Hôm nay,  

Đưa Cay

27/10/202300:00:00(Xem: 3267)

Logo cho fb

Rượu có chi cay mà uống rượu phải đưa cay. Tôi phân vân về chữ “đưa cay” này. Gọi quách một cách trực tiếp như dân miền Nam: nhậu là phải có mồi. Như đi câu cá. Cá đớp mồi cá sẽ lên bàn nhậu. Nhậu một hồi sẽ “quắc cần câu”. Quắc cần câu là… xỉn, thân hình đi đứng liêu xiêu cong như cái cần câu cá. Xỉn quắc cần câu có biệt tài tự về tới nhà, lăn ra ngủ, khi tỉnh dậy chẳng nhớ cái chi chi. Tại sao người quắc cần câu lại có biệt tài như người mộng du vậy? Mỗi khi con người trải nghiệm được một thứ mới, thùy trước trán sẽ lưu giữ những thông tin này theo dạng trí nhớ ngắn hạn. Sau đó hồi hải mã nằm ở não trước sẽ ghi những thông tin ngắn hạn này để tạo thành ký ức dài hạn. Đường truyền từ thùy trước trán tới hồi hải mã cần có những neuron thần kinh đặc biệt dẫn lối. Say xỉn khiến những neuron này không còn hoạt động. Vậy là xỉn xong ngủ dậy chẳng còn nhớ mô tê gì hết!

Bợm nhậu uống rượu suông cũng được. Nhưng thông thường nhậu phải có mồi, vừa ăn vừa uống, nhẩn nha đưa chất cay vào miệng mới thú. Nếu quần tam tụ tứ chuyện trò rôm rả thì càng thú vị hơn. Bàn rượu là một tổng hợp của rượu, mồi và bạn nhậu. Nhậu vậy mới thành một bàn nhậu chân truyền.

Anh em Montreal chúng tôi thường nhậu như vậy. Nhậu sương sương chứ không quắc cần câu.Quắc cần câu sao lái xe về đặng. Rượu của chúng tôi thường là rượu vang. Cỡ tôi thì cứ có tí chất đo đỏ đổ vào miệng là OK nhưng với hai ông Trang Châu và Hoàng Xuân Sơn chuyện lại khác. Cái miệng hai ông này là miệng… rượu. Rượu cũng như đàn bà, có thứ này thứ kia, ông thích loại này, tôi thích loại kia. Hai ông thử hết thứ nọ tới thứ kia, rượu Pháp, rượu Chili, rượu Ý, rượu Tây Ban Nha, rượu Argentina, mỗi lần nhậu lại mang rượu ra so sánh. Đó là khi mới nhập bàn, khi môi đã mềm, đầu óc đã lâng lâng, các ông ấy cũng như tôi, có cái chi đo đỏ là được. Trên bàn nhậu còn cái chi ăn được là ăn. 

Nếu ông Tản Đà sống lại chắc ông sẽ trợn mắt. Quần tam tụ tứ phá rượu phá mồi như vậy là mất cái uy của việc nhậu. Tản Đà không nhậu mà nhắm rượu. Mỗi cuộc rượu trang trọng như một buổi lễ. Vũ Bằng khi còn là một cậu học trò của trường Hàng Vôi đã sùng bái chuyện Tản Đà nhắm rượu: “Chiều nào, bất cứ bận việc gì, tôi cũng tà tà đi đến trước cửa nhà Thăng Long, dán mũi vào cửa kính, nhìn vào trong để xem ông Tản Đà vừa quạt cái hỏa lò con để trên giường vừa nhắm rượu một mình. Tôi sợ ông như một ông tiên”. 

Chuyện đưa cay của Tản Đà được Nguyễn Tuân kể lại: “Chắc cậu chưa quên, khi dư dả nhuận bút, mâm rượu của Tản Đà là cả một hợp thành của màu sắc, hương, vị, và âm giai. Chiếc mâm gỗ mít hình chữ nhật vành son, lòng cánh sen. Trong đó, thi nhân phô bày những chiếc đĩa sứ trắng nhỏ xíu như bàn tay trẻ con, những chiếc bát lá đề tinh xảo. Nào chanh xanh cắt tư. Nào rau húng láng, nào rau ngổ, ngỏng lên trái ớt đỏ tươi. Tương Bần ong óng. Sậm đặc nước mắm Ô long. Hạt tiêu sọ, hạt tiêu đen. Bọc tinh cà cuống, hành hoa, hành củ, mỡ gà chưng ớt bột, vừng xát vỏ, lạc rang, bánh đa, bánh phở… Đặc sắc ở cái những thứ gia vị ấy được đựng riêng cho mỗi thực khách, của ai người nấy chấm. Mâm rượu dù sáu hay bốn thì dứt khoát phải có hai nậm rượu để nghiêm ngắn hai bên”.


Cái triết lý nhắm rượu của nhà thơ xứ Tản đã được người đời sau nhắc đi nhắc lại: “Đồ ăn không ngon thời không ngon, giờ ăn không ngon thời không ngon, chỗ ngồi ăn không ngon thời không ngon, không được người cùng ăn cho ngon thời không ngon. Ăn mà có lo nghĩ sao cho ngon? Có tức giận sao cho ngon? Có sợ hãi sao cho ngon? Có thương tủi sao cho ngon? Có hổ thẹn sao cho ngon?” Uống rượu như dọn mình nghe kinh!

Nhắm rượu cũng cùng cỡ với mần văn chương. Nhà thơ kiêm nhà rượu ví von: “Ăn là tất cả một nghệ thuật, mà nghệ thuật ăn nhiều khi lại khó hơn nghệ thuật viết văn. Văn chương có giống như mâm gỏi. Đĩa cá lạng, đĩa dấm ngọt thời người thường dễ ăn, còn miếng mắt miếng xương phải đợi con nhà gỏi. Văn chương có giống như thịt chim. Xào, thuôn, nướng chả thì dễ chín, hấp cách thủy lửa không đến mà nhừ hơn!”.

Tản Đà uống rượu phải có đưa cay. Không phải đưa qua quít cho có lệ mà phải tinh tế, trò nào ra trống nấy. Mai Thảo “đếch” cần những chuyện đó. “Đếch” là thương hiệu của Mai Thảo. Cái chi ông cũng đếch. Cô cháu Orchid Lâm Quỳnh nhận xét: “Cái gì bác cũng “đếch” hết. Mà như khi nào để tỏ dấu âu yếm, thương mến bác mới dùng chữ đếch”. 

Rượu, đủ rồi! Nguyên Sa thơ cho Mai Thảo: Ông ngồi với hai ông Tây / Ông kia tên Mạc, ông này tên Cô / Buổi sáng ông chỉ say vừa / Nửa khuya mới tới đúng mùa nho ngon. Gu của Mai Thảo là cognac Martel chai mờ. Mỗi lần qua Cali, tôi bê một ông Tây Martel tới ông, vậy là cười mỉm vừa ý. Trong căn chung cư nhỏ dành cho người già, chỉ cần rượu. Hai người, bốn người hay chỉ mình ông, rượu vẫn “đúng mùa nho ngon”. Rượu mình ên, đủ rồi, không cần những thứ bá láp đi kèm.

Khi ông sang Montreal chơi, đúng gu Pháp của một nước Pháp tại Bắc Mỹ, sáng cà phê vỉa hè trên đường Saint Denis, tối rượu tràn môi với anh em văn nghệ. Rượu: phải Martel. Bạn rượu: phải anh em sáng tác. Và chỉ những người sáng tác. Mấy nhà phê bình không nên cho ngồi chung. Mồi đầy bàn nhưng ông chẳng màng tới chuyện đưa cay. Ông uống, thúc giục anh em kêu mồi cho nhà hàng có tí tiền vào. Chỗ ngồi uống nhà hàng không tính tiền, chỉ tính món nhậu kêu ra. Không kêu cho xứng với công của nhà hàng đâu có được. Ông tì tì uống, hầu như không cần đưa cay. Ngồi tượng hình riêng một góc quầy / Tiếng người: kia, uống cái chi đây? / Uống ư? Một ngụm chiều rơi lệ / Và một bình đêm rót rất đầy.

Nhìn mọi người gắp gắp chan chan là đủ. Ông uống bằng miệng nhưng nhắm bằng quây quần bè bạn. Rượu, tự thân đã đủ. Chất lỏng như một sự cứu rỗi. Ông sống như vậy, vui như vậy, chiêm nghiệm như vậy. Thế giới có triệu điều không hiểu / Càng hiểu không ra lúc cuối đời. Khi ông đã “đếch” thèm sống, ông có hiểu thêm được chi không? Đếch ai biết. Bạn bè tới thăm viếng vẫn đổ rượu trên mộ phần. Chắc ông vẫn uống. Hình như chẳng ai mang các thứ đưa cay tới. Biết nhau quá mà. Uống ư? Một ngụm chiều rơi lệ!

Song Thao
10/2023
 

Cách đây vài năm, một trung tâm ca nhạc Việt Nam nổi tiếng vùng Little Saigon phải thu hẹp hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Trung tâm này phải dọn văn phòng sang một mặt bằng nhỏ hơn để tiết kiệm chi phí. Một số người đi qua khu vực văn phòng cũ thấy CD, DVD ca nhạc vứt thành từng đống lớn ở phía trước để chờ đem đi đổ. Chẳng ai buồn lấy đem về nhà, dù trước đó vài năm một đĩa nhạc như vậy có thể có giá vài chục đô. Nhìn cảnh tượng đau lòng này, tôi nhớ đến một thời cách đây gần 40 năm, sau 1975 người dân trong nước Việt Nam thèm thuồng được nghe nhạc hải ngoại. Vào thời đó, chỉ có nhạc đỏ, nhạc cách mạng, nhạc ngoại quốc XHCN là được phổ biến chính thức. Người dân Miền Nam nhớ nhạc vàng, nhạc trẻ Âu Mỹ nên tìm nguồn để nghe. Nhạc vàng được nhà nước xếp vào loại văn hóa “phản động”, nhạc Âu Mỹ là “đồi trụy”, cả hai đều bị cấm. Có được một cuốn băng nhạc từ hải ngoại gởi về là một món quà tinh thần quí giá.
Một bức tranh có giá trị của họa sĩ Tây Ban Nha Joaquín Sorolla, từng được báo mất tại Sevilla, nay đã được tìm thấy sau một sự hiểu lầm hy hữu. Theo The Guardian, tác phẩm đã bị một người đàn ông vô tình mang về nhà vì nghĩ rằng đó là đồ bỏ đi. Người nhặt bức tranh là Andrés Hurtado, cư trú tại Murcia nhưng đang cùng gia đình đến Sevilla vào cuối tuần. Khi thấy bức tranh bị bỏ bên đường, ông cho rằng đây là đồ bỏ đi và chỉ chú ý đến chiếc khung mạ vàng.
Giữa lúc ‘peptide’ được tán tụng như “thuốc tiên” mới của phong trào dưỡng sinh Mỹ – từ chống lão hóa, tăng cơ đến “tối ưu hóa” tuổi thọ – tiếng nói thận trọng lại không đến từ giới ‘influencer’ mà đến từ chính các khoa học gia trong lòng FDA. Những người làm khoa học nghề nghiệp tại cơ quan dược phẩm liên bang đang kiên trì nhắc rằng phần lớn các peptide “thời trang” này chưa trải qua thử nghiệm lâm sàng đúng phương pháp, thậm chí một số bị xếp vào diện gây “nguy hiểm đáng kể”.
Một cộng đồng muốn tồn tại lâu dài không chỉ cần chợ Việt, tiệm Việt, lễ hội Việt. Cộng đồng ấy còn cần báo chí Việt, truyền hình Việt, những trang viết bằng tiếng Việt để ghi lại mình là ai, đã đi qua điều gì, và muốn để lại điều gì cho con cháu.
Trong căn bếp thử nghiệm của Believer Meats, mùi gà áp chảo bốc lên rất quen. Chỉ khác một điều: miếng gà ấy không đến từ trang trại hay lò mổ. Nó được nuôi lớn từ tế bào. Một số doanh nhân, khoa học gia và nhà đầu tư tin rằng trong tương lai, một phần thịt trên thế giới có thể được làm theo cách này: không cần nuôi con vật cho lớn, không cần giết mổ, nhưng vẫn có miếng thịt giống thứ người ta quen ăn. Hơn 150 công ty non trẻ đang theo đuổi mục tiêu ấy, với hy vọng dùng sinh học tế bào để giảm bớt gánh nặng môi sinh do nhu cầu ăn thịt ngày càng tăng. Yaakov Nahmias, người sáng lập Believer Meats, nói con người gần như “nghiện” thịt. Thịt gắn với tiến hóa, văn hóa, bữa cơm, tiệc tùng, ký ức. Nhưng trong nhiều thế hệ, nhân loại chỉ lo làm sao có thật nhiều thịt, ít khi tính đủ cái giá đất đai, nước, thức ăn chăn nuôi và khí thải phải trả.
Khoảng 20 triệu người Mỹ đang sống trong nhà lắp ghép (manufactured homes) – loại nhà làm sẵn trong nhà máy rồi đưa tới lắp đặt tại chỗ, thường nằm trong các khu nhà di động ở vùng ven và nông thôn. Dù quen gọi là “mobile home” hay “trailer”, phần lớn những căn nhà này thực ra không “di động”: chi phí tháo dỡ, vận chuyển và lắp lại rất cao, nên chủ nhà hầu như gắn chặt với mảnh đất nơi nhà được đặt xuống. Thông thường, người dân sở hữu căn nhà nhưng thuê phần đất bên dưới từ chủ khu; đôi khi họ cho người khác thuê lại căn nhà, nhưng vẫn đều đặn trả tiền thuê đất.
Nếu sống ở San Francisco, người ta có thể đã quen với cảnh một chiếc taxi không người lái lướt qua đường. Nhưng tại Milton Keynes, một thành phố nằm giữa Oxford và Cambridge, nổi tiếng vì có rất nhiều bùng binh, tương lai lại hiện ra dưới một hình thức khác: những chiếc robot nhỏ chạy trên lề đường, đem thức ăn và hàng tạp hóa đến tận nhà.
Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội. Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau.
Những câu chuyện về cây đàn guitar từ trời Âu Mỹ cho đến mảnh đất Việt Nam hình cong chữ S tưởng như kể không bao giờ hết, càng tôn vinh thêm tính nhân dân của cây đàn huyền thoại này…
Đi qua cổng an ninh phi trường tưởng như là một việc quen tay: tháo giày, lấy máy điện toán ra khỏi túi, bỏ chai nước, trình túi chất lỏng trong bao nhựa trong. Nhưng những luật tưởng như “ở đâu cũng vậy” thật ra không hề giống nhau giữa các quốc gia, thậm chí giữa các phi trường trong cùng một nước. Tại Hoa Kỳ, Cơ Quan An Ninh Vận Tải (TSA) đặt ra các luật lệ an ninh phi trường. Nhưng theo các chuyên viên du lịch, nhiều hành khách thường lầm tưởng luật của TSA có giá trị ở mọi nơi. Khi ra ngoại quốc, những ưu tiên quen thuộc như 'TSA PreCheck', hoặc cách qua cổng an ninh tại phi trường Mỹ, không nhất thiết được áp dụng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.