Hôm nay,  

Nhớ Ba

19/06/202600:00:00(Xem: 359)

 

IMG_7391
Minh Thúy Thành Nội nhận giải Tác Giả-Tác Phẩm VVNM 2025.

 

Tác giả bắt đầu tham gia Viết Về Nước Mỹ từ tháng 11, 2018, với bài “Tình người hoa nở”. Cô tên thật là Nguyễn thị Minh Thúy, sinh năm 1955. Qua Mỹ năm 1985, hiện là cư dân thành phố Hayward thuộc Bắc Cali. Tác giả nhận giải Vinh danh Tác giả 2023 và mới đoạt giải Vinh danh Tác Giả-Tác Phẩm VVNM 2025. Hướng về ngày “Father’s Day”, sau đây là câu chuyện cảm động của tác giả về hình ảnh đáng quý của một người cha dành cả cuộc đời cho con cái.

***

Thời gian sau này, khi có thì giờ rảnh lên mạng, Linh thường theo dõi vị sư tên Thích Giác Tâm ở mái chùa Cẩm La thuộc ngôi làng xa xôi hẻo lánh. Nơi đây thầy nuôi 9, 10 em trai mồ côi, bé nhỏ nhất khoảng 1 tuổi, lớn nhất độ 12 tuổi. Hình ảnh sinh hoạt hằng ngày giữa thầy trò giống như tình cha con. Thầy nói “Muốn quay lại những thước phim các em lúc nhỏ, lớn lên sẽ có kỷ niệm về tuổi thơ."

Xem các em cô nhi chạy nhảy trong sân chùa, đùa giỡn bên thầy Giác Tâm. Bên người cha tuy vật chất còn thiếu thốn, nhưng tình thương người cha thật tràn đầy. Ngôi chùa sau trận bão giông đã sụp đổ hư hỏng, thầy làm đủ mọi việc: dầm mình nửa người dưới nước cày ruộng. Điều khiển các xe lớn đổ đất cầy xới. Cắt cỏ cho trâu ăn...v..v... Các em luôn bám đu theo thầy, nên khi hái sen thầy cũng để các em nhỏ ngồi trên đò, lội bùn vừa đẩy thầy vừa hái hoa sen, có khi cắt rau muống. Lúc thu hoạch được cây quả, các loại rau, thầy trò ngồi xếp từng bó chất đầy đôi gióng. Thầy gánh ra góc đường ngồi bán chung nhóm người tụ lại như chợ rau nhỏ, các em cũng theo ra ngồi bên cạnh.

Thầy đi đâu chưa về, các em chạy ra đầu cổng chùa đứng đợi, vừa thấy bóng thầy, các em mừng rỡ chạy ùa nhanh đến, em níu tay, em bắt cõng. Hoặc khi có đạo hữu đem tới trái cây, bánh kẹo, các em ngồi xếp bàn quanh thầy, chờ phát phần, vừa ăn vừa giành nhau ôm chặt thầy tìm hơi ấm tình thương. Có con vật chết, thầy gói lại trước khi chôn, thắp nhang khấn vái, các em ngồi quanh cũng chấp tay lạy xuống khi nghe thầy giảng dạy. Thầy phóng sinh cá cũng có vài lời pháp, các em ngồi im lặng như thấu hiểu.

Những hình ảnh đó truyền vào Linh một cảm giác thật ấm áp dễ chịu, đẹp mắt mang thông điệp nghĩa tình cha con “Cha với con như cơm với cá”. Càng gần ngày lễ Father‘s Day, Linh càng thấy buồn vô hạn. Hình ảnh Ba luôn khắc mãi trong tim. Linh nhớ Ba kinh khủng, nhớ quay quắt, ký ức mở ngõ đi về những ngày thật xưa, thật xa...

Mạ Linh sinh được 3 chị em: Linh, Bảo, và Tuấn. Ba là lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc binh chủng tác chiến, đi tù “cải tạo" hơn 6 năm. Thời gian này 3 chị em ở với ngoại. Sau ngoại mất, mấy chị em ở nhà trông nhau. Mẹ đi vắng suốt ngày lo buôn bán kiếm gạo. Lúc Ba trở về Linh đã 10 tuổi, Bảo 8 tuổi, và Tuấn 7 tuổi. Em Tuấn khi mạ sinh không có Ba.

Linh còn nhớ khi Ba ra tù về, O Ngân cho mượn tiền mua chiếc xe đạp cũ đi thồ. Những tối trời nóng Ba chở 3 chị em tới nhà O Ngân chơi ở vùng Cầu Kho. Có một hôm ham nô đùa chơi “đạp mạng trốn tìm“ với các con của O, Linh chạy vào núp sau góc tủ, nơi O và Ba đang ngồi nói chuyện. Linh chợt lắng nghe tiếng O nhắc tên má “cả thành phố Huế ni ai mà không biết Liễu làm nghề chi...” Linh nghe tiếng Ba lớn mạnh “đáng lẽ chị phải thương nó, nghèo quá xoay sở không ra tiền, phải đi bán máu lúc con bị bịnh nằm bệnh viện. Tệ nạn do đâu, trong khi người chồng ở tù. Hoàn cảnh tụi tui quá bi đát, về đây tui còn thương nó gấp bội. Chỉ có nó đi lấy chồng khác tui mới buồn thôi, buồn nhưng không oán trách trước thời thế “. Linh nín thở không hiểu chuyện gì, chỉ đoán lờ mờ O Ngân không thích mạ thì phải?!!

Thế rồi thêm cu Bi (Việt) chào đời. Mỗi ngày Ba đạp xe chạy quanh thành phố tìm khách. Mỗi sáng Ba thức dậy 4 giờ, Ba nói “Đứng ngã tư đón con buôn giờ này không bị ai giành giựt, khách cần đi sớm lên ga xe lửa”. Mạ cũng lục đục dậy theo chiên cơm Ba ăn một tô cho chắc bụng. Chờ sáng ra mạ nách cu Bi, cùng mấy chị em qua lò mè xửng của ông Ban, vừa thả Bi chơi vừa lột đậu phụng thuê.

Những tối mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, mạ con ngồi mở cửa sổ nhìn ra ngoài trời tối đen như mực, mạ khấn trời, khấn Phật. Nhà thuê quá cũ kỹ, mưa dột chảy nhiều góc, nên thùng sô, thau lớn nhỏ được đem ra hứng nước. Dù lúc đó Linh chỉ mới hơn 10 tuổi nhưng đã hiểu công lao khổ nhọc của người lớn, thấy thương Ba vô cùng. Ba về, người ướt nhẹp run rẩy, miệng vẫn cười nói “Có gió mưa mới dễ kiếm khách, vì xe thồ ít hơn." Nụ cười đó theo Linh suốt cả cuộc đời, dạy Linh biết rằng Ba có thể đội cả mưa gió, miễn các con được ấm no. Ba thay quần áo, Linh phụ mẹ dọn cơm gồm dĩa rau muống luộc và cái trứng gà. Trước đó mấy chị em ăn một cái dầm nước mắm chan cơm, mạ chỉ ăn rau, mạ nói “Ba các con đạp xe cần ăn một cái cho có sức”. Ba ra ngồi vào bàn ăn, chỉ lùa cơm với nước và rau, ba nói “Để cái trứng cho các con ăn thêm,“ dù mạ năn nỉ nhưng ba vẫn để nguyên đó.

 Cuộc sống cứ chống chèo cơ cực qua ngày cho đến lúc cu Bi được ngoài 3 tuổi thì hung tin đến với gia đình. Mạ bị ung thư giai đoạn cuối, bác sĩ lắc đầu khuyên về nhà sau khi nằm thời gian trong bệnh viện. Những cơn đau vật vã khiến mạ cầu xin cho đi sớm, vì tình cảnh gia đình không tiền không bạc, nợ nần O Ngân và bạn bè quá nhiều. Hai tháng sau ước muốn của mạ cũng được toại nguyện. Một đêm mạ sốt li bì, được chở qua bệnh viện nằm vài tiếng thì tắt thở. Còn cảnh nào buồn hơn trên thế gian này nữa, cu Bi khóc đòi mạ đến khàn tiếng. Hàng xóm tốt bụng dẫn qua nhà họ cho ăn quà bánh để em tạm quên mạ.

Huế là nơi chôn dau cắt rốn của ba mạ. Hai người yêu nhau từ thời trung học, lên đại học. Biết bao kỷ niệm lưu dấu chân ba mạ trên đồi Thiên An, chùa Linh Mụ, hay trên đường Vỹ Dạ về ăn chè Cồn, nơi thơ mộng nhất thời đó ở Huế. Nhưng giờ mạ mất đi, Ba không còn tha thiết với Huế nữa. Thỉnh thoảng phải nghe tiếng chì tiếng bấc chung quanh, làm Ba rất buồn bực. Nhân có bác Tôn vào Bạc Liêu sinh sống trước, liên lạc thúc giục Ba vào Nam dễ thở hơn.


Ra đi vào đêm khuya với ít đồ đạc. Ba không được văn phòng Công an địa phương cấp giấy đi đường. Cha con lén lút lên ga chờ “tàu Chợ” đi chợ đen không cần giấy tờ. Miền Tây dễ sống, bác Tôn hướng dẫn lập chòi tranh ở khu xa thành phố, xa cầu Quay. Nơi này có khoảng mười mấy ngôi nhà tranh, nhà tôn toàn người Huế bỏ xứ vào đây sinh sống. Hàng xóm thấy cu Bi còn nhỏ, hoàn cảnh cha con côi cút, nên giúp đỡ rất nhiều vật dụng.

Ban đầu Ba ra chợ Nhà Lồng xin rửa chén, dọn dẹp cho các quán ăn, ai kêu gì làm đó. Bác Tôn giới thiệu Ba làm hộ khẩu mới. Ba bắt chị em Linh đi học, riêng cu Bi còn nhỏ được mệ Năm cạnh nhà thương, dẫn qua chơi chung với cháu mệ và cho ăn uống chiều mới trao lại. Về miền Tây rất thoải mái, người dân rộng rãi cởi mở dễ tính. Thức ăn giá cả rẻ, nhà nghèo cỡ cha con Linh vẫn ăn được tôm, cá lóc dễ dàng.

Sau này trong khu tập trung ăn uống, Ba làm cho ông chủ người Tàu, nhiều lúc theo về nhà chủ sửa máy móc hoặc xe cộ, ống nước. Lâu ngày họ hiểu hoàn cảnh, rất thương Ba. Mỗi chiều về Ba được bà chủ cho thức ăn bán còn trong ngày thoải mái, nên nhà mệ Năm cũng được hưởng ké. Những tối trời nóng bức, khu vực chỉ dùng đèn dầu. Ba ngồi kiểm soát bài vở các con hoc. Ba cùng ngồi để 3 chị em cố gắng học thuộc bài. Ba lôi những áo quần của con ngồi mạng lại những chỗ sắp rách, hoặc ôm cu Bi xoa lưng dỗ em ngủ.

Chuyện bất ngờ đến! Ông chủ quán cơm người Tàu rất mến Ba, một hôm ông hẹn riêng Ba nói chuyện vượt biên, muốn cho Ba đi theo với điều kiện trả sau khi đến bến bờ. Nhờ ông bà tổ tiên phù hộ, chuyến đi đó biển êm gió lặng sau 5 ngày, không gặp nguy nan trên biển. Tàu có gần 100 người đều an toàn đến đảo Pulau Bidong, sau 2 tháng chuyển trại qua Sungai Besi làm thủ tục giấy tờ, chuyển tiếp Phi Luật Tân, cuối cùng cha con qua Mỹ cuối năm 1985.

Gia đình ông chủ quán cơm đi Mỹ theo diện con bảo lãnh. Cha con Linh được nhà thờ Tin Lành bảo trợ qua tiểu bang Ohio một năm, nhưng trời mùa đông tuyết đóng băng, em út và Ba bị suyễn khó thở. Ông quán cơm (chủ tàu) thúc giục về Bắc Cali, nơi có nắng ấm đỡ hơn. Về đây các con ông chủ hướng dẫn, giúp thuê căn apartment, chở làm giấy tờ thủ tục. Chị em Linh đi học bằng xe bus, cu Bi có xe nhà trường đến rước.

Nhờ lúc ở Ohio được người trong nhà thờ tập lái xe có bằng sẵn, nên về Cali Ba mua chiếc xe cũ nửa khuya đi bỏ báo. Ban ngày nấu nướng cho các con bới xách, nhận hàng làm ở nhà và chăm giữ cu Bi ngoài giờ học. Lúc này em đã lên 7 tuổi. Tối về gia đình xúm nhau bỏ bông vào túi vải thơm lãnh gia công. Ba gom góp tiền lợi tức cả nhà đầu tiên trả góp ông chủ tàu, tính tương đương 6 cây vàng, chỉ vài tháng đã xong nợ. Sau đó bao nhiêu nợ nần, ân huệ bên Việt Nam Ba lần lượt gởi về hậu hỷ các con nợ, bà con với niềm vui khôn tả.

Ba nói: “Nhờ nước Mỹ mà mấy cha con mình “hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai” mới kiếm được tiền trả nợ. Suốt đời Ba không quên ơn từ Việt Nam qua đến đất nước Hoa Kỳ này, nhất là cái ơn lớn của ông chủ quán cơm, các con phải gắng học để đền ơn đất nước đã cưu mang mình”

Năm sau nhiều bạn chỉ dẫn Ba được nhận chương trình housing chính phủ trợ cấp một căn nhà 3 phòng ngủ và food stamps hàng tháng. Ba tìm được hàng xóm giữ dùm cu Bi vài tiếng, vì được Employment Agency (cơ quan tìm việc), giới thiệu công việc assembly trong hãng điện tử. Tuy nhiên sau khi được chính phủ trả 2/3, phần còn lại Ba trả tuỳ theo mức thu nhập mỗi tháng. Nếu tháng nào Ba làm overtime thì mức tiền nhà trả cao hơn, ngược lại tháng có vài ngày nghỉ thì trả giảm xuống.

Chị em Linh chăm chỉ học hành, mùa hè xin làm McDonald, hoặc work study. Ba dành việc đầu bếp, mỗi tối lo cơm nước bới cho các con. Khi các con học khuya, Ba cũng thức khuya theo. Ba nấu cháo hoặc cắt trái cây, hoặc xay sinh tố đem vào tận phòng mỗi đứa, có khi ép uống ly sữa đầy. Đôi lần Linh nghe các bạn Ba nhắc “tìm vợ đi chứ, không lý anh ở vậy mãi”, rồi họ xúi Ba về Việt Nam (VN) tha hồ chọn lựa, còn kiếm được tiền nữa là. Ba lắc đầu “không thích kiểu đó, có các con bên cạnh là nguồn an ủi lớn cũng đủ rồi.”

Thương nhất giai đoạn các em được trường xa nhận, mỗi khi về nhà Ba bồi dưỡng đủ món, nấu các món khô cho con đem đi, dặn dò đủ thứ với vẻ lo âu. Chỉ có Linh chọn học gần cho Ba yên tâm và bớt buồn. Ba trấn an các con “Công việc bận rộn, cuối tuần lên chùa làm công quả nghe kinh kệ, nên không có thì giờ buồn đâu, các con cố gắng học cho xong.” Lần lượt các con ra trường: kỹ sư, dược sĩ, y tá. Ngày dự lễ mỗi đứa, mắt Ba đỏ hoe nhắc đến mạ “Phải chi giờ này còn mạ các con...”

Rồi thì con cái có sự nghiệp ổn định, lập đình đứa ở xa, đứa ở gần, Ba sống chung với gia đình Linh. Tuy xa mà gần Ba, các con gởi không thiếu thứ gì từ thuốc bổ, thức ăn đến tận nhà, cho tiền Ba gởi bà con, làm mồ mả, đóng góp nhà thờ dòng họ bên Việt Nam. Mùa lễ Tạ Ơn, Noel con cháu về tụ họp quây quần bên Ba. 

Năm ngoái còn được ăn “Lễ Cha” sum họp. Tháng Tám sau đó, Ba đã rời bỏ thế gian vì bị tai biến mạch máu não bất ngờ. Sáng Chủ Nhật hôm ấy, chưa thấy Ba dậy ăn sáng dù đã 9 giờ, Linh mở cửa vào phòng thức Ba dậy, nhưng Ba đã ra đi với tuổi thọ 80. Ba đi nhẹ nhàng như cách Ba sống cả đời: không một lời than, chỉ sợ các con lo. Ba nằm yên bình với giấc ngủ nghìn thu.

 Một đời Ba gánh hết mưa nắng để đổi lấy bình yên cho các con. Father's Day năm nay, con chỉ biết dâng bình hoa trắng, thắp một nén hương lên bàn thờ Ba. Khói hương bay, xin gửi lên trời cao một lời: “Ba ơi, con nhớ Ba vô cùng... và con nguyện sống tử tế, như cách Ba đã sống cả một đời vì chúng con.”
 
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Lễ Father’s Day 2026
 

Gặp ông Thịnh ở phi trường O’hare hôm chủ nhật tuần trước. Ông mặc chiếc áo sơ mi trắng và thắt cà vạt màu rượu chát. Mái tóc ông Thịnh nâu đen, chải ngôi giữa và xịt dày keo, không chừng mới hớt, nhuộm sáng nay nên trông ông trẻ ra - ít nhất cũng hai tuần. Dù không thân cho lắm, nhưng ông Thịnh làm nghề địa ốc, báo nào cũng thấy đăng quảng cáo hình của ông nên hầu như ông Thịnh được nhiều người biết đến. Có người gọi một cách giản dị là “Thịnh Địa Ốc” cho dễ phân biệt với một ông Thịnh khác đang làm ngành bán bảo hiểm ở đây. Tôi tiến lại chào: - Chà anh Thịnh đi đón ai mà chưng diện bảnh thế? Ông Thịnh chúm chím cười, đưa tay che một bên miệng nói nhỏ, dù chung quanh chẳng có ai. - Đón bà xã từ Việt Nam qua.
(Xem: 24)
Trước thảm trạng các di tích lịch sử của Mỹ đang bị đập phá cũng như mùa Spring Break đang tới, tôi viết bài này để kể lại những kỷ niệm mình đã có với các di tích đó và hy vọng rằng dù chúng sẽ không còn tồn tại nhưng chúng sẽ sống mãi trong tâm trí của mọi người. Theo truyền thống của trường học, con gái tôi sẽ cùng các bạn trong lớp đi tham quan thủ đô Hoa Thịnh Đốn trong vòng một tuần lễ vào tháng Tư. Qua chuyến đi này, các em sẽ được các cô giáo đi cùng dạy các bài học về lịch sử nước Mỹ. Chi phí cho mỗi học sinh là $3500. Phụ huynh nào muốn đi theo để phụ giúp cũng phải trả số tiền đó. Bà xã tính nhẩm: -Với $3500, cả nhà mình bốn người có thể đi viếng thăm Hoa Thịnh Đốn.
(Xem: 37)
Chiếc hộp quà còn trong gói giấy hoa bất thình lình rơi xuống dưới chân từ trên cao, khi tôi kiễng chân kéo chiếc giỏ lớn xếp tuốt trên đầu tủ, những đồ đạc ít khi dùng đến, chiếc hộp quà chưa mở còn được gói trang trọng bằng giấy hoa đầy những trái tim nhỏ li ti, làm tôi hết sức ngạc nhiên! Tôi cúi xuống, nhặt lên, từ từ mở ra. Chiếc vòng cổ bằng hạt ngọc trai! Tôi thử ướm lên cổ, rất vừa vặn vòng tròn cổ, màu ngọc trai sáng bóng long lanh như những giọt nước nhỏ, làm tôn vinh thêm chiếc cổ cao thon của tôi. Ủa mà món quà bất ngờ này ai đã tặng cho tôi? Hồi nào, mà sao giờ này tôi mới thấy trong chiếc túi xách cũ xưa được nhét trên nóc tủ? Tôi đã chưa hề mở ra từ bao nhiêu năm nay! Một tờ giấy nhỏ ngả vàng gấp đôi được đặt dưới đáy chiếc hộp vuông nhỏ, dưới chiếc vòng ấy: “Think of me in the times to come” BC, Feb 1990.
(Xem: 49)
Có những mất mát đi qua chiến tranh không bao giờ khép lại, chỉ lắng xuống trong ký ức của những người còn sống. Từ một người con có cha mất trong trại cải tạo năm 1979, đến hành trình chăm sóc người mẹ suốt 20 năm với căn bệnh Alzheimer, và một mái gia đình được gìn giữ trên đất nước Hoa Kỳ, câu chuyện này không chỉ là hồi ức cá nhân, mà còn là lát cắt của một thế hệ đã đi qua biến động và tìm được nơi định cư an lành. Có những câu hỏi, người ta mang theo suốt đời mà không cần một câu trả lời. “Giọt lệ biết làm sao ngưng” với tôi không chỉ là tên một bài viết, một cuốn sách, mà là một trạng thái của đời sống, một dòng chảy âm thầm của ký ức và cảm xúc, đi qua năm tháng mà không bao giờ thật sự dừng lại. Cuộc đời của một con người đôi khi không được đo bằng những gì đạt được, mà bằng những gì đã mất đi và những gì còn giữ lại sau tất cả.
(Xem: 17)
(Viết theo lời kể của một người – Tên nhân vật và địa danh đã được thay đổi) Cái tên Lũ như một lời nguyền định mệnh vận vào đời cô ngay từ lúc chào đời. Vào một đêm tối trời năm ấy, Cao Bằng chìm trong thác lũ, mưa to, gió lớn, bão bùng, nước từ thác núi đổ xuống cuốn trôi tất cả sản nghiệp của cái bản làng vốn đã nghèo xơ xác. Vì hoảng sợ, người mẹ trẻ bỗng trở dạ sinh non. Xóm làng ngập trong biển nước, nhà nhà kêu cứu, người người khóc than. Bà mẹ miền núi một mình sinh con, tự dùng miếng lạt tre cắt rốn cho bé gái. Và cái tên “bé Lũ” được đặt cho cô như để ghi dấu ngày cả xã bị thiên tai. Lũ lớn lên giữa đại ngàn, mang vẻ đẹp thoát tục của đóa hoa lê rừng, nhưng tâm hồn lại chứa đựng cả một đại dương u uẩn và mầm mống nổi loạn. Hàng ngày sau giờ học chữ, Lũ mang gùi lên rẫy cuốc đất trồng khoai cùng cha mẹ, nhưng trong thâm tâm cô gái vùng cao luôn ước mơ về một chân trời xa lạ. Do đó về sau, cuộc đời cô là một chuỗi những chuyến thiên di đẫm máu và nước mắt.
(Xem: 30)
Ngày đó, nhà chỉ có hai mẹ con. Họ cô đơn và nghèo lắm. Mẹ Na làm đủ thứ việc lặt vặt ở một thị trấn ven biển miền Trung: phụ bếp cho quán ăn, rồi về vá đồ thuê, nhận thêm hàng gia công. Mẹ làm không ngơi tay. Tiền kiếm được không nhiều, nhưng mẹ luôn cố gắng xoay xở để bữa cơm có chút thịt cá cho con gái. Con bé tên Nghi, gầy và kén ăn vô cùng. Mẹ vẫn hay trêu: Con nhà lính, tính nhà quan. Nghi không thích rau, cũng chẳng mặn mà với trứng. Thứ nó thích nhất là thịt - thịt gà, thịt cá, càng nạc càng tốt. Mỗi lần ăn, Nghi thường lật qua lật lại bát cơm, gắp rất chậm, như thể sợ miếng thịt biến mất. Bởi vì mười bữa ăn thì có đến bảy bữa trứng - đủ loại trứng: kho, chiên, hấp…
(Xem: 36)
Tí đang ngồi học trong phòng, má gõ cửa phòng Tí: - Tí ơi, má nói chuyện với con một chút, được không? Tí ngồi nơi bàn học, má bước vào ngồi bên mép giường, má nói: - Thời gian qua, con biết má thường đi khám bệnh, làm các xét nghiệm, má có nói khi nào xong thì báo cho con biết, nên bữa nay má nói … Tí gật đầu, chờ đợi, má ngập ngừng: - Má mới có kết quả biopsy, bác sĩ kết luận là Breast Cancer. Tí nhìn má, lo lắng, má vội nói: - Nhưng cũng may mắn là ở giai đoạn 2, không đến nỗi nguy hiểm. Đầu tuần sau má sẽ được mổ ở bệnh viện dưới phố, lúc 7 giờ sáng. - Vậy để con nghỉ học buổi sáng đưa má đi.
(Xem: 22)
Hôm nay trong giờ ăn trưa ở công ty Chi đến ngồi cạnh Hân mắt hoe đỏ chìa cái phone cho Hân. “Chị ơi, dạy em làm đơn xin nghỉ phép một tháng để về Việt Nam. Mẹ em mất rồi.” Chi nhỏ giọng tiếng nói nghẹn trong cổ. “Trời, thật sao em…” Hân thảng thốt. Chi gật đầu nước mắt thi nhau lăn dài xuống má. Hân nắm tay Chi siết nhẹ như để chia sẻ nỗi đau vô cùng lớn ấy. Nhìn Chi thút thít giọt vắn giọt dài ký ức Hân ùa về cái ngày đau lòng như vậy của chính mình sáu năm trước. Hôm ấy Hân đang làm nails cho khách, điện thoại sáng đèn hiện lên tin nhắn “Chị ơi má mất rồi.” Hân bàng hoàng chạy vội ra sau tiệm gọi về nhà, lúc ấy ở Việt Nam 12 giờ khuya. Mẹ Hân đã được nhập viện ba hôm rồi, bệnh già thôi tưởng sẽ qua khỏi như những lần trước, nhưng rồi… Giọng em gái đẫm nước mắt: “Hu hu má đi rồi chị ơi, bệnh viện đang làm giấy tờ để mang xác má về nhà, huhuhu…” Hân cố bình tĩnh: “Gắng lên em, để chị thu xếp về ngay, em lo công việc đi, chị gọi lại sau nhe, bye,”
(Xem: 18)
Những đêm cuối tháng Tư, tôi không ngủ được. Trời bên ngoài yên tĩnh, nhưng trong lòng tôi lại xao động với những âm thanh của quá khứ. Tiếng còi xe năm nào chạy vội. Tiếng người gọi nhau giữa phố hoang mang. Và tiếng thở dài não lòng của ba trong đêm vắng. Đã trên 50 năm mà như mới hôm qua. Tôi năm nay bảy mươi lăm tuổi. Tóc đã bạc gần hết. Bạn bè cùng thời nhiều người đã ra đi. Có đứa ở lại quê nhà. Có đứa lưu lạc quê người. Riêng tôi sống những năm dài xa quê trên đất Mỹ, trong một căn nhà nhỏ bình yên. Con cái đã yên bề gia thất. Cháu ngoại cháu nội đầy đủ. Cuộc sống nơi quê người trong những ngày về hưu không giàu có nhưng an nhàn và hạnh phúc. Nhưng mỗi khi đến tháng Tư, tim tôi lại chùng xuống. Không cần ai nhắc, ký ức tự tìm về. Có những điều tưởng đã quên, nhưng thật ra vẫn còn nguyên trong lòng, nhất là trong lòng một người con đã mất cha trong trại tù cải tạo.
(Xem: 16)
Sài gòn những ngày cuối tháng Tư, không còn là Sài Gòn của những buổi chiều yên ả, không còn những quán cà phê ven đường rộn rã tiếng cười. Thành phố như nín thở, người ta nhìn nhau, không cần nói cũng hiểu trong lòng mỗi người đang nghĩ gì, tất cả cùng một nỗi lo chung, mơ hồ và trĩu nặng. Gia đình chúng tôi rời Huế cùng lúc đồng bào tỉnh Quảng Trị bỏ chạy. Vào Sài Gòn tạm trú nhà người bà con ở hẻm Phạm Ngũ Lão. Quận 1, gần chợ Thái Bình. Ông xã nhà tôi là Sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là người bình tĩnh luôn đầy nghị lực, nhưng hôm nay tôi thấy ông lộ vẻ bất an, ngồi không yên, đi lui tới trong căn phòng nhỏ, làm cho tôi thêm sốt ruột. Đêm 29 tháng Tư. Anh bạn cùng đơn vị với ông xã tôi ghé vào nói nhỏ: “Có tàu. Nếu đi thì đi ngay. Chần chừ không kịp đâu.” Câu nói như một nhát dao đâm vào tim. Đi… sẽ tới đâu??? Không đi … gia đình người lính bại trận sẽ thế nào??? Tôi ôm chặt đứa con trai hai tuổi, mồ hôi toát ra, vì căng thẳng, vì lo sợ.
(Xem: 8)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.