Hôm nay,  

Danh tác

03/11/202300:00:00(Xem: 2877)

Logo cho fb
 
Tôi đến Pháp non ba mươi năm trước do lời mời của một người bạn. Anh ta cũng là họa sĩ. Như hầu hết các đồng nghiệp cùng chủng tộc, không mấy người sống bằng nghề cầm cọ, họ phải có một việc làm nào đó, tuy phụ nhưng lại là chính, nuôi thân, lo cho gia đình, vợ con. Ngày mới vào Đại học Mỹ thuật, như tất cả những người chọn hội họa làm hướng tiến thân, bạn tôi nuôi nhiều tham vọng. Ra trường sẽ sáng tác, sẽ triển lãm, sẽ bán được tranh, báo chí sẽ ngợi khen, vừa có tiếng vừa được miếng. Thế nhưng ba năm miệt mài vẽ, triển lãm, chả ma nào thèm để ý, tranh bán không ai mua, đã đành, truyền thông cũng ngoảnh mặt, có chăng chỉ vài ba dòng thông tin. Chấm hết! Vợ càm ràm: “Vẽ với vời! Tìm nghề khác mà làm cho được việc, chả lẽ suốt đời đi trên mây, mai mốt còn con cái.” Gẫm cho cùng vợ nói không sai. Bạn tôi rửa cọ, dẹp sơn đi xin việc. Nhờ tấm bằng Đại học, anh ta được một tờ báo lá cải nhận, nhiệm vụ của bạn tôi là giao dịch với các cơ sở thương mại, thiết kế những mẫu quảng cáo sao cho hấp dẫn. Từ một họa sĩ đầy tham vọng trở thành một anh chuyên viên tiếp thị cho các chợ, tiệm phở, bún bò, bánh cuốn… Buồn thối ruột, nhưng dù sao cũng còn hơn loay hoay với cọ sơn, khung bố, chẳng những chả đẻ ra cắc nào, còn mang tiếng ăn bám vợ! Job mới tuy thu nhập không cao song ổn định. Hoài bão xưa dần phai. Bạn tôi chỉ vẽ vào những lúc rảnh rỗi hoặc ban đêm. Năm mười năm, với vài đồng nghiệp cùng cảnh ngộ, chạy đến các tòa báo xin mượn được hoặc thuê phòng họp với giá tượng trưng hai ngày cuối tuần tổ chức triển lãm. Một hình thức hoài nhớ dĩ vãng, vỗ về mộng ước một thời đã bị áo cơm vùi giập! Khách xem lèo tèo, phần đông là bạn bè hoặc đồng hương, vài tờ báo tiếng Việt ngợi ca vớ vẩn.     
   
Thảm!
   
“Tủi lắm!” Anh bạn than.
   
“Vậy bỏ quách, vẽ làm gì nữa.”
   
Toi bỏ được không?”
   
Anh bạn hỏi lại. Tôi ú ớ. Quả thực đã bao nhiêu lần tôi “chừa!” nhất quyết không dan díu gì nữa với cái nghiệp bạc bẽo này, thậm chí đã có lần tặng tất cả sơn cọ, giá vẽ… cho một người bạn trẻ mới chập chững vào nghề. Nhưng rồi thời gian sau, không lâu, tôi lại sắm sửa màu, cọ, dụng cụ. Tôi nhớ mùi sơn, nhớ cảm giác thích thú khi tình cờ bắt gặp một gam màu lạ, nhớ nhiều giờ, nhiều ngày vật lộn với hình khối, đường ngang nét dọc trên khung bố. Mệt bở hơi tai song ngây ngất như say thuốc!
   
Văn học, nghệ thuật tựa ma túy, đã lỡ hệ lụy là trở thành con nghiện, khó dứt bỏ. Nếu bỏ được thì cũng sẽ tái phạm nếu có điều kiện.
   
Thú đau thương? Phải, thú đau thương!
   
Hơn một tuần anh bạn hướng dẫn tôi tham quan nhiều danh lam thắng cảnh, nhiều địa điểm lừng danh như tháp Eiffel, viện bảo tàng Louvre. Nước Pháp là quốc gia có nền văn hóa cao. Nhiều tác phẩm văn học không những nổi tiếng đối với dân tộc Pháp, mà còn ảnh hưởng không nhỏ ở nhiều đất nước khác. Trong lĩnh vực nghệ thuật, không ai không biết đến viện bảo tàng Louvre, lớn nhất thế giới, nơi qui tụ hàng nghìn danh tác, từ hội họa đến điêu khắc, từ cổ điển đến hiện đại. Muốn thưởng lãm mọi tác phẩm nghệ thuật đang được trưng bày (chưa kể còn vô số danh tác khác tồn kho, sẽ thay đổi luân phiền), chí ít cũng mất vài ngày.
   
Đứng trước bức tranh của Leonardo da Vinci vẽ nàng Mona Lisa, anh bạn hỏi tôi:
    
Toi thấy thế nào?” 
   
“Đẹp, dĩ nhiên, nhưng người ta đã ngợi khen thái quá, Leonardo da Vinci là một thiên tài trong nhiều lĩnh vực, hội họa, kiến trúc, giải phẩu cơ thể, những ý tưởng phát minh đi trước thời đại hàng vài thế kỷ… Song nếu không có những râu ria này góp phần, chưa chắc tác phẩm được săm soi, tụng ca như đã. Nhiều, rất nhiều họa phẩm đẹp và nghệ thuật không kém chúng ta vừa xem của không ít họa sĩ khác, có ai được ưu ái như ông này?”
   
Lùi ra xa ngắm kỹ bức tranh rồi tôi tiếp tục bày tỏ quan điểm:
   
“Moi
 đã đọc những bài khảo luận phân tích cặn kẽ ánh mắt, nụ cười mím chi quyến rũ, khóe môi, bàn tay, hậu cảnh, nếp áo của chân dung người mẫu, thậm chí người ta còn dùng X- quang xem bên dưới nàng kiều nữ này là mặt gỗ “trinh nguyên” hay đã có một bức tranh khác mà vì lý do nào đó, chưa vừa ý chả hạn, bị Da Vinci vẽ chồng lên. Chưa kể, người ta đã cất công tìm hiểu đời tư, chồng con người mẫu. Ngót sáu trăm năm, không biết bao giấy mực, nếu gom lại, không chừng chất đầy một xe tải cỡ lớn. Đúng là vẽ rắn thêm chân!”
   
Anh bạn cười:
   
“Vẽ rắn thêm chân, càng vui chứ sao.”
   
“Có lẽ toi nói đúng, chả lẽ con người chỉ loay hoay trong trong vòng ăn ngủ… thường tình? Vẽ rắn thêm chân, hiểu cách nào đó, là món ăn tinh thần làm phong phú tâm hồn.”
   
Chúng tôi sang phòng khác, nơi này trưng bày nhiều tranh kích thước lớn, thuộc thời kỳ sau Da Vincvi không lâu. Đứng trước một tác phẩm hoành tráng, dễ chừng hai mét chiều ngang, vẽ cảnh dạ vũ chốn cung đình, Anh bạn trầm trồ:
   
“Nhìn kìa, kỳ công chưa?”
   
Kỳ công thực, Hàng trăm nhân vật với y phục cầu kỳ, các mệnh phụ váy dạ vũ lướt thướt, nón đội đầu rộng vành, quai lụa thả rông, điểm xuyết vài bông hoa. Nam giới áo đuôi tôm, tóc giả chải bới công phu, đang cùng nhau thi thố tài năng nhảy nhót trong căn phòng rộng, trần cao, hai dàn đèn lớn tỏa ánh sáng lung linh, ở mỗi góc phòng là bệ tượng lớn tạc mỹ nữ khỏa thân hoặc nam nhân, cũng khỏa thân, đẹp mã.
   
Anh bạn tiếp:
   
“Để hoàn tất tác phẩm, hẳn họa sĩ tốn không ít thời gian tỉa tót hàng ngàn chi tiết. Moi đồ rằng những vị này chả làm gì khác ngoài vẽ.”
   
“Đúng vậy, giới quý tộc và quan lại thường chu cấp mọi nhu cầu vật chất, họ chỉ chụyên tâm vẽ.”
   
“Mấy tay này sướng thật.”
   
“Mỗi thời đại, cái đẹp được đánh giá bằng nhãn quan phù hợp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố tương tác. Ngày nay chúng ta ngắm nhìn những tác phẩm này, đẹp, tất nhiên, không ai hồ đồ phủ nhận, song nếu bảo các họa sĩ tiếp tục vẽ như thế, có lẽ đại đa số lắc đầu.”
   
Anh bạn tán đồng, vừa trả lời tôi đồng thời khẳng định đường hướng mình đang theo đuổi:
   
Moi đồng ý. Thời điểm ấy vẽ thế không lạ, nhưng bây giờ vẫn vẽ thế thì có khác nào đang giậm chân tại chỗ!”
   
Anh bạn cho rằng hội họa cũng giống mọi bộ môn khác, tiến hóa là yêu cầu tất yếu. Tại sao phải kỳ công tỉa tót từng đừng ren, từng nếp gấp y phục, từng nút thắt dây giày, từng gù tua mũ lộng lẫy, từng cành nhánh, lá hoa, từng vòng xoắn hoa văn trên gờ mái lâu đài, v.v… khi đã có caméra và đao cụ, cùng kỹ thuật tân kỳ làm công việc này. Góc nhìn, ánh sáng, trang phục, màu sắc sẽ lạ hơn, đẹp hơn nếu nghệ sĩ có khả năng sáng tạo cao. Đồng ý tác phẩm nghệ thuật là sao chép hiện thực, nhưng ngày nay người ta nhìn hiện thực không như trước, hình ảnh được thấy, qua nhãn giới và tư duy của họa sĩ không còn “như thật” mà mọi tác phẩm cổ điển đã làm. Nói cách khác, hội họa không ngừng tìm kiếm những hướng đi mới, khai mở những vẻ đẹp khác. Để thực hiện công việc này, các trường phái lần lượt khai sinh: biểu hiện, dã thú, lập thể, trừu tượng, hậu hiên đại… Họa sĩ cận đại, đương đại đã đang và sẽ khai phá, dấn thân.
   
Chúng tôi đi và xem cả ngày, thế mà vẫn chưa hết một phần ba tác phẩm đang được trưng bày. Khi ra về, ngang qua hành lang trên cao, người bạn chỉ mái vòm bằng kính hình Kim Tự Tháp bên ngoài dãy tường thấp chói trong nắng, nói:
   
“Đã một thời, báo chí, truyền thông, dư luận tranh cãi rùm beng công trình kiến trúc kia.”
   
Tôi nói:
   
Moi cũng biết chuyện này.”
   
“Đồng thuận thì ít, đại đa số đều phản bác. Người ta cho rằng công trình mang tính hiện đại kia không phù hợp với cảnh quan cổ điển chung. Chả khác gì trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Ví von kiểu Việt Nam, tựa anh nông dân áo bà ba quần đùi lại đi diện veston bảnh chọe!”
   
Moi thấy có sao đâu, đẹp chứ.”
   
Moi cũng nghĩ thế. Một phần nó như điểm nhấn trong tranh, giữa màu lạnh chủ đạo có một vệt màu nóng đâu đó, làm sinh động, gây chú ý và bất ngờ ở người xem. Một phần do quen mắt.”
   
Trời ngả sang chiều, nắng xô ngã bóng râm tòa bảo tàng phủ gần trọn đại lộ tấp nập xe cộ. Nhìn những chiếc xe chuyển dịch chậm như rùa, Lâm nghĩ, thảo nào đất nước này phương tiện giao thông công cộng rất phổ biến và tiện lợi. Vô số tuyến métro ngang dọc dưới lòng đất, đưa mọi người đến mọi ngóc ngách xa gần. Tôi cũng quen biết một người bạn vong niên, lính thợ thời Pháp thuộc, định cư ở đây trên bảy mươi năm, vẫn dùng métro mỗi khi muốn đến đâu, không có xe hơi, không biết lái xe. Tôi ngạc nhiên:
   
“Sao thế?”
   
Ông bạn vong niên cười, nụ cười móm mém, dù tuổi tác không quá cao, có lẽ vì vài chiếc răng cửa đi vắng. Chả hiểu không có tiền làm răng giả hay bản tính lười nhác, bất cần:
   
Moi thuộc giai cấp khố rách áo ôm, ở chung cư, garage tập thể, bọn con nít “rệp” ( tiếng lóng, bỉ thử, ám chỉ dân ngụ cư gốc Ả Rập) rất mất dạy, chúng sẽ rạch ngang vạch dọc không chừa bất cứ xe nào, của ai, vô phúc hiện diện trong địa phận công cộng ấy. Thêm nữa, ra đường tìm parking khó như ngậm ngải tìm trầm, cảnh bò tới de lui năm ba trăm mét tìm một chỗ đậu bên vỉa hè là chuyện bình thường. Còn nạn kẹt xe nữa chứ, cuốc bộ có khi còn nhanh hơn. Sắm xe làm gì thêm phiền. Métro vừa rẻ vừa tiện, muốn đến bất cứ nơi nào cũng được.”
   
Paris và nhiều thành phố khác của Pháp, vấn nạn giao thông là chuyện đau đầu vô phương giải quyết. Chẳng cứ gì ông bạn già của tôi, ngoại trừ những người có thu nhập cao, có nhà riêng, sắm xe hơi làm phương tiện di chuyển, còn thì hầu hết đều đi métro, họ không sắm xe chả phải mua không nổi, chỉ vì như ông bạn nói, lợi bất cập hại, rất phiền.
 
– Khánh Trường
 

Cách đây vài năm, một trung tâm ca nhạc Việt Nam nổi tiếng vùng Little Saigon phải thu hẹp hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Trung tâm này phải dọn văn phòng sang một mặt bằng nhỏ hơn để tiết kiệm chi phí. Một số người đi qua khu vực văn phòng cũ thấy CD, DVD ca nhạc vứt thành từng đống lớn ở phía trước để chờ đem đi đổ. Chẳng ai buồn lấy đem về nhà, dù trước đó vài năm một đĩa nhạc như vậy có thể có giá vài chục đô. Nhìn cảnh tượng đau lòng này, tôi nhớ đến một thời cách đây gần 40 năm, sau 1975 người dân trong nước Việt Nam thèm thuồng được nghe nhạc hải ngoại. Vào thời đó, chỉ có nhạc đỏ, nhạc cách mạng, nhạc ngoại quốc XHCN là được phổ biến chính thức. Người dân Miền Nam nhớ nhạc vàng, nhạc trẻ Âu Mỹ nên tìm nguồn để nghe. Nhạc vàng được nhà nước xếp vào loại văn hóa “phản động”, nhạc Âu Mỹ là “đồi trụy”, cả hai đều bị cấm. Có được một cuốn băng nhạc từ hải ngoại gởi về là một món quà tinh thần quí giá.
Một bức tranh có giá trị của họa sĩ Tây Ban Nha Joaquín Sorolla, từng được báo mất tại Sevilla, nay đã được tìm thấy sau một sự hiểu lầm hy hữu. Theo The Guardian, tác phẩm đã bị một người đàn ông vô tình mang về nhà vì nghĩ rằng đó là đồ bỏ đi. Người nhặt bức tranh là Andrés Hurtado, cư trú tại Murcia nhưng đang cùng gia đình đến Sevilla vào cuối tuần. Khi thấy bức tranh bị bỏ bên đường, ông cho rằng đây là đồ bỏ đi và chỉ chú ý đến chiếc khung mạ vàng.
Giữa lúc ‘peptide’ được tán tụng như “thuốc tiên” mới của phong trào dưỡng sinh Mỹ – từ chống lão hóa, tăng cơ đến “tối ưu hóa” tuổi thọ – tiếng nói thận trọng lại không đến từ giới ‘influencer’ mà đến từ chính các khoa học gia trong lòng FDA. Những người làm khoa học nghề nghiệp tại cơ quan dược phẩm liên bang đang kiên trì nhắc rằng phần lớn các peptide “thời trang” này chưa trải qua thử nghiệm lâm sàng đúng phương pháp, thậm chí một số bị xếp vào diện gây “nguy hiểm đáng kể”.
Một cộng đồng muốn tồn tại lâu dài không chỉ cần chợ Việt, tiệm Việt, lễ hội Việt. Cộng đồng ấy còn cần báo chí Việt, truyền hình Việt, những trang viết bằng tiếng Việt để ghi lại mình là ai, đã đi qua điều gì, và muốn để lại điều gì cho con cháu.
Trong căn bếp thử nghiệm của Believer Meats, mùi gà áp chảo bốc lên rất quen. Chỉ khác một điều: miếng gà ấy không đến từ trang trại hay lò mổ. Nó được nuôi lớn từ tế bào. Một số doanh nhân, khoa học gia và nhà đầu tư tin rằng trong tương lai, một phần thịt trên thế giới có thể được làm theo cách này: không cần nuôi con vật cho lớn, không cần giết mổ, nhưng vẫn có miếng thịt giống thứ người ta quen ăn. Hơn 150 công ty non trẻ đang theo đuổi mục tiêu ấy, với hy vọng dùng sinh học tế bào để giảm bớt gánh nặng môi sinh do nhu cầu ăn thịt ngày càng tăng. Yaakov Nahmias, người sáng lập Believer Meats, nói con người gần như “nghiện” thịt. Thịt gắn với tiến hóa, văn hóa, bữa cơm, tiệc tùng, ký ức. Nhưng trong nhiều thế hệ, nhân loại chỉ lo làm sao có thật nhiều thịt, ít khi tính đủ cái giá đất đai, nước, thức ăn chăn nuôi và khí thải phải trả.
Khoảng 20 triệu người Mỹ đang sống trong nhà lắp ghép (manufactured homes) – loại nhà làm sẵn trong nhà máy rồi đưa tới lắp đặt tại chỗ, thường nằm trong các khu nhà di động ở vùng ven và nông thôn. Dù quen gọi là “mobile home” hay “trailer”, phần lớn những căn nhà này thực ra không “di động”: chi phí tháo dỡ, vận chuyển và lắp lại rất cao, nên chủ nhà hầu như gắn chặt với mảnh đất nơi nhà được đặt xuống. Thông thường, người dân sở hữu căn nhà nhưng thuê phần đất bên dưới từ chủ khu; đôi khi họ cho người khác thuê lại căn nhà, nhưng vẫn đều đặn trả tiền thuê đất.
Nếu sống ở San Francisco, người ta có thể đã quen với cảnh một chiếc taxi không người lái lướt qua đường. Nhưng tại Milton Keynes, một thành phố nằm giữa Oxford và Cambridge, nổi tiếng vì có rất nhiều bùng binh, tương lai lại hiện ra dưới một hình thức khác: những chiếc robot nhỏ chạy trên lề đường, đem thức ăn và hàng tạp hóa đến tận nhà.
Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội. Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau.
Những câu chuyện về cây đàn guitar từ trời Âu Mỹ cho đến mảnh đất Việt Nam hình cong chữ S tưởng như kể không bao giờ hết, càng tôn vinh thêm tính nhân dân của cây đàn huyền thoại này…
Đi qua cổng an ninh phi trường tưởng như là một việc quen tay: tháo giày, lấy máy điện toán ra khỏi túi, bỏ chai nước, trình túi chất lỏng trong bao nhựa trong. Nhưng những luật tưởng như “ở đâu cũng vậy” thật ra không hề giống nhau giữa các quốc gia, thậm chí giữa các phi trường trong cùng một nước. Tại Hoa Kỳ, Cơ Quan An Ninh Vận Tải (TSA) đặt ra các luật lệ an ninh phi trường. Nhưng theo các chuyên viên du lịch, nhiều hành khách thường lầm tưởng luật của TSA có giá trị ở mọi nơi. Khi ra ngoại quốc, những ưu tiên quen thuộc như 'TSA PreCheck', hoặc cách qua cổng an ninh tại phi trường Mỹ, không nhất thiết được áp dụng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.