài thơ là một tâm trạng than thở, không biết làm gì hơn.

Trong bốn câu mở, tác giả viết: “Anh dìu em đi xa.” Trong bốn câu kết, tác giả viết: “Anh đưa em đi trốn.” Sự liên hệ giữa hai câu đúc kết một điều gì ủy mị. Tuổi trẻ chạy trốn khi đối diện nỗi buồn, khi phải đương đầu với bối cảnh khó khăn. Nhà thơ Audre Lorde nói:  “Thơ không chỉ là giấc mơ và viễn cảnh; nó là kiến trúc xương sống của cuộc đời. Nó đặt nền móng cho một tương lai đổi thay, một cây cầu bắc qua nỗi sợ hãi về những điều chưa từng có trước đây.” (Poetry is not only dream and vision; it is the skeleton architecture of our lives. It lays the foundations for a future of change, a bridge across our fears of what has never been before.) Trong tinh thần này, các bạn nghĩ sao về bài thơ Dạ Khúc? Chẳng lẽ đây là hiện trạng của tuổi trẻ trong thời đó, một bóng dáng nền móng của thế hệ?

Gần hai mươi năm sau, các thế hệ tuổi trẻ ở miền Nam trước tháng Tư năm 1975 chẳng những sao quá buồn, mà còn sao quá khốn khổ?

Kết luận

Ưu điểm của bài thơ là truyền đạt rõ ràng một trạng thái cảm xúc cụ thể: Tuổi trẻ của thế hệ dù có tình yêu cũng không lấp đầy nỗi buồn thân phận. Tạo được sự cảm thông nơi người đọc về nỗi ưu tư thời cuộc. Những hình ảnh với tứ thơ đặc sắc, nặng ý nghĩa và đạt được vẻ đẹp của thơ. Những nổi bật này làm bài thơ hấp dẫn, truyền tải chủ đề một cách hiệu quả.  Mặc dù có những chi tiết trừ bớt giá trị nhưng bài thơ này đã thỏa mãn hầu hết người đọc.

Nhận xét riêng của tôi về cá tính của bài thơ, có lẽ cũng là một phần cá tính của tác giả đã tạo ra không khí và cảm giác bi quan về thân thế trong thời cuộc. Chất bi quan này kéo dài qua nhiều nhà thơ trẻ về sau và kéo băng qua đại dương với những nhà thơ nhập cư. Khi đối đầu với thời cuộc, hình như hầu hết thơ Việt là bi quan, nẩy sinh ra hai nhánh lớn: 1- Bất cần đời. 2- Tìm đến tình yêu. Và thơ tình, thơ cảm tính chiếm 90% của thơ Việt nhập cư.
Ngu Yên

Có một thứ mệt mỏi sâu hơn mọi thứ mệt mỏi khác: mệt vì phải sống giữa những điều chưa ngã ngũ. Con người chịu được nghèo đói, chia lìa, chiến tranh, lưu đày. Nhưng lại không chịu đựng nỗi một câu hỏi chưa có lời giải đáp, một khoảng trống chưa được lấp, một sự thật còn đang mở. Người ta không quen với sự bỏ ngỏ. Muốn một kết luận. Một nguyên nhân. Một thủ phạm. Một giải đáp. Một nhãn hiệu dán lên mọi sự, để từ đó có thể yên tâm mà đi tiếp. Vì vậy người ta yêu ý kiến. Cầm nó trên tay như cầm một ngọn đèn. Nhưng lắm khi ngọn đèn ấy không soi sáng được gì. Nó chỉ vẽ ra một vòng sáng nhỏ quanh chân ta, rồi khiến ta tưởng vòng sáng ấy là cả thế giới.
“Nếu bạn còn có thể yêu, hết lần này đến lần khác,” Henry Miller viết, khi đứng bên kia sườn dốc của tuổi tám mươi, “nếu bạn còn biết tha thứ, biết quên, nếu bạn không để mình hóa chua, hóa gắt, hóa cay nghiệt, hoài nghi…thì bạn đã nắm được quá nửa bí mật của đời sống.” Bảy năm trước đó, Bertrand Russell — triết gia lớn của Anh, nhà toán học, sử gia, và giải Nobel — cũng dừng lại ở chính câu hỏi ấy, vào cùng một chặng cuối của đời người. Trong một tiểu luận ngắn, nhan đề Nghệ Thuật Già Đi, viết ở tuổi tám mươi mốt, ông suy tưởng về cách một con người có thể đi trọn hành trình của mình.
Không ai có thể xây cho bạn cây cầu để băng qua dòng sông đời sống. Cây cầu ấy, hoặc do chính bạn dựng, hoặc không có gì cả. Nietzsche viết như vậy khi ba mươi tuổi. Hơn một thế kỷ sau, Seamus Heaney — nhà thơ đoạt Nobel — dặn người trẻ: con đường thật để đi vào và đi qua kinh nghiệm là con đường trung thành với nỗi cô đơn của riêng bạn, với thứ tri thức thầm kín chỉ bạn nghe được tiếng mình trong đó.
Trong trả lời phỏng vấn của tạp chí mạng Da Màu về chuyện “Đọc và Viết & về Văn học Hải ngoại” (28 & 29.8.2025), Bùi Vĩnh Phúc chia sẻ anh yêu sách từ nhỏ nên đã để dành tiền mua sách và đọc đủ thứ. Bên cạnh đó, anh còn đổi sách, báo với bạn bè trong xóm... Hoặc “cất giữ làm của riêng” những báo hoặc tập san có đi thơ, truyện mà anh thích từ “kho” báo chí trong nhà của bố. Khoảng lớp Đệ Ngũ (lớp 8 bây giờ), bằng tiền bố mẹ cho, anh “nướng” hết vào các tiệm bán sách cũ hoặc bán solde (có những quyển rất hay và còn mới) để có một thư viện cho riêng mình. Càng lớn, anh lại càng có thêm điều kiện để thu thập sách mới, sách hay với các thể loại khác nhau. Kể từ năm Đệ Nhị (lớp 11 sau này), anh hướng về đọc sách phi-hư cấu đủ mọi thể loại. Đến thời thanh niên, Bùi Vĩnh Phúc tìm đọc nhiều sách nghiên cứu và phê bình.
Theo thông tấn Polskie Radio S.A. của Ba Lan, hôm Thứ Hai, ngày 4 tháng 5, 2026, Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026 đã được trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania. Ana Blandiana – một nữ thi sĩ kiêm nhà bất đồng chính kiến chống cộng người Romania – đã giành chiến thắng tại Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026; giải thưởng này được đặt theo tên của một trong những thi sĩ vĩ đại nhất của Ba Lan trong thế kỷ 20. Sinh năm 1982, nhà thơ Blandiana (tên khai sinh là Otilia Valeria Coman) là đại diện tiêu biểu cho nhóm được gọi là "tân hiện đại chủ nghĩa" (neo-modernists) – một thế hệ thi sĩ xuất hiện vào thập niên 1960, những người đã khước từ học thuyết về nghệ thuật vô sản (proletarian art) và tìm kiếm nguồn cảm hứng từ truyền thống văn học của thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến.
Nó đứng ở cuối hành lang. Lối đi dài, đèn neon trắng, cửa đóng kín hai bên. Nó quay lưng lại, người nhỏ xíu trong bộ đồ rộng thùng thình. Tôi gọi, nhưng không nghe được tiếng mình. Nó lầm lũi bước đi chân không. Một cánh cửa mở ra. Bàn tay to kéo nó vào. Cửa khép chặt lại. Tôi chạy. Tôi gào. Tôi đập cửa. Không động tĩnh. Một cánh cửa khác mở ra. Nó đứng đó, im lặng. Quần lót mặc ngược. Cúi xuống kéo quần lại, rồi nó đứng yên như trời trồng. Vết đỏ trong quần lót loang ra. Tôi lao tới. Không chạm được nó. Một đứa lớn hơn đứng phía sau con bé. Không rõ mặt. Chỉ là chiếc bóng đổ dài lên tường. Tôi hét to. Nó không quay lại.
Theo nhà xuất bản, Kaho là lần đầu tiên một nhân vật nữ đơn độc giữ vai trò trung tâm trong một tiểu thuyết dài của Murakami – chi tiết đặc biệt đáng chú ý nếu đặt trong bối cảnh những phê bình nữ quyền lâu nay dành cho thế giới sáng tác của ông, cũng như các phát biểu trước đây của chính Murakami về cách ông xây dựng nhân vật nữ.
“Tôi mong người đọc có thể thấy hay cảm nhận được cái sức sống đẹp tươi và đầy màu sắc của một vùng trời đất hoa cỏ quê hương, nói riêng, và của cõi sống văn chương con người, nói chung. Cái cõi sống ấy, người viết và người đọc, ở nơi nào và thời nào, tôi tin, cũng đều muốn hướng đến. Trong đó, tất cả – người viết và người đọc, cái viết và cái đọc, cái được viết và cái được đọc – đều hạnh phúc quây quần và ca hát hạnh ngộ cùng nhau.” -- BVP
Trước khi trở thành một tiểu thuyết gia lừng danh, Toni Morrison vốn là một nhà giáo. Sinh năm 1931 tại Lorain, tiểu bang Ohio, bà theo học tại Howard University rồi Cornell University, sau đó trở lại Howard để giảng dạy Anh văn từ năm 1957. Chính từ môi trường học thuật ấy, một phần căn bản trong đời văn của Morrison đã được hình thành: tinh thần khảo sát, đối chiếu và chất vấn cách văn chương Hoa Kỳ nhìn nhận người da đen. Từ một cô giáo trẻ, Morrison dần bước sang đời sống xuất bản, trước hết bằng công việc biên tập, rồi bằng sáng tác tiểu thuyết. Bà trở thành người phụ nữ da đen đầu tiên giữ một chức vụ biên tập tại Random House, sau đó đoạt giải Pulitzer năm 1988 với Beloved và giải Nobel Văn chương năm 1993. Khi bà qua đời năm 2019, di sản của bà đã vượt khỏi khuôn khổ tiểu thuyết để trở thành một phần quan trọng của văn học Mỹ hiện đại.
Nỗi buồn... Tôi tin rằng các văn nghệ sĩ sinh ra, trưởng thành và có sáng tác tại Miền Nam Việt Nam trước tháng 4 năm 1975 có một nỗi buồn khi nhìn thấy đất nước chia đôi, cảm nhận nỗi đau khi thấy những người đàn anh và bạn hữu chia hai phe lên rừng xuống biển và một phe lừng khừng thứ ba, rồi phẫn nộ khi chứng kiến thảm cảnh tàn phá của các trận cận chiến Tết Mậu Thân 1968 khắp các thành phố lớn ở quê nhà. Hai nhà thơ Trần Kiêm Trinh Tiên và Trần Đình Sơn Cước nằm trong thế hệ đó, và nỗi buồn đó hiện rõ trong ấn phẩm mới nhất của họ, tập thơ Vẫn Sống Cũng Ngụ Ngôn (VSCNN) phát hành năm 2026, in chung thơ của hai người.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.