Hôm nay,  

Lịch Sử Viên Aspirin

10/07/202000:00:00(Xem: 6963)

 

BS Nguyen Y Duc

Bác sĩ Nguyễn Ý Đức

 

Đa số những cơn đau mà con người thường gặp không phải gây ra do giải phẫu hoặc mới bị thương mà thuốc mê có thể dùng để chữa nhưng còn những cơn đau kinh niên như viêm xương khớp hoặc đau ngắn hạn như nhức đầu và đau răng thì chữa bằng cách nào. Với các đau này, một loại dược phẩm rất cần để giảm đau trong khi đó ta vẫn có thể đi làm được.
 
Vào mùa hè năm 1758, đức cha Edward Stone, ở Chipping Norton bên Anh bị sốt và viêm xương khớp. Vô tình ngài  đã nhai cành của cây liễu trắng rất đắng , ngài rất ngạc nhiên mà thấy rằng cơn đau giảm. Ngài liền nghĩ ra cách để phơi khô  và làm thành bột vỏ cây này và thử nghiệm để kiếm một liều hiệu nghiệm nhất.Trong vòng năm năm sau ngài tặng món thuốc này cho năm mươi người khác và đều thấy công hiệu. Vui mừng với sự khám phá của mình, ngày 25 tháng Tư năm 1763, ngài viết một bức thư cho bá tước Macclesfield, Hội trưởng Hoàng Gia, nhưng không được hồi âm.
 
Năm 1820, dược sĩ Thụy Sĩ Johana S.F. Pagenstecher bắt đầu lấy  một chất từ lá  của cây Spirea ulmaria, thường được gọi là lá dâu dê, rất công hiệu để giảm đau trong y học dân gian.
 
Báo cáo của Pagenstecher trên báo khoa học được đọc vào năm 1835 bởi nhà hóa học người Đức Karl Jacob Lowig, giáo sư hóa học ở Montpellier Uniniversity. Ông cũng cố gắng thay đổi lá cây Spirea ulmaria để loại bỏ tác dụng phụ quan trọng như cơn đau kích thích lớp lót của bao tử nhưng ông ta thấy phương pháp quá mất thì giờ cho nên đã bỏ.
 
Salicylic acid chỉ được một số người mà cơn đau trầm trọng hơn cơn đau của chính dược phẩm.Một trong những người đó là Her Hoffma, sống ở thành phố Đức quốc Elberfield và bị bệnh viêm khớp khiến ông bị què quặt.Con trai của ông ta là một hóa học gia làm việc tại Bayer, một hãng dược phẩm rất lớn ở gần đó và vào năm 1895 anh ta quyết định thử nó để làm bớt cơn đau của bố. Anh ta làm giản dị hóa phương pháp của Gerhard và làm ra aceytylsalicylic acid. Hoffman bèn lấy một lọ nhỏ và đưa cho bố và ông này đã có một đêm hết đau trong nhiều năm. Về sau này người ta mới biết rằng thuốc đó không phải chỉ giảm cơn đau mà còn hạ nhiệt độ và viêm.
 
Đồng nghiệp của Hoffman là ông Heinrich Dresser nhận ra rằng dược phẩm mới có tác dụng rất tốt vì nó chia làm hai ở máu.Để thử giả thuyết của mình, ông ta bèn nuốt chửng một số acetylsalicylate và thường xuyên thử nước tiểu trong vòng 12 giờ.Ông đã tìm ra dấu vết của salicylic acid  nhưng không thấy chất acetylsalicylate: hợp chất quả có tách làm hai.
 
Đến năm 1899,Hopffman và Dreser đặt tên cho dược phẩm mới tìm ra của mình:aspirin- chữ a cho acetyl, spir cho Spirea. Năm sau, công ty dược phẩm Bayer  xin bản quyền cho aspirin, cho các hợp chất trực tiếp của hãng và hình dáng của các dụng cụ của hãng và bắt đầu bán một sản phẩm rất phổ biến trên thế giới.
 
Năm 1914, để đề phòng sự lớn mạnh của chiến tranh và cũng để ngăn cản sự cung cấp của nước Đức, chính phủ Anh bèn tặng 20,000 bảng Anh cho những ai sống tại chính quốc hoặc ở Liên Hiệp Anh đã tìm ra một chất mới cho aspirin mà vẫn tránh né được bản quyền của Bayer.Chính quyền Úc Đại Lợi bèn tặng thêm 5000 bảng anh để khích lệ và hóa học gia George Nicholas nhận lời thách đố đó. Dùng các dụng cụ rất sơ sài và gần như mù vì phòng thí nghiệm của mình bị nổ, ông ta tìm ra một cách để tạo ra một chất aspirin hết sức thuần túy và thắng giải.
 
Sau khi nước Đức thua trận, công ty British Alien Properties Custodian tịch thu tên “aspirin” và công ty Bayer mất bản quyền cả tên lẫn việc sản xuất dược phẩm. Trong số những cơ sở bắt đầu làm hợp chất  là của George Nicholas; và sản phẩm “Aspro” của ông trở thành một loại aspirin bán nhiều nhất ngoại trừ nước Mỹ. Tại nước Mỹ, công ty dược phẩm Sterling, mặc dù đã không liên lạc với công ty Đức, tiếp tục sản xuất aspirin dưới dạng “Bayer”, một tên riêng. Xin nói rõ,  tên riêng (Trademark) là một thương hiệu hàng hóa riêng, trong đó chứa đựng bất kỳ chữ, tập hợp của nhiều chữ, tên riêng và biểu tượng nào. Những từ ngữ này đã từng được sử dụng hoặc sẽ được đưa vào sử dụng trong thương mại để nhận dạng, phân biệt và giúp chỉ ra xuất xứ hàng hóa.
 
Nhưng khám phá về vỏ cây liễu của ngài Stone trong mấy năm về trước không phải là không được dể ý tới. Năm 1826, hai người Ý đã tìm ra chất chính của vỏ cây liễu một chất gọi là salicin và ba năm sau một hóa học gia người Pháp đã thành công khi tìm ra một chất dưới dạng thuần túy. Năm 1839, một hóa học gia khác người Ý đã lấy salycilic acid  từ chất salicin và từ đó chất chính của aspirin được lấy ra từ cây liễu và cây dâu dê.Ngày nay chất này được tổng hợp, dùng phương pháp không khác nhiều lắm với phương pháp mà Herman Kolbe đã tìm ra tại Strasbourg vào năm 1874.
 
Mãi đến năm 1971 các nhà nghiên cứu ở Anh mới tìm ra tại sao aspirin lại công hiệu như vậy. Prostaglandins, một nhóm như kích thích tố tìm thấy ở hầu hết các mô bào của cơ thể có vẻ như làm tăng sự nhạy cảm của đoạn cuối dây thần kinh tại nơi bị viêm và aspirin dường như có liên hệ tới công dụng của các chất này.
 
Sau này aspirin trở thành một phần của các chất được biết với tác dụng chống viêm mà ngày nay bao gồm cả các dược phẩm mới tìm ra là ibuprofen. Đến năm 1980, aspirin bị paracetamol qua mặt. Paracetamol  được dùng lần đầu vào năm 1893 như một chất giảm đau rất bình dân của mọi người.

Chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra ngay giọng điệu của người đang trò chuyện với trẻ sơ sinh hoặc trẻ nhỏ (kiểu nói chuyện bi bô – “baby talk”). Và không chỉ con người, cá heo mẹ cũng xài kiểu nói chuyện này với con mình. Theo một nghiên cứu mới, ở loài cá heo mũi chai, những con cá mẹ sẽ thay đổi giọng điệu khi ‘trò chuyện’ với con cái của chúng. Các nhà nghiên cứu đã ghi lại tiếng huýt sáo đặc trưng của 19 con cá heo mẹ ở Florida, khi đi cùng với đàn con của chúng, và khi bơi một mình hoặc với những con trưởng thành khác.
Đa xơ cứng, (Multiple Sclerosis, MS), là một bệnh thần kinh thường bắt đầu ở độ tuổi từ 20 đến 40. Bệnh này phổ biến ở phụ nữ hơn ở nam giới. Bệnh đa xơ cứng xảy ra do hệ thống miễn dịch rối loạn tấn công nhầm vào não và tủy sống. Mặc dù có những điều trị mới và hiệu quả hơn, hầu hết những người bị chứng bệnh này vẫn ngày càng bệnh nặng hơn theo thời gian.
Một số người hay bị muỗi bu nhiều hơn những người khác. Điều này không chỉ phiền phức mà còn có nhiều rủi ro, bởi vì muỗi có thể mang những căn bệnh nguy hiểm như Zika, sốt xuất huyết, sốt rét và bệnh West Nile và là nguyên nhân gây ra hơn một triệu ca tử vong mỗi năm. Trước đây, muỗi thường sinh sống nhiều ở vùng khí hậu nhiệt đới, nhưng hiện nay chúng đang mở rộng phạm vi hoạt động khi hành tinh ấm lên, bao gồm cả các vùng của Hoa Kỳ như Connecticut, California và Arizona.
Bảng xếp hạng các chỉ số về điều kiện sống mới nhất của EIU cho thấy, điều kiện sống ở các thành phố trên khắp thế giới đã phục hồi hoàn toàn sau khoảng thời gian chật vật do đại dịch COVID-19 gây ra. Dữ liệu của EIU đánh giá điều kiện sống ở 173 thành phố theo 5 mục: sự ổn định, chăm sóc sức khỏe, văn hóa và môi trường, giáo dục và cơ sở hạ tầng. Các thành phố ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương phục hồi mạnh mẽ nhất. Chỉ số cũng cho thấy cuộc sống ở các thành phố đã phần nào tốt hơn so với bất kỳ thời điểm nào trong 15 năm qua
Sau biến cố 30 tháng 4, 1975, người Việt Nam tạo nên một cộng đồng hải ngoại chừng trên 4 triệu người, tương đương với dân số của New Zealand. Cuộc bùng nổ dân số ra hải ngoại này cũng gây nhiều ly tán, con cái thất lạc cha mẹ. Nhờ các tiến bộ về công nghệ gien và DNA chúng ta được chứng kiến những cuộc tái ngộ, đoàn tụ tưởng như không bao giờ có được, đặc biệt là những người con lai “mồ côi” tìm lại được người cha quân nhân Mỹ từng chiến đấu tại Việt Nam sau gần 50 năm. Chúng ta thử tìm hiểu những tiến bộ về lĩnh vực thử máu hay DNA để thiết lập quan hệ cha-con trên bình diện sinh học.
Các tháng hè đã đến, mùa hè là mùa thuận lợi để tận hưởng không khí ấm áp, thực hiện các hoạt động vui chơi ngoài trời và tận dụng tối đa những ngày dài hơn. Các tháng nóng cũng có thể gây thêm rủi ro cho các hoạt động ngoài trời, do đó hãy làm theo các gợi ý an toàn sau đây để tận hưởng một mùa hè vui vẻ và khỏe mạnh.
Covered California vừa thực hiện một chuyến tham quan truyền thông ảo vào thứ Tư để quảng bá rộng rãi về Chương Trình Ghi Danh chuyển từ Medi-Cal đến Covered California sắp tới và chương trình này sẽ giúp người dân California giữ được bảo hiểm như thế nào.
Rất lâu trước khi loài người biết viết, người ta đã truyền tai nhau những câu chuyện về linh hồn, ma quỷ và những thứ thình lình xuất hiện trong đêm. Ngày nay, những câu chuyện tương tự vẫn còn được kể lại, có liên quan đến niềm tin tôn giáo, khả năng ngoại cảm, hào quang, phép lạ và ma quỷ… Là một khoa học gia, dĩ nhiên Don Lincoln nghi ngờ về tất cả những niềm tin đó. Khi nói chuyện với những người tin vào những điều đó, Don Lincoln sẽ chỉ ra những mâu thuẫn trong ý tưởng hoặc lý do tại sao ông không chấp nhận kết luận của họ. Thường thì những cuộc trò chuyện này sẽ kết thúc với việc người kia nói: “Tất nhiên là ông không tin rồi. Ông là một khoa học gia mà. Làm gì biết về mấy cái này. Đó là thứ siêu nhiên.”
Tốc độ mọc tóc phụ thuộc vào nhiều yếu tố, bao gồm tuổi tác, chủng tộc và chế độ ăn uống. Theo tài liệu y tế của StatPearls, tóc người khỏe mạnh mọc với tốc độ trung bình 0,01 inch (0,35 mm) mỗi ngày, tăng thêm khoảng 0,5 inch (13 mm) mỗi tháng hoặc 6 inch (15 cm) mỗi năm.
Trải nghiệm đầu tiên của Giảng sư James Phillips với chứng say sóng là khi ông vẫn còn là một sinh viên đại học, đứng ở phần đuôi một con tàu nghiên cứu hải dương để xem những thứ thú vị được nạo vét từ đáy biển ngoài khơi bờ biển California. Đó là một chuyến đi trong ngày, trời thì đẹp và biển thì êm. Ông không để ý đến sự dập dềnh nhẹ nhàng của con tàu, mà chỉ tập trung vào bùn và các sinh vật trên chiếc bàn trước mặt.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.