Hôm nay,  

Nhớ Ba

19/06/202600:00:00(Xem: 360)

 

IMG_7391
Minh Thúy Thành Nội nhận giải Tác Giả-Tác Phẩm VVNM 2025.

 

Tác giả bắt đầu tham gia Viết Về Nước Mỹ từ tháng 11, 2018, với bài “Tình người hoa nở”. Cô tên thật là Nguyễn thị Minh Thúy, sinh năm 1955. Qua Mỹ năm 1985, hiện là cư dân thành phố Hayward thuộc Bắc Cali. Tác giả nhận giải Vinh danh Tác giả 2023 và mới đoạt giải Vinh danh Tác Giả-Tác Phẩm VVNM 2025. Hướng về ngày “Father’s Day”, sau đây là câu chuyện cảm động của tác giả về hình ảnh đáng quý của một người cha dành cả cuộc đời cho con cái.

***

Thời gian sau này, khi có thì giờ rảnh lên mạng, Linh thường theo dõi vị sư tên Thích Giác Tâm ở mái chùa Cẩm La thuộc ngôi làng xa xôi hẻo lánh. Nơi đây thầy nuôi 9, 10 em trai mồ côi, bé nhỏ nhất khoảng 1 tuổi, lớn nhất độ 12 tuổi. Hình ảnh sinh hoạt hằng ngày giữa thầy trò giống như tình cha con. Thầy nói “Muốn quay lại những thước phim các em lúc nhỏ, lớn lên sẽ có kỷ niệm về tuổi thơ."

Xem các em cô nhi chạy nhảy trong sân chùa, đùa giỡn bên thầy Giác Tâm. Bên người cha tuy vật chất còn thiếu thốn, nhưng tình thương người cha thật tràn đầy. Ngôi chùa sau trận bão giông đã sụp đổ hư hỏng, thầy làm đủ mọi việc: dầm mình nửa người dưới nước cày ruộng. Điều khiển các xe lớn đổ đất cầy xới. Cắt cỏ cho trâu ăn...v..v... Các em luôn bám đu theo thầy, nên khi hái sen thầy cũng để các em nhỏ ngồi trên đò, lội bùn vừa đẩy thầy vừa hái hoa sen, có khi cắt rau muống. Lúc thu hoạch được cây quả, các loại rau, thầy trò ngồi xếp từng bó chất đầy đôi gióng. Thầy gánh ra góc đường ngồi bán chung nhóm người tụ lại như chợ rau nhỏ, các em cũng theo ra ngồi bên cạnh.

Thầy đi đâu chưa về, các em chạy ra đầu cổng chùa đứng đợi, vừa thấy bóng thầy, các em mừng rỡ chạy ùa nhanh đến, em níu tay, em bắt cõng. Hoặc khi có đạo hữu đem tới trái cây, bánh kẹo, các em ngồi xếp bàn quanh thầy, chờ phát phần, vừa ăn vừa giành nhau ôm chặt thầy tìm hơi ấm tình thương. Có con vật chết, thầy gói lại trước khi chôn, thắp nhang khấn vái, các em ngồi quanh cũng chấp tay lạy xuống khi nghe thầy giảng dạy. Thầy phóng sinh cá cũng có vài lời pháp, các em ngồi im lặng như thấu hiểu.

Những hình ảnh đó truyền vào Linh một cảm giác thật ấm áp dễ chịu, đẹp mắt mang thông điệp nghĩa tình cha con “Cha với con như cơm với cá”. Càng gần ngày lễ Father‘s Day, Linh càng thấy buồn vô hạn. Hình ảnh Ba luôn khắc mãi trong tim. Linh nhớ Ba kinh khủng, nhớ quay quắt, ký ức mở ngõ đi về những ngày thật xưa, thật xa...

Mạ Linh sinh được 3 chị em: Linh, Bảo, và Tuấn. Ba là lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc binh chủng tác chiến, đi tù “cải tạo" hơn 6 năm. Thời gian này 3 chị em ở với ngoại. Sau ngoại mất, mấy chị em ở nhà trông nhau. Mẹ đi vắng suốt ngày lo buôn bán kiếm gạo. Lúc Ba trở về Linh đã 10 tuổi, Bảo 8 tuổi, và Tuấn 7 tuổi. Em Tuấn khi mạ sinh không có Ba.

Linh còn nhớ khi Ba ra tù về, O Ngân cho mượn tiền mua chiếc xe đạp cũ đi thồ. Những tối trời nóng Ba chở 3 chị em tới nhà O Ngân chơi ở vùng Cầu Kho. Có một hôm ham nô đùa chơi “đạp mạng trốn tìm“ với các con của O, Linh chạy vào núp sau góc tủ, nơi O và Ba đang ngồi nói chuyện. Linh chợt lắng nghe tiếng O nhắc tên má “cả thành phố Huế ni ai mà không biết Liễu làm nghề chi...” Linh nghe tiếng Ba lớn mạnh “đáng lẽ chị phải thương nó, nghèo quá xoay sở không ra tiền, phải đi bán máu lúc con bị bịnh nằm bệnh viện. Tệ nạn do đâu, trong khi người chồng ở tù. Hoàn cảnh tụi tui quá bi đát, về đây tui còn thương nó gấp bội. Chỉ có nó đi lấy chồng khác tui mới buồn thôi, buồn nhưng không oán trách trước thời thế “. Linh nín thở không hiểu chuyện gì, chỉ đoán lờ mờ O Ngân không thích mạ thì phải?!!

Thế rồi thêm cu Bi (Việt) chào đời. Mỗi ngày Ba đạp xe chạy quanh thành phố tìm khách. Mỗi sáng Ba thức dậy 4 giờ, Ba nói “Đứng ngã tư đón con buôn giờ này không bị ai giành giựt, khách cần đi sớm lên ga xe lửa”. Mạ cũng lục đục dậy theo chiên cơm Ba ăn một tô cho chắc bụng. Chờ sáng ra mạ nách cu Bi, cùng mấy chị em qua lò mè xửng của ông Ban, vừa thả Bi chơi vừa lột đậu phụng thuê.

Những tối mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, mạ con ngồi mở cửa sổ nhìn ra ngoài trời tối đen như mực, mạ khấn trời, khấn Phật. Nhà thuê quá cũ kỹ, mưa dột chảy nhiều góc, nên thùng sô, thau lớn nhỏ được đem ra hứng nước. Dù lúc đó Linh chỉ mới hơn 10 tuổi nhưng đã hiểu công lao khổ nhọc của người lớn, thấy thương Ba vô cùng. Ba về, người ướt nhẹp run rẩy, miệng vẫn cười nói “Có gió mưa mới dễ kiếm khách, vì xe thồ ít hơn." Nụ cười đó theo Linh suốt cả cuộc đời, dạy Linh biết rằng Ba có thể đội cả mưa gió, miễn các con được ấm no. Ba thay quần áo, Linh phụ mẹ dọn cơm gồm dĩa rau muống luộc và cái trứng gà. Trước đó mấy chị em ăn một cái dầm nước mắm chan cơm, mạ chỉ ăn rau, mạ nói “Ba các con đạp xe cần ăn một cái cho có sức”. Ba ra ngồi vào bàn ăn, chỉ lùa cơm với nước và rau, ba nói “Để cái trứng cho các con ăn thêm,“ dù mạ năn nỉ nhưng ba vẫn để nguyên đó.

 Cuộc sống cứ chống chèo cơ cực qua ngày cho đến lúc cu Bi được ngoài 3 tuổi thì hung tin đến với gia đình. Mạ bị ung thư giai đoạn cuối, bác sĩ lắc đầu khuyên về nhà sau khi nằm thời gian trong bệnh viện. Những cơn đau vật vã khiến mạ cầu xin cho đi sớm, vì tình cảnh gia đình không tiền không bạc, nợ nần O Ngân và bạn bè quá nhiều. Hai tháng sau ước muốn của mạ cũng được toại nguyện. Một đêm mạ sốt li bì, được chở qua bệnh viện nằm vài tiếng thì tắt thở. Còn cảnh nào buồn hơn trên thế gian này nữa, cu Bi khóc đòi mạ đến khàn tiếng. Hàng xóm tốt bụng dẫn qua nhà họ cho ăn quà bánh để em tạm quên mạ.

Huế là nơi chôn dau cắt rốn của ba mạ. Hai người yêu nhau từ thời trung học, lên đại học. Biết bao kỷ niệm lưu dấu chân ba mạ trên đồi Thiên An, chùa Linh Mụ, hay trên đường Vỹ Dạ về ăn chè Cồn, nơi thơ mộng nhất thời đó ở Huế. Nhưng giờ mạ mất đi, Ba không còn tha thiết với Huế nữa. Thỉnh thoảng phải nghe tiếng chì tiếng bấc chung quanh, làm Ba rất buồn bực. Nhân có bác Tôn vào Bạc Liêu sinh sống trước, liên lạc thúc giục Ba vào Nam dễ thở hơn.


Ra đi vào đêm khuya với ít đồ đạc. Ba không được văn phòng Công an địa phương cấp giấy đi đường. Cha con lén lút lên ga chờ “tàu Chợ” đi chợ đen không cần giấy tờ. Miền Tây dễ sống, bác Tôn hướng dẫn lập chòi tranh ở khu xa thành phố, xa cầu Quay. Nơi này có khoảng mười mấy ngôi nhà tranh, nhà tôn toàn người Huế bỏ xứ vào đây sinh sống. Hàng xóm thấy cu Bi còn nhỏ, hoàn cảnh cha con côi cút, nên giúp đỡ rất nhiều vật dụng.

Ban đầu Ba ra chợ Nhà Lồng xin rửa chén, dọn dẹp cho các quán ăn, ai kêu gì làm đó. Bác Tôn giới thiệu Ba làm hộ khẩu mới. Ba bắt chị em Linh đi học, riêng cu Bi còn nhỏ được mệ Năm cạnh nhà thương, dẫn qua chơi chung với cháu mệ và cho ăn uống chiều mới trao lại. Về miền Tây rất thoải mái, người dân rộng rãi cởi mở dễ tính. Thức ăn giá cả rẻ, nhà nghèo cỡ cha con Linh vẫn ăn được tôm, cá lóc dễ dàng.

Sau này trong khu tập trung ăn uống, Ba làm cho ông chủ người Tàu, nhiều lúc theo về nhà chủ sửa máy móc hoặc xe cộ, ống nước. Lâu ngày họ hiểu hoàn cảnh, rất thương Ba. Mỗi chiều về Ba được bà chủ cho thức ăn bán còn trong ngày thoải mái, nên nhà mệ Năm cũng được hưởng ké. Những tối trời nóng bức, khu vực chỉ dùng đèn dầu. Ba ngồi kiểm soát bài vở các con hoc. Ba cùng ngồi để 3 chị em cố gắng học thuộc bài. Ba lôi những áo quần của con ngồi mạng lại những chỗ sắp rách, hoặc ôm cu Bi xoa lưng dỗ em ngủ.

Chuyện bất ngờ đến! Ông chủ quán cơm người Tàu rất mến Ba, một hôm ông hẹn riêng Ba nói chuyện vượt biên, muốn cho Ba đi theo với điều kiện trả sau khi đến bến bờ. Nhờ ông bà tổ tiên phù hộ, chuyến đi đó biển êm gió lặng sau 5 ngày, không gặp nguy nan trên biển. Tàu có gần 100 người đều an toàn đến đảo Pulau Bidong, sau 2 tháng chuyển trại qua Sungai Besi làm thủ tục giấy tờ, chuyển tiếp Phi Luật Tân, cuối cùng cha con qua Mỹ cuối năm 1985.

Gia đình ông chủ quán cơm đi Mỹ theo diện con bảo lãnh. Cha con Linh được nhà thờ Tin Lành bảo trợ qua tiểu bang Ohio một năm, nhưng trời mùa đông tuyết đóng băng, em út và Ba bị suyễn khó thở. Ông quán cơm (chủ tàu) thúc giục về Bắc Cali, nơi có nắng ấm đỡ hơn. Về đây các con ông chủ hướng dẫn, giúp thuê căn apartment, chở làm giấy tờ thủ tục. Chị em Linh đi học bằng xe bus, cu Bi có xe nhà trường đến rước.

Nhờ lúc ở Ohio được người trong nhà thờ tập lái xe có bằng sẵn, nên về Cali Ba mua chiếc xe cũ nửa khuya đi bỏ báo. Ban ngày nấu nướng cho các con bới xách, nhận hàng làm ở nhà và chăm giữ cu Bi ngoài giờ học. Lúc này em đã lên 7 tuổi. Tối về gia đình xúm nhau bỏ bông vào túi vải thơm lãnh gia công. Ba gom góp tiền lợi tức cả nhà đầu tiên trả góp ông chủ tàu, tính tương đương 6 cây vàng, chỉ vài tháng đã xong nợ. Sau đó bao nhiêu nợ nần, ân huệ bên Việt Nam Ba lần lượt gởi về hậu hỷ các con nợ, bà con với niềm vui khôn tả.

Ba nói: “Nhờ nước Mỹ mà mấy cha con mình “hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai” mới kiếm được tiền trả nợ. Suốt đời Ba không quên ơn từ Việt Nam qua đến đất nước Hoa Kỳ này, nhất là cái ơn lớn của ông chủ quán cơm, các con phải gắng học để đền ơn đất nước đã cưu mang mình”

Năm sau nhiều bạn chỉ dẫn Ba được nhận chương trình housing chính phủ trợ cấp một căn nhà 3 phòng ngủ và food stamps hàng tháng. Ba tìm được hàng xóm giữ dùm cu Bi vài tiếng, vì được Employment Agency (cơ quan tìm việc), giới thiệu công việc assembly trong hãng điện tử. Tuy nhiên sau khi được chính phủ trả 2/3, phần còn lại Ba trả tuỳ theo mức thu nhập mỗi tháng. Nếu tháng nào Ba làm overtime thì mức tiền nhà trả cao hơn, ngược lại tháng có vài ngày nghỉ thì trả giảm xuống.

Chị em Linh chăm chỉ học hành, mùa hè xin làm McDonald, hoặc work study. Ba dành việc đầu bếp, mỗi tối lo cơm nước bới cho các con. Khi các con học khuya, Ba cũng thức khuya theo. Ba nấu cháo hoặc cắt trái cây, hoặc xay sinh tố đem vào tận phòng mỗi đứa, có khi ép uống ly sữa đầy. Đôi lần Linh nghe các bạn Ba nhắc “tìm vợ đi chứ, không lý anh ở vậy mãi”, rồi họ xúi Ba về Việt Nam (VN) tha hồ chọn lựa, còn kiếm được tiền nữa là. Ba lắc đầu “không thích kiểu đó, có các con bên cạnh là nguồn an ủi lớn cũng đủ rồi.”

Thương nhất giai đoạn các em được trường xa nhận, mỗi khi về nhà Ba bồi dưỡng đủ món, nấu các món khô cho con đem đi, dặn dò đủ thứ với vẻ lo âu. Chỉ có Linh chọn học gần cho Ba yên tâm và bớt buồn. Ba trấn an các con “Công việc bận rộn, cuối tuần lên chùa làm công quả nghe kinh kệ, nên không có thì giờ buồn đâu, các con cố gắng học cho xong.” Lần lượt các con ra trường: kỹ sư, dược sĩ, y tá. Ngày dự lễ mỗi đứa, mắt Ba đỏ hoe nhắc đến mạ “Phải chi giờ này còn mạ các con...”

Rồi thì con cái có sự nghiệp ổn định, lập đình đứa ở xa, đứa ở gần, Ba sống chung với gia đình Linh. Tuy xa mà gần Ba, các con gởi không thiếu thứ gì từ thuốc bổ, thức ăn đến tận nhà, cho tiền Ba gởi bà con, làm mồ mả, đóng góp nhà thờ dòng họ bên Việt Nam. Mùa lễ Tạ Ơn, Noel con cháu về tụ họp quây quần bên Ba. 

Năm ngoái còn được ăn “Lễ Cha” sum họp. Tháng Tám sau đó, Ba đã rời bỏ thế gian vì bị tai biến mạch máu não bất ngờ. Sáng Chủ Nhật hôm ấy, chưa thấy Ba dậy ăn sáng dù đã 9 giờ, Linh mở cửa vào phòng thức Ba dậy, nhưng Ba đã ra đi với tuổi thọ 80. Ba đi nhẹ nhàng như cách Ba sống cả đời: không một lời than, chỉ sợ các con lo. Ba nằm yên bình với giấc ngủ nghìn thu.

 Một đời Ba gánh hết mưa nắng để đổi lấy bình yên cho các con. Father's Day năm nay, con chỉ biết dâng bình hoa trắng, thắp một nén hương lên bàn thờ Ba. Khói hương bay, xin gửi lên trời cao một lời: “Ba ơi, con nhớ Ba vô cùng... và con nguyện sống tử tế, như cách Ba đã sống cả một đời vì chúng con.”
 
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Lễ Father’s Day 2026
 

Quianna Duyên Bùi sinh trưởng tại Saigon, sang Mỹ định cư năm 17 tuổi, và hiện cư ngụ tại Bắc California. Cô từng hoạt động trong các lĩnh vực khoa học và giáo dục. Đây là lần đầu tiên cô tham gia Viết Về Nước Mỹ. Bài viết kể về hai sự việc trong sinh hoạt đời thường- đám tang và đám cưới dưới cách nhìn chan chứa tình người của tác giả.
(Xem: 10)
Tiếng hát nho nhỏ của bà nội ở phòng bên cạnh vang lên, bà vừa thay đồ vừa lầm bầm bài hát cho thuộc lời. Tôi biết buổi “party” chiều nay bà sẽ làm ca sĩ, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày cưới của ông Tuấn, bạn thân của gia đình ông bà nội từ bao lâu nay. Bà vừa tìm đôi bông tai trong tủ, vừa ướm thử trong gương xem có hợp với bộ đồ bà mặc không. Bà nội tuy đã hơn 60 nhưng trông bà còn trẻ và yêu đời lắm. Bà có nhóm hát thỉnh thoảng gặp nhau, các ông bà ấy họp lại mỗi người một món ăn đem tới. Hồi xưa nghe kể mọi người không biết nấu ăn ngon, nhưng nhờ đi chơi gặp nhau, chỉ cho nhau kinh nghiệm, cách nêm nếm cho ngon hơn mỗi ngày. Ngay cả việc quần áo mọi người cũng chỉ cách, nếu chật nới ra, rộng bóp lại và thêm những rua, kim tuyến hoặc thêm vào một loại vải khác… sao cho đẹp mắt, tự làm nhà, không bị tốn nhiều chi phí ra tiệm. Các ông chồng thật hài lòng vì được ăn ngon, no bụng, ngắm “vợ đẹp”, nên không còn than thở khi phải bị các bà “tra tấn” lỗ tai vào cuối tuần nữa.
(Xem: 5)
Sau hơn 53 năm chia sẻ thăng trầm, tôi mất người chồng hiền lành gần bốn năm nay. Thay vì tiếp tục ngồi ngụp lặn trong niềm đau xé tâm hồn, trí não sa trong cơn mù sương càng ngày càng mờ mịt lui dần trong mơ hồ quá khứ thì bỗng tôi nhớ lại cái ước mơ của tuổi thanh xuân. Đó là 7 "notes" nhạc trên 6 sợi dây đàn. (Sẵn thì phải kể dông dài luôn cho có đầu có đuôi và cũng nhắc cho mình đừng có quên những chi tiết và những cái tên, tên người tên địa điểm khi đầu óc mình còn nhớ rõ). Năm 14 tuổi. Trong nhà, người anh cô cậu có cây đàn "guitar", hàng xóm có anh kia 17 tuổi biết đàn vọng cổ 6 câu mùi hết xẩy, nghe ai cũng kêu tên là "anh Lộc". đón đường nhờ anh dạy cho tui đàn. Anh ừ liền. Bèn hẹn nhau lên cái gác nhà dì tui. Học thuộc, đàn được một câu đầu rồi nhưng sao tui cứ thấy cái đầu của dì tui thập thò lên gác ngó hai đứa rồi bỗng một hôm, Ba tui nói NGƯNG, hổng cho học nữa.
(Xem: 11)
Với những bận rộn, tất bật của đời sống thường nhật, có nhiều ngày trôi qua dường như không đọng lại chút gì trong tâm trí, nhưng chúng ta vẫn may mắn có thể có những thời khắc thật đáng nhớ. Những ngày qua tôi được cùng đồng hành với Justin, con trai tôi, khi Justin bắt đầu một chặng đường mới, nhận nhiệm sở với tư cách kỹ sư điện toán phục vụ Hải quân Hoa Kỳ. Trong suốt hàng chục năm, tôi đã nhiều lần đưa con đến trường, đón con sau giờ học, ngồi cạnh con trong những buổi khải đạo hay rong ruổi cùng con trong hàng trăm buổi cắm trại xa nhà do Hướng Đạo tổ chức. Cũng không biết bao nhiêu lần tôi quây quần cùng gia đình thưởng thức, ủng hộ con trong các buổi hòa nhạc hay trình diễn theo đội hình của đội kèn trong suốt 4 năm dài con theo học tại trường trung học Westminster High, hay cùng gia đình chung vui trong ngày con tốt nghiệp cử nhân ngành điện toán.
(Xem: 242)
VĂN HÓA có thể hiểu một cách đơn giản là những gì còn lại. Còn lại qua nhiều biến động, qua nhiều giai đoạn lịch sử, nhiều thế hệ khác nhau, bất kể đó là di sản Văn Hóa vật thể (Tangible Cultural Heritage) hay phi vật thể (Itangible Cultural Heritage). Trong suốt bốn nghìn năm lịch sử trong đó hơn một nghìn năm bị Tàu đô hộ và đồng hóa, người Việt Nam vẫn giữ được ngôn ngữ của mình, đó là cái còn lại quí báu nhất, thiêng liêng nhất. Tiếng Việt bao gồm tiếng nói và chữ viết là một thứ Văn Hóa đặc biệt của người Việt, đã có từ thuở người Việt xuất hiện trên hành tinh này và tồn tại cho đến bây giờ. Chữ Việt dùng để ghi tiếng Việt theo cách phát âm đã có từ thời Alexandre de Rhodes, theo mẫu tự La Tinh, đã trở thành chữ Quốc Ngữ từ mấy trăm năm, tồn tại đến ngày hôm nay và sẽ tồn tại lâu dài.
(Xem: 18)
Mùa hè năm nay, con trai tôi từ trường võ bị West Point về nhà nghỉ hè được hai tuần trước khi đi thực tập ở căn cứ quân sự Fort Hood tại thành phố Killeen, bang Texas. Trong lúc gia đình sum họp, con tôi có cho tôi xem một số hình ảnh về cuộc sống học tập của nó ở trường. Một bức ảnh đã khiến tôi dừng lại rất lâu sau khi con tôi cho biết đó là tượng đài “The Trail of The Fallen”. Con tôi đã chụp bức ảnh này trong một lần tập quân sự leo lên đỉnh núi Popolopen Torne. Có những bức ảnh không để lại ấn tượng nào cho tôi, một số bức ảnh gây cho tôi nhiều ngạc nhiên, thích thú và xúc động. Bức ảnh mà con tôi chụp tượng đài “The Trail of The Fallen” đã gợi lên trong tôi nhiều cảm xúc vì câu chuyện đằng sau bức ảnh này thật sự lay động lòng người.
(Xem: 14)
Bà Phương ngắm nghía những đòn bánh tét mới vớt ra trong nồi đầy thích thú. Nó nhỏ bằng nắm tay, trông xinh xắn làm sao. “Vậy là mình yên tâm phần nào rồi, vì hai hôm nay đã gói được bánh ít đen, bánh lọc, bánh tét và làm chả chay xong.” Bà vừa dọn dẹp các thứ vừa nhìn đồng hồ điểm 2 giờ sáng - mau lẹ ngủ thôi, mai còn dậy sớm đi thăm đám nữa. Tháng Tám của những ngày cuối hạ, cái nóng bứt rứt người. Bà ghé chở bà Minh cùng đến nhà quàn thắp nén hương đưa tiễn người đi. Sau đó bà muốn ghé chợ mua thức ăn. “Mai có đám giỗ mẹ chồng, hôm qua đã mua chợ gần nhà một xe rồi, vẫn chưa đủ.” Bà vừa nói với bạn vừa mở Google tìm chợ nào gần nhất vùng San Jose. Hai bà chọn chợ Đại Thành.
(Xem: 17)
Bolsa đây là tên một con đường ở Little Sài Gòn, nhưng từ lâu đã được xem như là tên của một khu vực, một nơi chốn mà chúng ta thường gọi là “thủ đô tỵ nạn”, tiêu biểu của Quận Cam-Orange County. Có lẽ vì đại lộ Bolsa huyết mạch nơi tập trung nhiều quán xá, cửa hiệu, văn phòng, trung tâm sinh hoạt của cộng đồng người Việt. Chỉ cần nói “Bolsa” là chúng ta, đều hiểu nói về khu vực của cộng đồng người Việt tự do ở Orange County. Tôi nghĩ rằng, Bolsa-Cali không chỉ là nơi đến ưa thích của tôi mà của rất nhiều người Việt hải ngoại, dù họ ở các tiểu bang khác trên đất Mỹ hoặc ở các nước khác ngoài nước Mỹ, nhưng ít nhiều ai cũng "dính líu" tới Bolsa: có người thân, người quen, từng là nơi họ đến hội họp trường cũ, đồng hương xưa… và nhiều lý do khác. Về Bolsa-Cali như là tìm về "quê hương".
(Xem: 18)
Bà Sue là người bạn Mỹ đầu tiên và cũng là gia đình người bạn Mỹ thân nhất với gia đình chúng tôi từ nhiều năm qua. Bà gặp con trai tôi ở trường trung học khi bà là người quản thủ thư viện ở đó. Bà hiểu những khó khăn của những đứa trẻ châu Á khi mới sang Mỹ và giúp đỡ con trai tôi rồi sau này cũng chính bà giúp tôi học tiếng Anh và chuẩn bị kỳ thi vào quốc tịch cho tôi. Bà nhờ chồng mình là ông Robert và 1 người hàng xóm thực tập phỏng vấn tôi để tôi có được trải nghiệm về chất giọng khác nhau của người Mỹ và bà cho tôi thực tập như một buổi phỏng vấn quốc tịch thật để tôi thêm tự tin trong ngày phỏng vấn thật. Bà muốn tôi phải tập nghe nhiều giọng nói, cách phát âm của nhiều người để không phải bối rối và phân tâm hay lo sợ. Nhờ vậy, lúc vào phỏng vấn quốc tịch, tôi đã vô cùng tự tin và đậu ngay lần đầu.
(Xem: 33)
Năm nay mùa An Cư Kiết Hạ ở chùa Quang Minh, thành phố Chicago được tổ chức từ ngày 09/06/2026 đến ngày 19/06/2026 tức là từ ngày 24 tháng tư đến ngày 5 tháng năm, Bính Ngọ. Tôi được thầy chủ trì mời tham dự sự kiện tâm linh quan trọng và nhiều ý nghĩa của Phật Giáo là một vinh dự quý báu kể từ ngày tôi định cư ở Mỹ đến giờ. An Cư Kiết Hạ là một thuật ngữ Phật Giáo có nghĩa là ở yên một chỗ (tiếng Phạn là Varsika, tiếng Anh là Retreat Season) trong ba tháng Hạ theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, mỗi năm đều có ba tháng an cư cho Tăng, Ni kể từ rằm tháng Tư đến rằm tháng Bảy. Tại sao lại là rằm tháng Tư? Vì ở Ấn Độ, Việt Nam, Trung Hoa và một số nước Đông Nam Á, tháng Tư là tháng bắt đầu mùa mưa và mưa rất nhiều. Vào tháng này cây cối bắt đầu chu kỳ đâm chồi, nẩy lộc, các loài côn trùng, bò sát cũng sinh sôi nẩy nở và bò ra đường rất nhiều. Các chư Tăng Ni cũng như dân chúng trong sinh hoạt hằng ngày đi đây đi đó khó tránh khỏi giẫm đạp lên chúng.
(Xem: 12)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.