Hôm nay,  

Nhớ Ba

19/06/202600:00:00(Xem: 430)

 

IMG_7391
Minh Thúy Thành Nội nhận giải Tác Giả-Tác Phẩm VVNM 2025.

 

Tác giả bắt đầu tham gia Viết Về Nước Mỹ từ tháng 11, 2018, với bài “Tình người hoa nở”. Cô tên thật là Nguyễn thị Minh Thúy, sinh năm 1955. Qua Mỹ năm 1985, hiện là cư dân thành phố Hayward thuộc Bắc Cali. Tác giả nhận giải Vinh danh Tác giả 2023 và mới đoạt giải Vinh danh Tác Giả-Tác Phẩm VVNM 2025. Hướng về ngày “Father’s Day”, sau đây là câu chuyện cảm động của tác giả về hình ảnh đáng quý của một người cha dành cả cuộc đời cho con cái.

***

Thời gian sau này, khi có thì giờ rảnh lên mạng, Linh thường theo dõi vị sư tên Thích Giác Tâm ở mái chùa Cẩm La thuộc ngôi làng xa xôi hẻo lánh. Nơi đây thầy nuôi 9, 10 em trai mồ côi, bé nhỏ nhất khoảng 1 tuổi, lớn nhất độ 12 tuổi. Hình ảnh sinh hoạt hằng ngày giữa thầy trò giống như tình cha con. Thầy nói “Muốn quay lại những thước phim các em lúc nhỏ, lớn lên sẽ có kỷ niệm về tuổi thơ."

Xem các em cô nhi chạy nhảy trong sân chùa, đùa giỡn bên thầy Giác Tâm. Bên người cha tuy vật chất còn thiếu thốn, nhưng tình thương người cha thật tràn đầy. Ngôi chùa sau trận bão giông đã sụp đổ hư hỏng, thầy làm đủ mọi việc: dầm mình nửa người dưới nước cày ruộng. Điều khiển các xe lớn đổ đất cầy xới. Cắt cỏ cho trâu ăn...v..v... Các em luôn bám đu theo thầy, nên khi hái sen thầy cũng để các em nhỏ ngồi trên đò, lội bùn vừa đẩy thầy vừa hái hoa sen, có khi cắt rau muống. Lúc thu hoạch được cây quả, các loại rau, thầy trò ngồi xếp từng bó chất đầy đôi gióng. Thầy gánh ra góc đường ngồi bán chung nhóm người tụ lại như chợ rau nhỏ, các em cũng theo ra ngồi bên cạnh.

Thầy đi đâu chưa về, các em chạy ra đầu cổng chùa đứng đợi, vừa thấy bóng thầy, các em mừng rỡ chạy ùa nhanh đến, em níu tay, em bắt cõng. Hoặc khi có đạo hữu đem tới trái cây, bánh kẹo, các em ngồi xếp bàn quanh thầy, chờ phát phần, vừa ăn vừa giành nhau ôm chặt thầy tìm hơi ấm tình thương. Có con vật chết, thầy gói lại trước khi chôn, thắp nhang khấn vái, các em ngồi quanh cũng chấp tay lạy xuống khi nghe thầy giảng dạy. Thầy phóng sinh cá cũng có vài lời pháp, các em ngồi im lặng như thấu hiểu.

Những hình ảnh đó truyền vào Linh một cảm giác thật ấm áp dễ chịu, đẹp mắt mang thông điệp nghĩa tình cha con “Cha với con như cơm với cá”. Càng gần ngày lễ Father‘s Day, Linh càng thấy buồn vô hạn. Hình ảnh Ba luôn khắc mãi trong tim. Linh nhớ Ba kinh khủng, nhớ quay quắt, ký ức mở ngõ đi về những ngày thật xưa, thật xa...

Mạ Linh sinh được 3 chị em: Linh, Bảo, và Tuấn. Ba là lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc binh chủng tác chiến, đi tù “cải tạo" hơn 6 năm. Thời gian này 3 chị em ở với ngoại. Sau ngoại mất, mấy chị em ở nhà trông nhau. Mẹ đi vắng suốt ngày lo buôn bán kiếm gạo. Lúc Ba trở về Linh đã 10 tuổi, Bảo 8 tuổi, và Tuấn 7 tuổi. Em Tuấn khi mạ sinh không có Ba.

Linh còn nhớ khi Ba ra tù về, O Ngân cho mượn tiền mua chiếc xe đạp cũ đi thồ. Những tối trời nóng Ba chở 3 chị em tới nhà O Ngân chơi ở vùng Cầu Kho. Có một hôm ham nô đùa chơi “đạp mạng trốn tìm“ với các con của O, Linh chạy vào núp sau góc tủ, nơi O và Ba đang ngồi nói chuyện. Linh chợt lắng nghe tiếng O nhắc tên má “cả thành phố Huế ni ai mà không biết Liễu làm nghề chi...” Linh nghe tiếng Ba lớn mạnh “đáng lẽ chị phải thương nó, nghèo quá xoay sở không ra tiền, phải đi bán máu lúc con bị bịnh nằm bệnh viện. Tệ nạn do đâu, trong khi người chồng ở tù. Hoàn cảnh tụi tui quá bi đát, về đây tui còn thương nó gấp bội. Chỉ có nó đi lấy chồng khác tui mới buồn thôi, buồn nhưng không oán trách trước thời thế “. Linh nín thở không hiểu chuyện gì, chỉ đoán lờ mờ O Ngân không thích mạ thì phải?!!

Thế rồi thêm cu Bi (Việt) chào đời. Mỗi ngày Ba đạp xe chạy quanh thành phố tìm khách. Mỗi sáng Ba thức dậy 4 giờ, Ba nói “Đứng ngã tư đón con buôn giờ này không bị ai giành giựt, khách cần đi sớm lên ga xe lửa”. Mạ cũng lục đục dậy theo chiên cơm Ba ăn một tô cho chắc bụng. Chờ sáng ra mạ nách cu Bi, cùng mấy chị em qua lò mè xửng của ông Ban, vừa thả Bi chơi vừa lột đậu phụng thuê.

Những tối mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, mạ con ngồi mở cửa sổ nhìn ra ngoài trời tối đen như mực, mạ khấn trời, khấn Phật. Nhà thuê quá cũ kỹ, mưa dột chảy nhiều góc, nên thùng sô, thau lớn nhỏ được đem ra hứng nước. Dù lúc đó Linh chỉ mới hơn 10 tuổi nhưng đã hiểu công lao khổ nhọc của người lớn, thấy thương Ba vô cùng. Ba về, người ướt nhẹp run rẩy, miệng vẫn cười nói “Có gió mưa mới dễ kiếm khách, vì xe thồ ít hơn." Nụ cười đó theo Linh suốt cả cuộc đời, dạy Linh biết rằng Ba có thể đội cả mưa gió, miễn các con được ấm no. Ba thay quần áo, Linh phụ mẹ dọn cơm gồm dĩa rau muống luộc và cái trứng gà. Trước đó mấy chị em ăn một cái dầm nước mắm chan cơm, mạ chỉ ăn rau, mạ nói “Ba các con đạp xe cần ăn một cái cho có sức”. Ba ra ngồi vào bàn ăn, chỉ lùa cơm với nước và rau, ba nói “Để cái trứng cho các con ăn thêm,“ dù mạ năn nỉ nhưng ba vẫn để nguyên đó.

 Cuộc sống cứ chống chèo cơ cực qua ngày cho đến lúc cu Bi được ngoài 3 tuổi thì hung tin đến với gia đình. Mạ bị ung thư giai đoạn cuối, bác sĩ lắc đầu khuyên về nhà sau khi nằm thời gian trong bệnh viện. Những cơn đau vật vã khiến mạ cầu xin cho đi sớm, vì tình cảnh gia đình không tiền không bạc, nợ nần O Ngân và bạn bè quá nhiều. Hai tháng sau ước muốn của mạ cũng được toại nguyện. Một đêm mạ sốt li bì, được chở qua bệnh viện nằm vài tiếng thì tắt thở. Còn cảnh nào buồn hơn trên thế gian này nữa, cu Bi khóc đòi mạ đến khàn tiếng. Hàng xóm tốt bụng dẫn qua nhà họ cho ăn quà bánh để em tạm quên mạ.

Huế là nơi chôn dau cắt rốn của ba mạ. Hai người yêu nhau từ thời trung học, lên đại học. Biết bao kỷ niệm lưu dấu chân ba mạ trên đồi Thiên An, chùa Linh Mụ, hay trên đường Vỹ Dạ về ăn chè Cồn, nơi thơ mộng nhất thời đó ở Huế. Nhưng giờ mạ mất đi, Ba không còn tha thiết với Huế nữa. Thỉnh thoảng phải nghe tiếng chì tiếng bấc chung quanh, làm Ba rất buồn bực. Nhân có bác Tôn vào Bạc Liêu sinh sống trước, liên lạc thúc giục Ba vào Nam dễ thở hơn.


Ra đi vào đêm khuya với ít đồ đạc. Ba không được văn phòng Công an địa phương cấp giấy đi đường. Cha con lén lút lên ga chờ “tàu Chợ” đi chợ đen không cần giấy tờ. Miền Tây dễ sống, bác Tôn hướng dẫn lập chòi tranh ở khu xa thành phố, xa cầu Quay. Nơi này có khoảng mười mấy ngôi nhà tranh, nhà tôn toàn người Huế bỏ xứ vào đây sinh sống. Hàng xóm thấy cu Bi còn nhỏ, hoàn cảnh cha con côi cút, nên giúp đỡ rất nhiều vật dụng.

Ban đầu Ba ra chợ Nhà Lồng xin rửa chén, dọn dẹp cho các quán ăn, ai kêu gì làm đó. Bác Tôn giới thiệu Ba làm hộ khẩu mới. Ba bắt chị em Linh đi học, riêng cu Bi còn nhỏ được mệ Năm cạnh nhà thương, dẫn qua chơi chung với cháu mệ và cho ăn uống chiều mới trao lại. Về miền Tây rất thoải mái, người dân rộng rãi cởi mở dễ tính. Thức ăn giá cả rẻ, nhà nghèo cỡ cha con Linh vẫn ăn được tôm, cá lóc dễ dàng.

Sau này trong khu tập trung ăn uống, Ba làm cho ông chủ người Tàu, nhiều lúc theo về nhà chủ sửa máy móc hoặc xe cộ, ống nước. Lâu ngày họ hiểu hoàn cảnh, rất thương Ba. Mỗi chiều về Ba được bà chủ cho thức ăn bán còn trong ngày thoải mái, nên nhà mệ Năm cũng được hưởng ké. Những tối trời nóng bức, khu vực chỉ dùng đèn dầu. Ba ngồi kiểm soát bài vở các con hoc. Ba cùng ngồi để 3 chị em cố gắng học thuộc bài. Ba lôi những áo quần của con ngồi mạng lại những chỗ sắp rách, hoặc ôm cu Bi xoa lưng dỗ em ngủ.

Chuyện bất ngờ đến! Ông chủ quán cơm người Tàu rất mến Ba, một hôm ông hẹn riêng Ba nói chuyện vượt biên, muốn cho Ba đi theo với điều kiện trả sau khi đến bến bờ. Nhờ ông bà tổ tiên phù hộ, chuyến đi đó biển êm gió lặng sau 5 ngày, không gặp nguy nan trên biển. Tàu có gần 100 người đều an toàn đến đảo Pulau Bidong, sau 2 tháng chuyển trại qua Sungai Besi làm thủ tục giấy tờ, chuyển tiếp Phi Luật Tân, cuối cùng cha con qua Mỹ cuối năm 1985.

Gia đình ông chủ quán cơm đi Mỹ theo diện con bảo lãnh. Cha con Linh được nhà thờ Tin Lành bảo trợ qua tiểu bang Ohio một năm, nhưng trời mùa đông tuyết đóng băng, em út và Ba bị suyễn khó thở. Ông quán cơm (chủ tàu) thúc giục về Bắc Cali, nơi có nắng ấm đỡ hơn. Về đây các con ông chủ hướng dẫn, giúp thuê căn apartment, chở làm giấy tờ thủ tục. Chị em Linh đi học bằng xe bus, cu Bi có xe nhà trường đến rước.

Nhờ lúc ở Ohio được người trong nhà thờ tập lái xe có bằng sẵn, nên về Cali Ba mua chiếc xe cũ nửa khuya đi bỏ báo. Ban ngày nấu nướng cho các con bới xách, nhận hàng làm ở nhà và chăm giữ cu Bi ngoài giờ học. Lúc này em đã lên 7 tuổi. Tối về gia đình xúm nhau bỏ bông vào túi vải thơm lãnh gia công. Ba gom góp tiền lợi tức cả nhà đầu tiên trả góp ông chủ tàu, tính tương đương 6 cây vàng, chỉ vài tháng đã xong nợ. Sau đó bao nhiêu nợ nần, ân huệ bên Việt Nam Ba lần lượt gởi về hậu hỷ các con nợ, bà con với niềm vui khôn tả.

Ba nói: “Nhờ nước Mỹ mà mấy cha con mình “hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai” mới kiếm được tiền trả nợ. Suốt đời Ba không quên ơn từ Việt Nam qua đến đất nước Hoa Kỳ này, nhất là cái ơn lớn của ông chủ quán cơm, các con phải gắng học để đền ơn đất nước đã cưu mang mình”

Năm sau nhiều bạn chỉ dẫn Ba được nhận chương trình housing chính phủ trợ cấp một căn nhà 3 phòng ngủ và food stamps hàng tháng. Ba tìm được hàng xóm giữ dùm cu Bi vài tiếng, vì được Employment Agency (cơ quan tìm việc), giới thiệu công việc assembly trong hãng điện tử. Tuy nhiên sau khi được chính phủ trả 2/3, phần còn lại Ba trả tuỳ theo mức thu nhập mỗi tháng. Nếu tháng nào Ba làm overtime thì mức tiền nhà trả cao hơn, ngược lại tháng có vài ngày nghỉ thì trả giảm xuống.

Chị em Linh chăm chỉ học hành, mùa hè xin làm McDonald, hoặc work study. Ba dành việc đầu bếp, mỗi tối lo cơm nước bới cho các con. Khi các con học khuya, Ba cũng thức khuya theo. Ba nấu cháo hoặc cắt trái cây, hoặc xay sinh tố đem vào tận phòng mỗi đứa, có khi ép uống ly sữa đầy. Đôi lần Linh nghe các bạn Ba nhắc “tìm vợ đi chứ, không lý anh ở vậy mãi”, rồi họ xúi Ba về Việt Nam (VN) tha hồ chọn lựa, còn kiếm được tiền nữa là. Ba lắc đầu “không thích kiểu đó, có các con bên cạnh là nguồn an ủi lớn cũng đủ rồi.”

Thương nhất giai đoạn các em được trường xa nhận, mỗi khi về nhà Ba bồi dưỡng đủ món, nấu các món khô cho con đem đi, dặn dò đủ thứ với vẻ lo âu. Chỉ có Linh chọn học gần cho Ba yên tâm và bớt buồn. Ba trấn an các con “Công việc bận rộn, cuối tuần lên chùa làm công quả nghe kinh kệ, nên không có thì giờ buồn đâu, các con cố gắng học cho xong.” Lần lượt các con ra trường: kỹ sư, dược sĩ, y tá. Ngày dự lễ mỗi đứa, mắt Ba đỏ hoe nhắc đến mạ “Phải chi giờ này còn mạ các con...”

Rồi thì con cái có sự nghiệp ổn định, lập đình đứa ở xa, đứa ở gần, Ba sống chung với gia đình Linh. Tuy xa mà gần Ba, các con gởi không thiếu thứ gì từ thuốc bổ, thức ăn đến tận nhà, cho tiền Ba gởi bà con, làm mồ mả, đóng góp nhà thờ dòng họ bên Việt Nam. Mùa lễ Tạ Ơn, Noel con cháu về tụ họp quây quần bên Ba. 

Năm ngoái còn được ăn “Lễ Cha” sum họp. Tháng Tám sau đó, Ba đã rời bỏ thế gian vì bị tai biến mạch máu não bất ngờ. Sáng Chủ Nhật hôm ấy, chưa thấy Ba dậy ăn sáng dù đã 9 giờ, Linh mở cửa vào phòng thức Ba dậy, nhưng Ba đã ra đi với tuổi thọ 80. Ba đi nhẹ nhàng như cách Ba sống cả đời: không một lời than, chỉ sợ các con lo. Ba nằm yên bình với giấc ngủ nghìn thu.

 Một đời Ba gánh hết mưa nắng để đổi lấy bình yên cho các con. Father's Day năm nay, con chỉ biết dâng bình hoa trắng, thắp một nén hương lên bàn thờ Ba. Khói hương bay, xin gửi lên trời cao một lời: “Ba ơi, con nhớ Ba vô cùng... và con nguyện sống tử tế, như cách Ba đã sống cả một đời vì chúng con.”
 
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Lễ Father’s Day 2026
 

Chiều hôm qua, sau khi ngồi làm việc với computer mấy tiếng đồng hồ liền, tôi đứng lên đi bộ ra biển để thư giãn một chút. Đây là thói quen mà mỗi ngày tôi tự thưởng cho mình, ít nhất là một tiếng đồng hồ thong dong đi bộ ra biển để hít thở bầu không khí trong lành. Chiều Thứ Sáu nên vắng người đi bộ, chỉ lác đác vài chiếc xe đạp vượt qua tôi cùng những tiếng chuông “kính coong” nhẹ nhàng. Con đường dọc bờ biển có nhiều loại cỏ cây cao thấp um tùm. Bốn mùa Xuân Hạ Thu Đông đều có đủ loài hoa dại khoe sắc xinh tươi. Nhiều khóm hoa vàng giống như hoa mai quấn quýt bên những lùm hoa màu hồng li ti, điểm xuyết vài cụm liễu xanh rờn phất phơ quyến rủ, cộng thêm những chòm cây cao dày đặc trái là trái, chùm chùm màu đỏ thắm, lớp lớp màu xanh đen. Tất cả hòa quyện dưới bầu trời trong vắt, giữa cái nắng chiều vàng nhạt, và gió cũng bảng lảng vờn quanh những chùm mây bạc lửng lơ... Một khung cảnh tĩnh lặng và mỹ lệ chẳng khác nào chốn thiên đàng.
(Xem: 11)
Có những con đường mình muốn đi từ thuở còn trẻ, nhưng cứ hẹn lần hẹn lượt rồi mãi đến khi tóc đã bạc mới có dịp lên đường. Từ highway 49 qua các các thị trấn của thời đào vàng đối với tôi là một con đường như vậy. Tôi đã sống ở California nhiều năm, đã từng nghe đến Sutter’s Mill, đến cơn sốt vàng năm 1849, đến những đoàn người từ khắp nơi trên thế giới đổ về chân núi Sierra Nevada với cái cuốc, cái xẻng và một giấc mơ đổi đời. Những cái tên Coloma, Sutter Creek, Angels Camp, Murphys, Columbia, Jamestown tôi cũng đã đôi lần nhìn thấy trên bản đồ. Chúng không xa San Jose bao nhiêu, vậy mà chưa bao giờ tôi nghĩ phải tìm đến. Có lẽ ngày còn trẻ, với những bận rộn của đời thường, với những đam mê cháy bỏng, người ta thường thích nhìn phía trước, đi về những thành phố xa hoa tráng lệ hơn là quay lại tìm những miền đất của một thời đã qua, xưa cũ.
(Xem: 9)
Lúc còn ở quê nhà, thường xuyên đọc trên báo, thấy nhan nhãn những tin cảnh báo, nhiều vụ...”đào lửa” (lừa đảo) qua tin nhắn, điện thoại di động mà phần lớn nạn nhân là người tuổi trẻ hoặc cao niên. Bởi những yếu tố tâm lý: Tuổi trẻ nông nổi, thiều kinh nghiệm, dễ bị dẫn dắt và lừa gạt! Còn người cao tuổi, việc phán xét thường chậm chạp, thích nghe lời dịu dàng, từ tốn và dễ tin người? Điều mà bọn lừa đảo có “thừa kinh nghiệm” khai thác tâm lý một cách bài bản, lại có đông đảo đồng bọn phụ họa, tạo nên một “kịch bản” y như thật. Bọn lừa đảo có thể là người ở ngay trong nước, hoặc ở trong các tổ chức lừa đảo xuyên quốc gia, có “trụ sở” ở những vùng biên giới, đông nhất là Myanma, Campuchia v.v...
(Xem: 11)
Tháng Tám, Montreal còn hầm nóng, không một cơn gió nhẹ nào lay chuyển những cành lá, tuy vậy du khách của mùa hè từ khắp nơi trên thế giới đông đúc cả phố phường, trên tay ai cũng có cây quạt nhỏ bằng giấy đủ màu; Huân, em trai tôi, cùng vợ và hai con từ California, Mỹ đến thăm gia đình tôi một tuần lễ bằng xe hơi, nhân tiện chúng tôi cùng đi chung với nhau đến Calgary, ngắm cảnh đẹp, cùng nhau sinh hoạt trong một “Airbnb” để sống lại những ngày thơ dại còn cha mẹ bên cạnh, lần này có thêm tiếng cười của các con cháu.
(Xem: 20)
Là một thầy giáo giúp trong chương trình dạy tiếng Việt, huấn luyện võ thuật cho võ đường Tenshinkai, cũng như khải đạo cho phong trào Hướng Đạo Hoa Kỳ, với cơ hội thường xuyên hướng dẫn cho các em thiếu nhi 7, 8 tuổi đến các thiếu niên từ 14 đến 16 tuổi, tôi luôn quan tâm đặc biệt đến vấn nạn hiếp đáp (bullying) trong nhà trường. Trong nhiều năm, thật sự là một điều đáng buồn khi tôi đã phải chứng kiến không ít trường hợp nhiều em trở nên sợ hãi, mất tự tin, thậm chí thay đổi hoàn toàn tính cách chỉ vì bị bạn bè bắt nạt. Trong vai trò phụ huynh, tôi cũng từng phải đồng hành cùng con mình khi cháu là nạn nhân của tình trạng hiếp đáp trong những năm học ở bậc phổ thông trung học đệ nhất cấp.
(Xem: 27)
Từ hồi bé tôi đã mê máy bay và mơ ước khi lớn lên sẽ làm phi công. Khi qua Mỹ năm 1991, do chưa có internet, tôi hay vào thư viện mượn các cuốn sách về máy bay để đọc. Hè năm 1997, qua radio, tôi biết sẽ có một buổi biểu diễn máy bay (airshow) tại căn cứ Thủy quân lục chiến El Toro gần thành phố Irvine, cách Little Sài gòn khoảng nửa tiếng lái xe. Thời đó internet còn thô sơ, chưa có bán vé, nên tôi phải vào tiệm Nordstrom để mua vé qua chi nhánh của TicketMaster. Tôi phải chi $25 để mua vé hạng trung bình để đi xem airshow. Từ nhà ba má tôi ở Rosemead, tôi tốn gần một tiếng lái xe xuống tới căn cứ El Toro. Khi xuống khỏi freeway, tôi lại phải tốn thêm gần một tiếng nữa để vào tới bãi đậu xe của căn cứ. Lý do là hôm đó cả chục ngàn người đều đi xem airshow mà đường vào căn cứ thì chỉ có một làn xe. Khi tôi tới chỗ ngồi trên khán đài thì airshow đã diễn ra được hơn một tiếng đồng hồ...
(Xem: 23)
Ở cái “cảnh giới” tạm gọi là thong dong của tuổi xế chiều, bất cứ sinh hoạt nào giúp cả nhà thoát khỏi cái “vấn nạn” mỗi người ngồi một góc ôm chiếc iPad hay điện thoại đều đáng được hưởng ứng hết mình. Thật ra, dẫu có bận rộn đến đâu, chỉ cần được tụi nhỏ rủ rê cùng chơi, cùng làm một việc gì đó, hay đơn giản chỉ là ngồi quây quần bên nhau “tâm sự loài cua biển”, thì cha mẹ chúng cũng đã thấy sướng rên rồi. Thế là mỗi dịp các con rủ xem Rap Việt, cả nhà lại xúm xít: tụi nhỏ lo sắp đặt máy móc, tôi cắt gọt bánh trái, còn nhà tôi chuẩn bị nước uống để vừa xem vừa nhâm nhi cho câu chuyện rap thêm giòn.
(Xem: 30)
Nếu có ai đó chợt bảo: "Tao nhớ mấy trái mát mát ăn hồi nhỏ quá, nó chua chua ngọt ngọt, ăn vô một miếng là mê mẩn tâm thần". Người biết thì gật gù, kẻ không biết thì ngơ ngác chẳng hiểu "mát mát" là gì. Nhưng tôi cam đoan, cứ hỏi “dân Đà Lạt” là họ bật công tắc nhận diện được ngay. Tuần trước ngồi tán dóc với mấy người bạn, nói lan man về trái mát mát, có người bảo: "Chanh dây mà kêu là mát mát nghe kỳ cục hà!". Cô em gốc Đà Lạt ngồi kế bên lên tiếng liền: "Ừ thì có kỳ cục đó, nhưng dân Đà Lạt tụi em gọi vậy nó mới thân thương, nghe một cái là biết ngay dân Đà Lạt!". Tôi thì quen hơi bén tiếng với trái mát mát này từ hồi còn bé tí. Hồi đó, bố tôi trồng một cây sau vườn, sát bên cây ổi. Trời ban cho cái giống này cái tính "tự túc, tự cường", nó mọc um tùm, bò hiên ngang rồi ôm vòng lấy cả thân cây ổi tội nghiệp. Dây leo đan xen dày đặc như một tấm đệm khổng lồ phủ kín cây. Anh chị em tôi cùng lũ con nít trong xóm chơi trốn tìm cứ nhè cái bụi "mát mát ôm ổi" đó mà chui vào.
(Xem: 20)
Văn học, Nghệ thuật là hai bộ môn khoa học xã hội có phạm vi và đối tượng khác nhau nhưng thường đi chung với nhau, được người đời gá nghĩa, ghép chung làm một, từ đó phát sinh cụm từ Văn học-Nghệ thuật. Trước khi cầm máy tôi cầm bút, viết văn, làm thơ và nhận ra một điều là cái đẹp trong văn học, tư tưởng cũng có họ hàng với cái đẹp trong nghệ thuật, vì cùng một mục đích là Chân, Thiện, Mỹ. Thế là ngoài giờ viết lách thì tôi xách máy đi chụp mọi thể loại, đề tài. Có khi đi một mình, có khi đi cả nhóm bạn. Vào google tôi nghiên cứu những vấn đề căn bản của photoshop để có thể chỉnh đường nét, màu sắc và ánh sáng cho tấm hình tôi chụp được hoàn chỉnh hơn, bắt mắt hơn. Viết văn và chụp hình có cùng mục đích nhưng môi trường và cách thể hiện thì khác nhau. Để có được tấm hình bạn phải có đồ chơi, là chiếc máy ảnh và phải đi ra ngoài, để có một bài viết bạn chỉ cần ngồi nhà, trước màn hình và thao tác trên bàn phím mà không cần phải đi đâu xa.
(Xem: 37)
Nhân dịp trở lại Học viện quân sự West Point (hay còn gọi là trường võ bị West Point) để tham dự lễ trao nhẫn của các sinh viên khóa 2027, tôi tranh thủ ghé thăm Bảo tàng West Point nằm kế bên Trung tâm đón tiếp du khách Frederic V. Malek (The Frederic V. Malek West Point Visitor Center). Giới thiệu sơ lược về Bảo tàng West Point. Học viện quân sự West Point là một trong những học viện quân sự lâu đời nhất thế giới, đào tạo cả nam lẫn nữ. West Point với chương trình học kéo dài 4 năm này cũng chính là nơi tọa lạc của Bảo tàng quân sự lâu đời nhất của nước Mỹ- Bảo tàng West Point. Bảo tàng này được cho là bảo tàng sở hữu bộ sưu tập đa dạng với quy mô lớn và độc đáo nhất về các hiện vật quân sự tại Tây Bán Cầu.
(Xem: 246)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.