Hôm nay,  

Nó và Tôi

07/03/202512:20:00(Xem: 3759)

dinhcuongsummerlotus



Mỗi năm, tôi đều nhận được điện thư hoặc thiệp chúc Tết từ một số bạn, trong đó có nó. Nó không gởi thư Merry Christmas, Happy New Year, chỉ duy nhất dịp Tết Âm lịch. Nó là dân miền Tây cần cù, hiếu hoc, là bạn thân của tôi.
    Email nó gởi kèm theo mấy tấm hình Tết ở Bạc Liêu, quê nó. Bạc Liêu bây giờ khác xa hồi đó, hồi chúng tôi còn là sinh viên những năm 70. Đêm thành phố Bạc Liêu sáng rực rỡ trên đường bày hàng bán Tết. Nó đứng hòa vào khung cảnh nhộn nhịp nhưng không khác xưa, vẫn áo chemise, quần Tây, giày sandal, nụ cười e lệ không điệu bộ. Thời trang là thứ xa xỉ trong cuộc sống của nó. Tôi quý nó chỗ đó!
    Nó lên Sài Gòn học. Những tháng ngày trên lớp, nó luôn đi học sớm và dành cho tôi chỗ ngồi kế bên. Không biết nó “kết” tôi ở điểm nào mà chọn tôi làm “bạn tâm giao” tới lúc tốt nghiệp. Lúc đầu, tôi không mấy để ý đến nó vì ngoại hình bình thường, học lực cũng bình thường, lại không hoạt bát; nhưng lâu dần, tôi thấy mến nó hơn. Trong lớp, nó chỉ có vỏn vẹn 2 người bạn cùng quê và tôi, dân Sài Gòn. Năm đầu, nó ở chung nhà thuê với hai bạn cùng quê. Sau đó, em gái nó thi đậu vào Đại Học Y Khoa Sài Gòn nên hai chị em thuê nhà khác.
    Bản chất thật thà, chất phác nên nó đã không ít lần bị hai bạn kia mượn tiền không trả. Nó biết bị quỵt nợ mà không dám làm cách nào lấy lại tiền, chỉ chọn cách tâm sự với tôi. Tôi làm “quân sư quạt mo” kêu nó không đòi được tiền thì nghỉ chơi luôn cho khỏe, nhưng nó thà bị mất tiền còn hơn mất bạn! Nó hiền lành và coi trọng tình bạn chứ không khờ khạo, vẫn đối xử tử tế với hai bạn kia làm tôi bực mình. Tôi cấm nó không được kể lể ba cái chuyện phiền phức đó nữa, nhưng nhìn bộ mặt buồn xo của nó, tôi đành mặc kệ, tiếp tục im lặng nghe đủ thứ chuyện trời ơi của nó! Không cần biết người khác nghĩ nó ra sao, tôi chỉ cảm thấy chơi với nó rất dễ chịu, không hao tâm tốn sức đề phòng, mà chơi càng lâu càng thân. Trong bụng nó đầy chữ nghĩa từ sách vở nhưng chưa từng đọc truyện Duyên Anh, Hoàng Hải Thủy... thần tượng của tuổi trẻ thời đó. Cho nên, thỉnh thoảng nghe tôi kể sơ một vài mẩu truyện ngắn của các nhà văn này, nó tỏ ra thích thú như con nít, cứ như tôi đã mở ra cho nó một bầu trời mới mẻ và hấp dẫn.
    Nó thường rủ tôi về Bạc Liêu chơi mỗi dịp Hè, Tết, hoặc những ngày nghỉ sau kỳ thi, nhưng sao tôi có thể đi trong khi nhà nhiều việc được? Vì vậy, bất cứ lúc nào có thời gian, tôi xách túi ra bến xe miền Tây, lên xe đò xuống Bạc Liêu mà không nhất thiết cùng đi với nó. Khỏi phải nói, lần nào đón tôi ở bến xe, nó cũng mừng muốn khóc. Hai đứa lên xe thổ mộ, xe ngựa có chỗ ngồi với mái che, về nhà. Tôi thích ngồi đằng sau xe, thả hai chân xuống, nghe tiếng lóc cóc chậm rãi của vó ngựa, ngắm quán xá, xe cộ qua lại trên đường; cảm giác thật tự do, sung sướng. Nó ngồi phía trong xe, cạnh tôi, tay nắm chặt tay tôi làm như sợ tôi rớt xuống đường. Nó đâu biết bạn thân của nó có máu “tiếu ngạo giang hồ” và “lì” nữa.
    Căn nhà gạch đơn sơ của gia đình nó nằm khiêm tốn trong một khoảng sân đất rộng, trống trải không hàng rào, vài chỗ lót bê tông. Lần nào tôi về chơi cũng gặp má của nó đầu tiên. Bà thường ngồi trên chiếc ghế dựa gỗ đặt trước hiên nhà, không biết chờ con gái học trên thành phố về hay chỉ ngồi hóng gió? Tôi rất thích nghe tiếng “con” hoặc “bây” trìu mến đậm chất Nam bộ của bà mỗi lần chúng tôi về nhà, như ‘Dìa rồi hả bây? Ngồi xe mệt không con? Dô nhà tắm rửa ăn cơm đi, v.v…”
    Nó còn một chị Ba chưa lập gia đình, ở chung nhà. Chị nói chuyện tự nhiên và lanh lợi, không giống nó. Chị ân cần chăm sóc tôi như khách quý. Có lẽ chị biết tôi là bạn thân hiếm hoi của nó, chịu khó lặn lội từ thành phố về tỉnh lẻ thăm em chị. Chị là cô giáo trường Tiểu Học Bạc Liêu nên dành nhiều thì giờ ở nhà chăm sóc gia đình.
    Buổi tối, ba chị em ngủ chung một giường. Cái giường đặc biệt này có một không hai tôi được thấy trong đời, và chắc chỉ có ở nhà nó. (Mà tôi có biết nhà nào khác đâu?) Đó là một cái hồ chứa nước to, diện tích khoảng 3mx4m, cao phải hơn 1m. Nắp hồ là miếng bê tông dày cứng cáp. Chúng tôi chỉ cần trải chiếc chiếu trên nắp hồ là thành giường ngủ. Còn nữa, ở đây không treo mùng mà không có muỗi. Tôi thắc mắc hỏi thì nó nói, chung quanh sân nhà là đất cát, không cây cối, hồ nước lại xây trong nhà nên không có muỗi. Đơn giản vậy sao?
    Nó đưa tôi đi coi căn nhà cổ của Công Tử Bạc Liêu, chỉ một lần cho biết thôi vì từ nhà nó tới đó khá xa. Còn hầu hết thời gian trong ngày, nó dẫn tôi đi chợ, đủ các chợ gần xa, cũng bằng xe thổ mộ. Thành phố Bạc Liêu nhỏ nên chợ nào cũng nhỏ. Chúng tôi đi chợ mua đồ về nhà nấu ăn, có khi đi suốt ngày thì ăn hàng trong chợ. Nó giới thiệu mấy xe hủ tíu ngon của các chú Tiều và các hàng chè đủ loại. Nó luôn luôn “bao” tôi ăn uống, không để tôi trả tiền. Biết nó thật tình nên tôi không ngại. Bạc Liêu có một chợ bán nhiều hàng hóa cũ-mới giống Khu Dân Sinh Sài Gòn. Chợ này dĩ nhiên không rộng lớn, hàng hóa cũng không đẹp, nhưng đi dạo ngắm chơi cũng vui mắt.
    Tôi nhớ mãi những bữa cơm do chị Ba nấu, có canh bầu cá trê, thịt ba rọi luộc chấm mắm nêm, cá rô đồng kho tiêu; là những món mà ở nhà, tôi không bao giờ thấy trên mâm cơm. Chị Ba nghe tôi khen đồ ăn ngon nên thường để dành cho chúng tôi khi đi chơi về trễ. Ở nhà nó, tôi thật sự thoải mái, tự nhiên vì đã xem gia đình nó như gia đình của mình. Nó cũng mồ côi cha như tôi. Ba nó đi lính, chết trận năm Mậu Thân 1968. Nó còn chị Hai đang ở Cà Mau, em gái học ĐHYK Sài Gòn là kế nó, và cậu em út, phụ công việc với chị Hai, thỉnh thoảng về nhà. Chị em nó đều coi tôi như người trong nhà. Điều này làm tôi rất vui.
    Chị Hai lấy chồng Cà Mau, mở tiệm bán thuốc Tây ngay chợ. Nó giúp chị mua thuốc ở Sài Gòn theo “toa” chị ghi, đem về cho chị. Tôi thường theo nó đi xe buýt về Cà Mau. Lúc đó bến xe Cà Mau nhỏ xíu, còn nhỏ hơn bến xe Bạc Liêu. Bãi đậu xe chỉ là một bãi đất, bụi bay mù mịt khi xe chạy. Vậy chứ vẫn có những gánh hàng rong và những bàn trà đá, và người ta vẫn ăn uống thản nhiên! Chúng tôi giao thuốc cho chị Hai xong là trở về ngay vì chị suốt ngày bận rộn ngoài tiệm. Mỗi lần rời Cà Mau, chị luôn gói thêm cho tôi bánh Pía và tôm khô mà theo lời chị, “trên Sài Gòn thích lắm!”
    Trước ngày tôi trở về Sài Gòn, nó không bao giờ quên thắng cho tôi một hũ lớn mỡ heo, bỏ thêm vài ký gạo. Trong chiếc giỏ lát, ngoài gạo và mỡ heo, còn chứa đầy một tình bạn quý giá. Biết tôi không ưa rườm rà, đi chơi chỉ xách một túi vừa đủ để áo quần và đồ dùng cá nhân, nên nó tự tay xách “quà” giùm tôi ra bến xe. Tới nơi, nó leo lên xe tìm chỗ ngồi rồi để cái giỏ ngay đó, dặn tôi đừng quên. Xuống xe, nó còn đứng tần ngần dưới cửa sổ, không nói một lời, cho tới khi xe lăn bánh. Lần nào cũng vậy, vóc dáng nhỏ nhắn của nó từ từ xa tầm nhìn của tôi, rõ nét, không bao giờ thay đổi.
    Từ khi chúng tôi tốt nghiệp, nó về quê dạy học, tôi ra tận Cam Ranh, hai nơi xa xôi ít gặp nhau. Vậy mà khi nghe tin mỗi dịp tôi về Sài Gòn là nó ghé nhà thăm, không biết nó đi từ Bạc Liêu hay tỉnh thành nào? Nó đã từng làm tôi ngạc nhiên như lần nó xuất hiện tại trường Trung Học tôi đang dạy, chỉ để thăm và đem ít bánh trái cho tôi. Tôi mà rầy rà thì lại bị nghe “Thương mới cho ăn chớ”, câu nói quen thuộc kiểu “bà già trầu” của nó. Nó vậy đó, im-im lặng-lặng, chẳng nói-chẳng rằng nhưng toàn gây bất ngờ!
    Khi em gái nó tốt nghiệp, làm việc tại bịnh viện Bình Dân Sài Gòn, hai chị em mua căn nhà riêng ở Gò Vấp. Nó đổi nghề, mở Công Ty Trách Nhiệm Hữu Hạn Xuất Khẩu thảm xơ dừa và dây thừng tại Long An. Tôi hỏi nó học từ đâu mà dám kinh doanh một ngành nghề lạ hoắc như vậy, mới biết chồng của nó có nghề này dưới quê, kêu nó bỏ tiền ra làm ăn riêng. Tưởng công việc phát triển thuận lợi, không ngờ, vợ chồng nó phải li dị vì nó lấy nhầm một người đàn ông nhậu nhẹt và nợ nần. Nó quyết định giữ lại công ty do nó gầy dựng và tiếp tục việc sản xuất. Nó miệt mài làm việc, đã trả hết nợ, và bảy năm sau khi li dị, nó lập gia đình với một anh chàng Việt Nam, đại diện cho một công ty của Mỹ, là khách hàng của công ty nó. Đám cưới lần thứ nhì, nó cũng đích thân đem thiệp mời tới nhà tôi. Trong ngày hôn lễ, nhìn nó ngượng ngùng trong chiếc đầm trắng hợp thời, tôi nghĩ thầm “chắc nó đang bị thời trang làm phiền”. Đến nay, nó vẫn tự làm chủ công ty, không theo chồng qua Mỹ. Hai vợ chồng nó tuy không sống gần nhau, mỗi năm gặp nhau vài lần nhưng rất vui vẻ, hạnh phúc. Vậy mới nói, xa mặt chưa chắc đã cách lòng! Tôi mừng cho cuộc sống và sự nghiệp nó chọn.
    Tình bạn thuở học trò đẹp đẽ của chúng tôi theo thời gian không phai nhạt, dù hiện tại chúng tôi sống ở hai nơi rất xa, hiếm khi gặp nhau. Tết năm 2016, tôi về Việt Nam lo vài công chuyện. Nó biết tin, từ Long An lên Sài Gòn thăm tôi. Tôi giữ nó ở chơi với tôi một ngày rồi theo nó về Long An thăm xưởng sản xuất và nhà mới của nó. Gặp lại cậu út giờ là thợ chính trong xưởng, đã có gia đình và một con gái. Thời gian qua nhanh quá!
    Sẵn mấy ngày nghỉ Tết, nó chở tôi đi chợ Tết Tân An bằng xe gắn máy. Tôi thích ngắm hoa nên chúng tôi chỉ cần tới chỗ bày bán hoa tươi dọc theo bến sông. Dưới bến nước, nhiều ghe neo sát bờ, còn đầy hoa trong khoang. Những chậu hoa lớn nhỏ đủ cỡ và bông trái đủ loại, tạo nên một bức tranh đầy màu sắc Tết miền quê. Dạo quanh một hồi, tôi chọn mua 2 chậu mai lớn, trả tiền trước khi nó quay lại. Nó đã mua 5 cặp vạn thọ và thuê xe ba gác. Tôi nhờ khiêng lên xe 2 chậu mai chở về nhà luôn. Nó trố mắt nhìn, không kịp “trở tay”. Ăn trưa xong, chúng tôi – nó, cậu út, và tôi – hì hục sắp xếp mấy chậu hoa ngoài sân. Thợ đã nghỉ Tết nên chúng tôi phải lao động cho đến chiều tối.
    Theo thư nó kể, qua năm sau, nó kêu thợ đào hố và đem những cây vạn thọ trồng thẳng xuống đất, nhưng không sống được lâu vì quá nắng, hay vì sao không biết? Trái lại, hai chậu mai tôi mua, vẫn để trước cửa lớn, ra hoa đều đặn mỗi năm. Nó nói anh chồng nó rất thích vì đó là mai tứ quý. Anh ta coi bộ rành cây cảnh, chăm chỉ lặt lá và tưới nước đầy đủ nên cây lớn mạnh, nở rất nhiều hoa mỗi độ Tết về. Hai cây mai đẹp, có cái tên cũng đẹp mà tôi đã may mắn mua được từ Tết năm nào vẫn sống bền bỉ, tươi tốt như lời chúc Ăn Nên Làm Ra dành tặng nó.
    Tình bạn của nó và tôi không màu mè, khách sáo. Nó vẫn kêu tên tôi và xưng “tui”. Tôi thì cứ “bồ” và “tui” như xưa, dù hai đứa nay đã qua thất thập. Nó là đứa bạn duy nhất của tôi, mộc mạc, thật thà, còn giữ nguyên gốc dân quê Bạc Liêu như tên của nó, Nguyễn Thị S.

 

– Hồ Thị Kim Trâm

Cách đây vài năm, một trung tâm ca nhạc Việt Nam nổi tiếng vùng Little Saigon phải thu hẹp hoạt động vì kinh doanh khó khăn. Trung tâm này phải dọn văn phòng sang một mặt bằng nhỏ hơn để tiết kiệm chi phí. Một số người đi qua khu vực văn phòng cũ thấy CD, DVD ca nhạc vứt thành từng đống lớn ở phía trước để chờ đem đi đổ. Chẳng ai buồn lấy đem về nhà, dù trước đó vài năm một đĩa nhạc như vậy có thể có giá vài chục đô. Nhìn cảnh tượng đau lòng này, tôi nhớ đến một thời cách đây gần 40 năm, sau 1975 người dân trong nước Việt Nam thèm thuồng được nghe nhạc hải ngoại. Vào thời đó, chỉ có nhạc đỏ, nhạc cách mạng, nhạc ngoại quốc XHCN là được phổ biến chính thức. Người dân Miền Nam nhớ nhạc vàng, nhạc trẻ Âu Mỹ nên tìm nguồn để nghe. Nhạc vàng được nhà nước xếp vào loại văn hóa “phản động”, nhạc Âu Mỹ là “đồi trụy”, cả hai đều bị cấm. Có được một cuốn băng nhạc từ hải ngoại gởi về là một món quà tinh thần quí giá.
Một bức tranh có giá trị của họa sĩ Tây Ban Nha Joaquín Sorolla, từng được báo mất tại Sevilla, nay đã được tìm thấy sau một sự hiểu lầm hy hữu. Theo The Guardian, tác phẩm đã bị một người đàn ông vô tình mang về nhà vì nghĩ rằng đó là đồ bỏ đi. Người nhặt bức tranh là Andrés Hurtado, cư trú tại Murcia nhưng đang cùng gia đình đến Sevilla vào cuối tuần. Khi thấy bức tranh bị bỏ bên đường, ông cho rằng đây là đồ bỏ đi và chỉ chú ý đến chiếc khung mạ vàng.
Giữa lúc ‘peptide’ được tán tụng như “thuốc tiên” mới của phong trào dưỡng sinh Mỹ – từ chống lão hóa, tăng cơ đến “tối ưu hóa” tuổi thọ – tiếng nói thận trọng lại không đến từ giới ‘influencer’ mà đến từ chính các khoa học gia trong lòng FDA. Những người làm khoa học nghề nghiệp tại cơ quan dược phẩm liên bang đang kiên trì nhắc rằng phần lớn các peptide “thời trang” này chưa trải qua thử nghiệm lâm sàng đúng phương pháp, thậm chí một số bị xếp vào diện gây “nguy hiểm đáng kể”.
Một cộng đồng muốn tồn tại lâu dài không chỉ cần chợ Việt, tiệm Việt, lễ hội Việt. Cộng đồng ấy còn cần báo chí Việt, truyền hình Việt, những trang viết bằng tiếng Việt để ghi lại mình là ai, đã đi qua điều gì, và muốn để lại điều gì cho con cháu.
Trong căn bếp thử nghiệm của Believer Meats, mùi gà áp chảo bốc lên rất quen. Chỉ khác một điều: miếng gà ấy không đến từ trang trại hay lò mổ. Nó được nuôi lớn từ tế bào. Một số doanh nhân, khoa học gia và nhà đầu tư tin rằng trong tương lai, một phần thịt trên thế giới có thể được làm theo cách này: không cần nuôi con vật cho lớn, không cần giết mổ, nhưng vẫn có miếng thịt giống thứ người ta quen ăn. Hơn 150 công ty non trẻ đang theo đuổi mục tiêu ấy, với hy vọng dùng sinh học tế bào để giảm bớt gánh nặng môi sinh do nhu cầu ăn thịt ngày càng tăng. Yaakov Nahmias, người sáng lập Believer Meats, nói con người gần như “nghiện” thịt. Thịt gắn với tiến hóa, văn hóa, bữa cơm, tiệc tùng, ký ức. Nhưng trong nhiều thế hệ, nhân loại chỉ lo làm sao có thật nhiều thịt, ít khi tính đủ cái giá đất đai, nước, thức ăn chăn nuôi và khí thải phải trả.
Khoảng 20 triệu người Mỹ đang sống trong nhà lắp ghép (manufactured homes) – loại nhà làm sẵn trong nhà máy rồi đưa tới lắp đặt tại chỗ, thường nằm trong các khu nhà di động ở vùng ven và nông thôn. Dù quen gọi là “mobile home” hay “trailer”, phần lớn những căn nhà này thực ra không “di động”: chi phí tháo dỡ, vận chuyển và lắp lại rất cao, nên chủ nhà hầu như gắn chặt với mảnh đất nơi nhà được đặt xuống. Thông thường, người dân sở hữu căn nhà nhưng thuê phần đất bên dưới từ chủ khu; đôi khi họ cho người khác thuê lại căn nhà, nhưng vẫn đều đặn trả tiền thuê đất.
Nếu sống ở San Francisco, người ta có thể đã quen với cảnh một chiếc taxi không người lái lướt qua đường. Nhưng tại Milton Keynes, một thành phố nằm giữa Oxford và Cambridge, nổi tiếng vì có rất nhiều bùng binh, tương lai lại hiện ra dưới một hình thức khác: những chiếc robot nhỏ chạy trên lề đường, đem thức ăn và hàng tạp hóa đến tận nhà.
Có những dòng sông tưởng như sinh ra để chỉ chảy qua đồng ruộng, qua bãi cát mịn, những bãi bồi lặng lẽ, hay lượn qua những lũy tre làng êm ấm. Nhưng cũng có những dòng sông, không hiểu vì sao, lại được lịch sử chọn làm ranh giới, chảy qua cả số phận của một dân tộc – để chia đôi hai miền, chia đôi phận người. Từ sông Gianh của thế kỷ xa xưa, nơi hai miền Đàng Trong – Đàng Ngoài, của Chúa Trịnh Chúa Nguyễn, đứng nhìn nhau qua màn sương lịch sử, đến sông Bến Hải của thế kỷ gần hơn, nơi bên kia cầu Hiền Lương từng run rẩy trong tiếng loa phóng thanh và những ánh mắt thù nghịch với mã tấu búa liềm, và bên này cầu với ấm no hạnh phúc, giáo dục nhân bản và tự do xã hội. Hai dòng nước ấy, cách nhau hàng trăm năm, lại cùng mang một nỗi đau: nỗi đau của một đất nước bị chia đôi như một nhát chém vào tim. Là nỗi đau của những con người bị buộc phải đứng ở hai bờ, nhìn nhau mà không thể bước đến cầm tay nhau.
Những câu chuyện về cây đàn guitar từ trời Âu Mỹ cho đến mảnh đất Việt Nam hình cong chữ S tưởng như kể không bao giờ hết, càng tôn vinh thêm tính nhân dân của cây đàn huyền thoại này…
Đi qua cổng an ninh phi trường tưởng như là một việc quen tay: tháo giày, lấy máy điện toán ra khỏi túi, bỏ chai nước, trình túi chất lỏng trong bao nhựa trong. Nhưng những luật tưởng như “ở đâu cũng vậy” thật ra không hề giống nhau giữa các quốc gia, thậm chí giữa các phi trường trong cùng một nước. Tại Hoa Kỳ, Cơ Quan An Ninh Vận Tải (TSA) đặt ra các luật lệ an ninh phi trường. Nhưng theo các chuyên viên du lịch, nhiều hành khách thường lầm tưởng luật của TSA có giá trị ở mọi nơi. Khi ra ngoại quốc, những ưu tiên quen thuộc như 'TSA PreCheck', hoặc cách qua cổng an ninh tại phi trường Mỹ, không nhất thiết được áp dụng.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.