Hôm nay,  

Lịch Sử Viên Aspirin

10/07/202000:00:00(Xem: 6961)

 

BS Nguyen Y Duc

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

Đa số những cơn đau mà con người thường gặp không phải gây ra do giải phẫu hoặc mới bị thương mà thuốc mê có thể dùng để chữa nhưng còn những cơn đau kinh niên như viêm xương khớp hoặc đau ngắn hạn như nhức đầu và đau răng thì chữa bằng cách nào. Với các đau này, một loại dược phẩm rất cần để giảm đau trong khi đó ta vẫn có thể đi làm được.
 
Vào mùa hè năm 1758, đức cha Edward Stone, ở Chipping Norton bên Anh bị sốt và viêm xương khớp. Vô tình ngài  đã nhai cành của cây liễu trắng rất đắng , ngài rất ngạc nhiên mà thấy rằng cơn đau giảm. Ngài liền nghĩ ra cách để phơi khô  và làm thành bột vỏ cây này và thử nghiệm để kiếm một liều hiệu nghiệm nhất.Trong vòng năm năm sau ngài tặng món thuốc này cho năm mươi người khác và đều thấy công hiệu. Vui mừng với sự khám phá của mình, ngày 25 tháng Tư năm 1763, ngài viết một bức thư cho bá tước Macclesfield, Hội trưởng Hoàng Gia, nhưng không được hồi âm.
 
Năm 1820, dược sĩ Thụy Sĩ Johana S.F. Pagenstecher bắt đầu lấy  một chất từ lá  của cây Spirea ulmaria, thường được gọi là lá dâu dê, rất công hiệu để giảm đau trong y học dân gian.
 
Báo cáo của Pagenstecher trên báo khoa học được đọc vào năm 1835 bởi nhà hóa học người Đức Karl Jacob Lowig, giáo sư hóa học ở Montpellier Uniniversity. Ông cũng cố gắng thay đổi lá cây Spirea ulmaria để loại bỏ tác dụng phụ quan trọng như cơn đau kích thích lớp lót của bao tử nhưng ông ta thấy phương pháp quá mất thì giờ cho nên đã bỏ.
 
Salicylic acid chỉ được một số người mà cơn đau trầm trọng hơn cơn đau của chính dược phẩm.Một trong những người đó là Her Hoffma, sống ở thành phố Đức quốc Elberfield và bị bệnh viêm khớp khiến ông bị què quặt.Con trai của ông ta là một hóa học gia làm việc tại Bayer, một hãng dược phẩm rất lớn ở gần đó và vào năm 1895 anh ta quyết định thử nó để làm bớt cơn đau của bố. Anh ta làm giản dị hóa phương pháp của Gerhard và làm ra aceytylsalicylic acid. Hoffman bèn lấy một lọ nhỏ và đưa cho bố và ông này đã có một đêm hết đau trong nhiều năm. Về sau này người ta mới biết rằng thuốc đó không phải chỉ giảm cơn đau mà còn hạ nhiệt độ và viêm.
 
Đồng nghiệp của Hoffman là ông Heinrich Dresser nhận ra rằng dược phẩm mới có tác dụng rất tốt vì nó chia làm hai ở máu.Để thử giả thuyết của mình, ông ta bèn nuốt chửng một số acetylsalicylate và thường xuyên thử nước tiểu trong vòng 12 giờ.Ông đã tìm ra dấu vết của salicylic acid  nhưng không thấy chất acetylsalicylate: hợp chất quả có tách làm hai.
 
Đến năm 1899,Hopffman và Dreser đặt tên cho dược phẩm mới tìm ra của mình:aspirin- chữ a cho acetyl, spir cho Spirea. Năm sau, công ty dược phẩm Bayer  xin bản quyền cho aspirin, cho các hợp chất trực tiếp của hãng và hình dáng của các dụng cụ của hãng và bắt đầu bán một sản phẩm rất phổ biến trên thế giới.
 
Năm 1914, để đề phòng sự lớn mạnh của chiến tranh và cũng để ngăn cản sự cung cấp của nước Đức, chính phủ Anh bèn tặng 20,000 bảng Anh cho những ai sống tại chính quốc hoặc ở Liên Hiệp Anh đã tìm ra một chất mới cho aspirin mà vẫn tránh né được bản quyền của Bayer.Chính quyền Úc Đại Lợi bèn tặng thêm 5000 bảng anh để khích lệ và hóa học gia George Nicholas nhận lời thách đố đó. Dùng các dụng cụ rất sơ sài và gần như mù vì phòng thí nghiệm của mình bị nổ, ông ta tìm ra một cách để tạo ra một chất aspirin hết sức thuần túy và thắng giải.
 
Sau khi nước Đức thua trận, công ty British Alien Properties Custodian tịch thu tên “aspirin” và công ty Bayer mất bản quyền cả tên lẫn việc sản xuất dược phẩm. Trong số những cơ sở bắt đầu làm hợp chất  là của George Nicholas; và sản phẩm “Aspro” của ông trở thành một loại aspirin bán nhiều nhất ngoại trừ nước Mỹ. Tại nước Mỹ, công ty dược phẩm Sterling, mặc dù đã không liên lạc với công ty Đức, tiếp tục sản xuất aspirin dưới dạng “Bayer”, một tên riêng. Xin nói rõ,  tên riêng (Trademark) là một thương hiệu hàng hóa riêng, trong đó chứa đựng bất kỳ chữ, tập hợp của nhiều chữ, tên riêng và biểu tượng nào. Những từ ngữ này đã từng được sử dụng hoặc sẽ được đưa vào sử dụng trong thương mại để nhận dạng, phân biệt và giúp chỉ ra xuất xứ hàng hóa.
 
Nhưng khám phá về vỏ cây liễu của ngài Stone trong mấy năm về trước không phải là không được dể ý tới. Năm 1826, hai người Ý đã tìm ra chất chính của vỏ cây liễu một chất gọi là salicin và ba năm sau một hóa học gia người Pháp đã thành công khi tìm ra một chất dưới dạng thuần túy. Năm 1839, một hóa học gia khác người Ý đã lấy salycilic acid  từ chất salicin và từ đó chất chính của aspirin được lấy ra từ cây liễu và cây dâu dê.Ngày nay chất này được tổng hợp, dùng phương pháp không khác nhiều lắm với phương pháp mà Herman Kolbe đã tìm ra tại Strasbourg vào năm 1874.
 
Mãi đến năm 1971 các nhà nghiên cứu ở Anh mới tìm ra tại sao aspirin lại công hiệu như vậy. Prostaglandins, một nhóm như kích thích tố tìm thấy ở hầu hết các mô bào của cơ thể có vẻ như làm tăng sự nhạy cảm của đoạn cuối dây thần kinh tại nơi bị viêm và aspirin dường như có liên hệ tới công dụng của các chất này.
 
Sau này aspirin trở thành một phần của các chất được biết với tác dụng chống viêm mà ngày nay bao gồm cả các dược phẩm mới tìm ra là ibuprofen. Đến năm 1980, aspirin bị paracetamol qua mặt. Paracetamol  được dùng lần đầu vào năm 1893 như một chất giảm đau rất bình dân của mọi người.

Vitamin D là chất dinh dưỡng quan trọng và cần thiết cho sức khỏe. Nó giúp xây dựng và duy trì xương chắc khỏe, đồng thời hỗ trợ chức năng cơ bắp và miễn dịch. Nhưng hầu hết mọi người trên thế giới đều bị thiếu vitamin D, khiến cho nó trở thành loại supplement phổ biến nhất trên thị trường
Ngày 30 tháng 5 năm 2023 đã ghi nhận một kỷ lục mới khi cùng lúc có 17 người bay lên trên quỹ đạo quanh Trái Đất. NASA và các cơ quan hàng không vũ trụ khác đang lên kế hoạch cho nhiều sứ mệnh có chở theo người hơn. Các công ty thương mại cũng đang ấp ủ nhiều dự án đưa con người lên vũ trụ. Cơ hội du hành vũ trụ của nhân loại đang rộng mở.
“Tim đập liên hồi.” “Bồn chồn trong dạ.” “Tim muốn rớt ra ngoài.” “Nẫu ruột.” Đây là những cụm từ được nhiều người sử dụng để mô tả nỗi sợ hãi và lo âu. Thường thì chúng ta có thể cảm thấy được những cảm giác lo lắng, sợ hãi ở lồng ngực hoặc trong bụng chứ không phải ở não. Nhiều nền văn hóa có truyền thống gắn liền sự hèn nhát và dũng cảm với hình ảnh trái tim hoặc lòng dạ hơn là với bộ não.
Sau yếu tố không khí để thở, nước uống là một nhu cầu rất quan trọng đối với đời sống con người. Trên mặt đất, nước chiếm 70%, đa số là nước biển mặn của 5 đại dương. Hiện có một số khu vực trên địa cầu thiếu nước sạch, nhất là Châu Phi. Các nhà khoa học đã sáng tạo ra những kỹ thuật lọc nước biển, để có nước sạch phục vụ đời sống con người. Đại học Urbana-Champaign, bang Illinois, Hoa Kỳ, đang nghiên cứu quá trình sử dụng hơi nước từ nguồn nước vô tận của các biển và đại dương, hứa hẹn một tương lai có nguồn nước sạch vô tận để cứu nhân loại. Hạn hán là do thiếu nước mưa, gây tác hại đến ngành nông nghiệp, cho nên đã có nhiều quốc gia thực hiện mưa nhân tạo để lấy nước ngọt.
Năm ngoái, các bác sĩ tại một bệnh viện ở Canberra đã sốc tới lặng người khi gắp một con giun sống ra khỏi não một phụ nữ. Trước đó, nữ bệnh nhân này phải vào bệnh viện với các triệu chứng như bị đau dạ dày, ho khan, đổ mồ hôi đêm trong hàng tháng trời, sau đó thì bà bị trầm cảm và hay quên. Bệnh nhân đã được chỉ định đi scan não.
Cô đớn bắt đầu từ cô đơn và xuất hiện khi tâm lý suy nhược, sụp đổ, tạo tâm bệnh, tạo cuồng trí, hoặc tự vẫn. Mỗi cá nhân đều phải đối diện và trách nhiệm sự mạnh mẽ hoặc yếu đuối tâm lý của bản thân. Rồi mỗi cá nhân phải tự phản kháng, chống trả, bảo vệ tâm lý của mình trước nhước quyến rũ nhu mì, hấp dẫn du dương của xã hội và đồng bọn xung quanh.
Người ta thường nói rằng tất cả chúng ta rồi sẽ trở nên mất trí nhớ - trừ khi chết vì ung thư hoặc bệnh tim mạch. Tất nhiên, có những người chết vì các bệnh khác, tai nạn hoặc tự tử. Nhưng chính chứng mất trí nhớ, ung thư và bệnh tim mạch lại chiếm ưu thế trong danh sách về nguyên nhân tử vong. Tuy nhiên, việc điều trị bệnh tim mạch đã tiến bộ và tỷ lệ sống sót hiện nay cao hơn nhiều. Ung thư đã từ một bản án tử hình trở thành một căn bệnh có thể điều trị được - mặc dù vẫn có những biến thể mà tỷ lệ tử vong gần một trăm phần trăm.
Thỉnh thoảng có những trẻ em nhắc đến kiếp trước của mình từng là một người sống ở một nơi chốn khác. Đa số các bác sĩ sẽ coi chuyện này như sản phẩm của trí tưởng tượng của trẻ con và không làm gì cả...
Ashley vừa sinh con xong. Ngồi trên chiếc đi-văng trong căn hộ của một người họ hàng ở Clarksdale, Miss., cô bé mân mê chiếc vòng tay sản phụ đeo trên cổ tay. Bấy giờ đang độ tháng 8, ngoài trời nóng tới 90 độ F, trong phòng bật máy lạnh, kéo rèm kín kẽ, khiến cho căn phòng của Ashley có cảm giác như một nơi trú ẩn. Peanut, đứa nhỏ Ashley mới sinh hai ngày trước đó, đang mặc bộ đồ sơ sinh nhỏ xíu màu xanh lam và ngủ ngon lành trên một cái car seat ngay dưới chân mẹ.
Tuổi thọ trung bình của con người hiện nay là khoảng 80 tuổi. Cũng có một số người có thể thọ hơn 100 tuổi. Ở những nơi như Okinawa (Nhật Bản) và Sardinia (Italy), có rất nhiều người được trường thọ như thế. Người cao niên nhất trong lịch sử nhân loại là một phụ nữ người Pháp tên là Jeanne Calment, bà thọ đến 122 tuổi. Thời bà sinh ra là năm 1875, thuở đó thì tuổi thọ trung bình là khoảng 43 tuổi.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.