Hôm nay,  

Nhớ Ba

19/06/202600:00:00(Xem: 355)

 

IMG_7391
Minh Thúy Thành Nội nhận giải Tác Giả-Tác Phẩm VVNM 2025.

 

Tác giả bắt đầu tham gia Viết Về Nước Mỹ từ tháng 11, 2018, với bài “Tình người hoa nở”. Cô tên thật là Nguyễn thị Minh Thúy, sinh năm 1955. Qua Mỹ năm 1985, hiện là cư dân thành phố Hayward thuộc Bắc Cali. Tác giả nhận giải Vinh danh Tác giả 2023 và mới đoạt giải Vinh danh Tác Giả-Tác Phẩm VVNM 2025. Hướng về ngày “Father’s Day”, sau đây là câu chuyện cảm động của tác giả về hình ảnh đáng quý của một người cha dành cả cuộc đời cho con cái.

***

Thời gian sau này, khi có thì giờ rảnh lên mạng, Linh thường theo dõi vị sư tên Thích Giác Tâm ở mái chùa Cẩm La thuộc ngôi làng xa xôi hẻo lánh. Nơi đây thầy nuôi 9, 10 em trai mồ côi, bé nhỏ nhất khoảng 1 tuổi, lớn nhất độ 12 tuổi. Hình ảnh sinh hoạt hằng ngày giữa thầy trò giống như tình cha con. Thầy nói “Muốn quay lại những thước phim các em lúc nhỏ, lớn lên sẽ có kỷ niệm về tuổi thơ."

Xem các em cô nhi chạy nhảy trong sân chùa, đùa giỡn bên thầy Giác Tâm. Bên người cha tuy vật chất còn thiếu thốn, nhưng tình thương người cha thật tràn đầy. Ngôi chùa sau trận bão giông đã sụp đổ hư hỏng, thầy làm đủ mọi việc: dầm mình nửa người dưới nước cày ruộng. Điều khiển các xe lớn đổ đất cầy xới. Cắt cỏ cho trâu ăn...v..v... Các em luôn bám đu theo thầy, nên khi hái sen thầy cũng để các em nhỏ ngồi trên đò, lội bùn vừa đẩy thầy vừa hái hoa sen, có khi cắt rau muống. Lúc thu hoạch được cây quả, các loại rau, thầy trò ngồi xếp từng bó chất đầy đôi gióng. Thầy gánh ra góc đường ngồi bán chung nhóm người tụ lại như chợ rau nhỏ, các em cũng theo ra ngồi bên cạnh.

Thầy đi đâu chưa về, các em chạy ra đầu cổng chùa đứng đợi, vừa thấy bóng thầy, các em mừng rỡ chạy ùa nhanh đến, em níu tay, em bắt cõng. Hoặc khi có đạo hữu đem tới trái cây, bánh kẹo, các em ngồi xếp bàn quanh thầy, chờ phát phần, vừa ăn vừa giành nhau ôm chặt thầy tìm hơi ấm tình thương. Có con vật chết, thầy gói lại trước khi chôn, thắp nhang khấn vái, các em ngồi quanh cũng chấp tay lạy xuống khi nghe thầy giảng dạy. Thầy phóng sinh cá cũng có vài lời pháp, các em ngồi im lặng như thấu hiểu.

Những hình ảnh đó truyền vào Linh một cảm giác thật ấm áp dễ chịu, đẹp mắt mang thông điệp nghĩa tình cha con “Cha với con như cơm với cá”. Càng gần ngày lễ Father‘s Day, Linh càng thấy buồn vô hạn. Hình ảnh Ba luôn khắc mãi trong tim. Linh nhớ Ba kinh khủng, nhớ quay quắt, ký ức mở ngõ đi về những ngày thật xưa, thật xa...

Mạ Linh sinh được 3 chị em: Linh, Bảo, và Tuấn. Ba là lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thuộc binh chủng tác chiến, đi tù “cải tạo" hơn 6 năm. Thời gian này 3 chị em ở với ngoại. Sau ngoại mất, mấy chị em ở nhà trông nhau. Mẹ đi vắng suốt ngày lo buôn bán kiếm gạo. Lúc Ba trở về Linh đã 10 tuổi, Bảo 8 tuổi, và Tuấn 7 tuổi. Em Tuấn khi mạ sinh không có Ba.

Linh còn nhớ khi Ba ra tù về, O Ngân cho mượn tiền mua chiếc xe đạp cũ đi thồ. Những tối trời nóng Ba chở 3 chị em tới nhà O Ngân chơi ở vùng Cầu Kho. Có một hôm ham nô đùa chơi “đạp mạng trốn tìm“ với các con của O, Linh chạy vào núp sau góc tủ, nơi O và Ba đang ngồi nói chuyện. Linh chợt lắng nghe tiếng O nhắc tên má “cả thành phố Huế ni ai mà không biết Liễu làm nghề chi...” Linh nghe tiếng Ba lớn mạnh “đáng lẽ chị phải thương nó, nghèo quá xoay sở không ra tiền, phải đi bán máu lúc con bị bịnh nằm bệnh viện. Tệ nạn do đâu, trong khi người chồng ở tù. Hoàn cảnh tụi tui quá bi đát, về đây tui còn thương nó gấp bội. Chỉ có nó đi lấy chồng khác tui mới buồn thôi, buồn nhưng không oán trách trước thời thế “. Linh nín thở không hiểu chuyện gì, chỉ đoán lờ mờ O Ngân không thích mạ thì phải?!!

Thế rồi thêm cu Bi (Việt) chào đời. Mỗi ngày Ba đạp xe chạy quanh thành phố tìm khách. Mỗi sáng Ba thức dậy 4 giờ, Ba nói “Đứng ngã tư đón con buôn giờ này không bị ai giành giựt, khách cần đi sớm lên ga xe lửa”. Mạ cũng lục đục dậy theo chiên cơm Ba ăn một tô cho chắc bụng. Chờ sáng ra mạ nách cu Bi, cùng mấy chị em qua lò mè xửng của ông Ban, vừa thả Bi chơi vừa lột đậu phụng thuê.

Những tối mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, mạ con ngồi mở cửa sổ nhìn ra ngoài trời tối đen như mực, mạ khấn trời, khấn Phật. Nhà thuê quá cũ kỹ, mưa dột chảy nhiều góc, nên thùng sô, thau lớn nhỏ được đem ra hứng nước. Dù lúc đó Linh chỉ mới hơn 10 tuổi nhưng đã hiểu công lao khổ nhọc của người lớn, thấy thương Ba vô cùng. Ba về, người ướt nhẹp run rẩy, miệng vẫn cười nói “Có gió mưa mới dễ kiếm khách, vì xe thồ ít hơn." Nụ cười đó theo Linh suốt cả cuộc đời, dạy Linh biết rằng Ba có thể đội cả mưa gió, miễn các con được ấm no. Ba thay quần áo, Linh phụ mẹ dọn cơm gồm dĩa rau muống luộc và cái trứng gà. Trước đó mấy chị em ăn một cái dầm nước mắm chan cơm, mạ chỉ ăn rau, mạ nói “Ba các con đạp xe cần ăn một cái cho có sức”. Ba ra ngồi vào bàn ăn, chỉ lùa cơm với nước và rau, ba nói “Để cái trứng cho các con ăn thêm,“ dù mạ năn nỉ nhưng ba vẫn để nguyên đó.

 Cuộc sống cứ chống chèo cơ cực qua ngày cho đến lúc cu Bi được ngoài 3 tuổi thì hung tin đến với gia đình. Mạ bị ung thư giai đoạn cuối, bác sĩ lắc đầu khuyên về nhà sau khi nằm thời gian trong bệnh viện. Những cơn đau vật vã khiến mạ cầu xin cho đi sớm, vì tình cảnh gia đình không tiền không bạc, nợ nần O Ngân và bạn bè quá nhiều. Hai tháng sau ước muốn của mạ cũng được toại nguyện. Một đêm mạ sốt li bì, được chở qua bệnh viện nằm vài tiếng thì tắt thở. Còn cảnh nào buồn hơn trên thế gian này nữa, cu Bi khóc đòi mạ đến khàn tiếng. Hàng xóm tốt bụng dẫn qua nhà họ cho ăn quà bánh để em tạm quên mạ.

Huế là nơi chôn dau cắt rốn của ba mạ. Hai người yêu nhau từ thời trung học, lên đại học. Biết bao kỷ niệm lưu dấu chân ba mạ trên đồi Thiên An, chùa Linh Mụ, hay trên đường Vỹ Dạ về ăn chè Cồn, nơi thơ mộng nhất thời đó ở Huế. Nhưng giờ mạ mất đi, Ba không còn tha thiết với Huế nữa. Thỉnh thoảng phải nghe tiếng chì tiếng bấc chung quanh, làm Ba rất buồn bực. Nhân có bác Tôn vào Bạc Liêu sinh sống trước, liên lạc thúc giục Ba vào Nam dễ thở hơn.


Ra đi vào đêm khuya với ít đồ đạc. Ba không được văn phòng Công an địa phương cấp giấy đi đường. Cha con lén lút lên ga chờ “tàu Chợ” đi chợ đen không cần giấy tờ. Miền Tây dễ sống, bác Tôn hướng dẫn lập chòi tranh ở khu xa thành phố, xa cầu Quay. Nơi này có khoảng mười mấy ngôi nhà tranh, nhà tôn toàn người Huế bỏ xứ vào đây sinh sống. Hàng xóm thấy cu Bi còn nhỏ, hoàn cảnh cha con côi cút, nên giúp đỡ rất nhiều vật dụng.

Ban đầu Ba ra chợ Nhà Lồng xin rửa chén, dọn dẹp cho các quán ăn, ai kêu gì làm đó. Bác Tôn giới thiệu Ba làm hộ khẩu mới. Ba bắt chị em Linh đi học, riêng cu Bi còn nhỏ được mệ Năm cạnh nhà thương, dẫn qua chơi chung với cháu mệ và cho ăn uống chiều mới trao lại. Về miền Tây rất thoải mái, người dân rộng rãi cởi mở dễ tính. Thức ăn giá cả rẻ, nhà nghèo cỡ cha con Linh vẫn ăn được tôm, cá lóc dễ dàng.

Sau này trong khu tập trung ăn uống, Ba làm cho ông chủ người Tàu, nhiều lúc theo về nhà chủ sửa máy móc hoặc xe cộ, ống nước. Lâu ngày họ hiểu hoàn cảnh, rất thương Ba. Mỗi chiều về Ba được bà chủ cho thức ăn bán còn trong ngày thoải mái, nên nhà mệ Năm cũng được hưởng ké. Những tối trời nóng bức, khu vực chỉ dùng đèn dầu. Ba ngồi kiểm soát bài vở các con hoc. Ba cùng ngồi để 3 chị em cố gắng học thuộc bài. Ba lôi những áo quần của con ngồi mạng lại những chỗ sắp rách, hoặc ôm cu Bi xoa lưng dỗ em ngủ.

Chuyện bất ngờ đến! Ông chủ quán cơm người Tàu rất mến Ba, một hôm ông hẹn riêng Ba nói chuyện vượt biên, muốn cho Ba đi theo với điều kiện trả sau khi đến bến bờ. Nhờ ông bà tổ tiên phù hộ, chuyến đi đó biển êm gió lặng sau 5 ngày, không gặp nguy nan trên biển. Tàu có gần 100 người đều an toàn đến đảo Pulau Bidong, sau 2 tháng chuyển trại qua Sungai Besi làm thủ tục giấy tờ, chuyển tiếp Phi Luật Tân, cuối cùng cha con qua Mỹ cuối năm 1985.

Gia đình ông chủ quán cơm đi Mỹ theo diện con bảo lãnh. Cha con Linh được nhà thờ Tin Lành bảo trợ qua tiểu bang Ohio một năm, nhưng trời mùa đông tuyết đóng băng, em út và Ba bị suyễn khó thở. Ông quán cơm (chủ tàu) thúc giục về Bắc Cali, nơi có nắng ấm đỡ hơn. Về đây các con ông chủ hướng dẫn, giúp thuê căn apartment, chở làm giấy tờ thủ tục. Chị em Linh đi học bằng xe bus, cu Bi có xe nhà trường đến rước.

Nhờ lúc ở Ohio được người trong nhà thờ tập lái xe có bằng sẵn, nên về Cali Ba mua chiếc xe cũ nửa khuya đi bỏ báo. Ban ngày nấu nướng cho các con bới xách, nhận hàng làm ở nhà và chăm giữ cu Bi ngoài giờ học. Lúc này em đã lên 7 tuổi. Tối về gia đình xúm nhau bỏ bông vào túi vải thơm lãnh gia công. Ba gom góp tiền lợi tức cả nhà đầu tiên trả góp ông chủ tàu, tính tương đương 6 cây vàng, chỉ vài tháng đã xong nợ. Sau đó bao nhiêu nợ nần, ân huệ bên Việt Nam Ba lần lượt gởi về hậu hỷ các con nợ, bà con với niềm vui khôn tả.

Ba nói: “Nhờ nước Mỹ mà mấy cha con mình “hết cơn bỉ cực đến hồi thái lai” mới kiếm được tiền trả nợ. Suốt đời Ba không quên ơn từ Việt Nam qua đến đất nước Hoa Kỳ này, nhất là cái ơn lớn của ông chủ quán cơm, các con phải gắng học để đền ơn đất nước đã cưu mang mình”

Năm sau nhiều bạn chỉ dẫn Ba được nhận chương trình housing chính phủ trợ cấp một căn nhà 3 phòng ngủ và food stamps hàng tháng. Ba tìm được hàng xóm giữ dùm cu Bi vài tiếng, vì được Employment Agency (cơ quan tìm việc), giới thiệu công việc assembly trong hãng điện tử. Tuy nhiên sau khi được chính phủ trả 2/3, phần còn lại Ba trả tuỳ theo mức thu nhập mỗi tháng. Nếu tháng nào Ba làm overtime thì mức tiền nhà trả cao hơn, ngược lại tháng có vài ngày nghỉ thì trả giảm xuống.

Chị em Linh chăm chỉ học hành, mùa hè xin làm McDonald, hoặc work study. Ba dành việc đầu bếp, mỗi tối lo cơm nước bới cho các con. Khi các con học khuya, Ba cũng thức khuya theo. Ba nấu cháo hoặc cắt trái cây, hoặc xay sinh tố đem vào tận phòng mỗi đứa, có khi ép uống ly sữa đầy. Đôi lần Linh nghe các bạn Ba nhắc “tìm vợ đi chứ, không lý anh ở vậy mãi”, rồi họ xúi Ba về Việt Nam (VN) tha hồ chọn lựa, còn kiếm được tiền nữa là. Ba lắc đầu “không thích kiểu đó, có các con bên cạnh là nguồn an ủi lớn cũng đủ rồi.”

Thương nhất giai đoạn các em được trường xa nhận, mỗi khi về nhà Ba bồi dưỡng đủ món, nấu các món khô cho con đem đi, dặn dò đủ thứ với vẻ lo âu. Chỉ có Linh chọn học gần cho Ba yên tâm và bớt buồn. Ba trấn an các con “Công việc bận rộn, cuối tuần lên chùa làm công quả nghe kinh kệ, nên không có thì giờ buồn đâu, các con cố gắng học cho xong.” Lần lượt các con ra trường: kỹ sư, dược sĩ, y tá. Ngày dự lễ mỗi đứa, mắt Ba đỏ hoe nhắc đến mạ “Phải chi giờ này còn mạ các con...”

Rồi thì con cái có sự nghiệp ổn định, lập đình đứa ở xa, đứa ở gần, Ba sống chung với gia đình Linh. Tuy xa mà gần Ba, các con gởi không thiếu thứ gì từ thuốc bổ, thức ăn đến tận nhà, cho tiền Ba gởi bà con, làm mồ mả, đóng góp nhà thờ dòng họ bên Việt Nam. Mùa lễ Tạ Ơn, Noel con cháu về tụ họp quây quần bên Ba. 

Năm ngoái còn được ăn “Lễ Cha” sum họp. Tháng Tám sau đó, Ba đã rời bỏ thế gian vì bị tai biến mạch máu não bất ngờ. Sáng Chủ Nhật hôm ấy, chưa thấy Ba dậy ăn sáng dù đã 9 giờ, Linh mở cửa vào phòng thức Ba dậy, nhưng Ba đã ra đi với tuổi thọ 80. Ba đi nhẹ nhàng như cách Ba sống cả đời: không một lời than, chỉ sợ các con lo. Ba nằm yên bình với giấc ngủ nghìn thu.

 Một đời Ba gánh hết mưa nắng để đổi lấy bình yên cho các con. Father's Day năm nay, con chỉ biết dâng bình hoa trắng, thắp một nén hương lên bàn thờ Ba. Khói hương bay, xin gửi lên trời cao một lời: “Ba ơi, con nhớ Ba vô cùng... và con nguyện sống tử tế, như cách Ba đã sống cả một đời vì chúng con.”
 
Minh Thúy Thành Nội
Mùa Lễ Father’s Day 2026
 

Trương Hữu Hiền, sinh năm 1958, quê quán Quảng Nam. Năm 1980, vượt biển và được tàu cứu vớt đưa đến trại tị nạn Okinawa, Nhật Bản. Từ 1983 đến 2000 sống ở Tokyo. Năm 2000 cùng gia đình chuyển sang sống ở Boston, Massachusetts (Hoa Kỳ). Hiện làm việc tại trung tâm phục hồi chức năng cho người bị chấn thương não. Tác giả tham dự chương trình VVNM từ tháng 12/2025. Bài viết kỳ này là câu chuyện cảm động về tấm lòng tử tế của vợ chồng Tiến sĩ Robert H. Spaethling, những người bạn thân thiết một thuở của gia đình tác giả.
(Xem: 15)
Vậy là đã mười năm kể từ khi tôi đi du lịch châu Âu lần đầu tiên. Tôi đã kể chuyến du lịch ấy vào năm 2016 qua một bài viết (Từ Mỹ Đi Một Vòng Âu Châu - Viết Về Nước Mỹ - Việt Báo Viết Về Nước Mỹ) rất dài trên mục Viết Về Nước Mỹ. Lần đó, gia đình chúng tôi du lịch bằng du thuyền (cruise) chỉ trong vòng mười ngày. Vì phần lớn thời gian ở trên du thuyền, chúng tôi ít có dịp tiếp xúc và cảm nghiệm cuộc sống của người dân địa phương tại các nơi chúng tôi tới thăm. Lần này, chúng tôi du lịch bằng chủ yếu là xe lửa và chuyến đi dài những năm tuần, chúng tôi có nhiều dịp tiếp xúc và hòa mình vào cuộc sống của người dân bản địa hơn. Vì là chuyến đi tự túc, tôi phải tốn rất nhiều thời giờ để đặt phòng khách sạn, mua vé xe lửa, mua vé vào các nơi du lịch, lên kế hoạch tham quan, ăn uống. Cũng may là bây giờ có internet nên việc đặt phòng rất tiện lợi.
(Xem: 18)
Hôm nay là ngày giỗ thứ 41 của chồng tôi – ngày anh vĩnh viễn rời xa cõi đời, để lại bốn mẹ con tôi bơ vơ giữa cuộc sống nơi xứ người với nỗi nhớ thương chưa bao giờ nguôi. Ngày anh ra đi, tóc tôi còn xanh, các con mới vừa 11, 13 và 15 tuổi. Thấm thoắt đã hơn bốn mươi năm. Nay tóc tôi đã bạc, còn các con đã bước sang tuổi 52, 54 và 56; tất cả đều trưởng thành, lập gia đình, có con cái và đã tạo dựng được cuộc sống, sự nghiệp riêng. Dù cuộc đời có bao đổi thay, dù mỗi người ở một nơi, bận rộn với công việc và gia đình, nhưng cứ đến ngày 30 tháng 7 hằng năm, mẹ con chúng tôi luôn cố gắng thu xếp để được về bên nhau, khi thì tại nhà tôi, khi thì tại nhà các con, cùng làm bữa cơm giỗ Bố với những món ăn mà lúc sinh thời Bố yêu thích. Thường thì sau khi bày biện bàn thờ, mẹ con và các cháu cùng thắp hương, kính cẩn đứng trước di ảnh Bố, cầu nguyện cho Bố được thanh thản nơi cõi vĩnh hằng và xin Bố phù hộ cho con cháu luôn mạnh khỏe, bình an, hạnh phúc, may mắn và thành công trong học hành
(Xem: 22)
Chúng ta vừa nhận được tin buồn - Biển Cát, một tác giả Viết Về Nước Mỹ được nhiều người yêu mến, đã từ trần. Tác giả Lê Xuân Mỹ đã viết vội những dòng văn đầy cảm xúc sau đây, như nén hương lòng tiễn biệt chị, Mong chị nhẹ nhàng đi vào miền bình yên, như màu vàng của dã quỳ tan vào trong gió. Tôi thật sự không biết phải bắt đầu những dòng này như thế nào, bởi tin chị Biển Cát đột ngột qua đời đến với tôi quá bất ngờ. Mới hôm qua thôi, tôi còn nhìn thấy bài viết mới nhất của chị đăng trên báo, bài “Màu vàng của gió”. Tôi không thể ngờ rằng đó lại là những dòng chữ cuối cùng của chị mà tôi được đọc khi chị còn hiện diện trên cõi đời này. Bài viết mở đầu bằng những câu thơ thật đẹp, thật buồn: “Ở lại nhé anh Đồi dã quỳ dập dờn vàng màu gió Tan vào hư không Tuổi mười tám rạng ngời…”
(Xem: 16)
Mùa đông ở vùng ngoại ô Virginia không có khái niệm về sự dịu dàng. Nó là một khối xám xịt của bầu trời mọng nước, chuẩn bị đổ xuống những cơn mưa tuyết mù mịt. Trong căn bếp nhỏ của gia đình, bà Liên ngồi bên bậu cửa sổ, nhìn ra hàng rào sắt đang đóng một lớp băng mỏng. Bà đã sống ở đây gần năm mươi năm, nhưng dường như tâm hồn bà chưa bao giờ thực sự đi qua khỏi cửa sân bay. Bà sống trong một "ốc đảo" của riêng mình. Trong căn bếp đó, mùi nước mắm kho cá luôn đánh vật với mùi lavender từ chiếc máy xịt phòng tự động mà chị Hai gắn trên tường. Trên tivi, những bản tin tiếng Anh của đài CNN trôi qua tai bà như tiếng gió hú ngoài khe cửa.
(Xem: 25)
Ông Tư ngồi trên chiếc ghế đan bằng những sợi dây Plastic màu nâu, nhâm nhi ly cà phê ông vừa pha xong trong chiếc máy tự động. Bây giờ ông yếu lắm, căn bệnh viêm thận của ông đã kéo dài mấy năm nay, dẫn đến việc ông phải lọc máu, cộng với cái đầu gối của ông bị “arthrose” (thoái hóa khớp), mỗi lần bước đau lắm, nên ông ngồi nhiều hơn đi. Nhìn ra khu vườn sau nhà, gần chân tường, cây bưởi, cây quýt, xanh mướt nhờ những cơn mưa trái mùa. Cây mận, cây đào rụng hết lá, trơ cành khẳng khiu như đang chờ đông tới. Hồi ông mới mua nhà cây cối cũng một thời thanh xuân với ông, nhưng theo ngày tháng bây giờ cũng già cỗi như đồng hành với tuổi tám mươi của ông. Ngồi nghĩ lại cuộc đời mà tiếc nuối quá khứ.
(Xem: 22)
Vùng Hoa Thịnh Đốn đến cuối tháng Bảy vẫn còn nóng nực. Ban ngày nhiệt độ vọt lên hơn 90 độ F, ban đêm ngột ngạt khoảng hơn 80 độ F. Thỉnh thoảng trời rảy xuống chút mưa rào mát rượi. Nhờ thế mà cỏ cây vẫn giữ được sắc xanh, hoa lá xum xuê rực rỡ đó đây. Những cây Crape Myrtle (hoa tường vi/bằng lăng) trồng trong các thương xá, công viên hay tư gia đang độ mãn khai, nở bung những chùm hoa hồng, đỏ, tím đẹp đến nao lòng. Nhưng chỗ tôi tuy nóng vẫn còn khá hơn thành phố bạn tôi. Chị bạn tôi cư ngụ ở Houston, Texas cho biết nơi chị ở ban ngày nắng chói chang, có khi nóng đến 104 độ F mà lại ít mưa. Nhà nào cũng phải lắp hệ thống tưới cỏ tự động, nếu không hoa cỏ sẽ héo úa hoặc chết cháy vì nắng gắt. Hôm nào thời tiết dịu xuống dưới 100 độ F là chị mừng rỡ như trúng số. Cho nên tôi phải … nhìn xuống, nhìn những nơi nóng hơn mình để mà tiếp tục… yêu đời, không than vãn.
(Xem: 19)
Sau ngày 30-4-1975, nhiều người Việt Nam bỏ xứ ra đi, đa số đã xin định cư tại Hoa Kỳ theo diện tị nạn chính trị. Trong khoảng mười, mười lăm năm đầu, người Việt khi gặp nhau thường nêu một câu hỏi mà người hỏi có hai ý, còn người được hỏi cảm thấy phân vân, rồi trả lời theo một trong hai ý. Đó là câu: “Anh chị sang đây lâu chưa?” Nếu người hỏi có thái độ kẻ cả, hỏi để phân biệt đẳng cấp, thì câu trả lời sẽ hờ hững, qua loa. Nếu người hỏi tỏ ra thân thiện - có ý muốn giúp đỡ đồng hương đến sau, thì câu trả lời sẽ rất chân tình.
(Xem: 16)
Chúng ta đang sống trong kỷ nguyên hiện đại, thế giới vận hành theo quy luật tự nhiên, con người đã lên tới mặt trăng, phi thuyền ngày đêm bay lượn ngoài không gian, bây giờ nói chuyện ma, thì quả là lạc hậu, dị đoan, mê tín. Nhưng có ai trả lời được câu hỏi: Sau khi chết linh hồn con người sẽ về đâu? Theo giáo lý tôi đã học, chết không phải là hết mà là khởi đầu cuộc sống mới, linh hồn sẽ bay lên một nơi thiêng liêng, hay xuống Hỏa Ngục, tùy theo cuộc sống tại thế và niềm tin của mỗi người. Ngoài hai nơi trên, tôi nghĩ rằng còn một nơi mà không tôn giáo nào đề cập tới, nơi đó không vút lên, không tụt xuống, mà lặng lẽ tồn tại giữa chúng ta, mắt không thấy, nhưng có thể cảm nhận được, người đời nôm na gọi là hồn ma. Thực tế đời thường trong thành phố Seattle, nơi này, nơi khác, thỉnh thoảng có những bó hoa tươi đặt sát lề đường, một vài bóng đèn màu rực sáng, đôi khi còn thấy một tấm giấy với nhiều hàng chữ viết tay.
(Xem: 18)
Vào một ngày đầu Xuân chỉ có tôi và con gái ở nhà. Hai cha con ngồi uống trà và nói chuyện trong phòng khách, ấm cúng và yên tĩnh. Bên ngoài gió thoảng đưa nhè nhẹ. Cây sứ trước nhà nở hoa trắng xóa, tỏa hương thơm thật dịu dàng, dễ chịu. Bất chợt con gái tôi hỏi: - Ba ơi! Con đọc báo chí và bài vở trên mạng thấy có lúc thì người ta dùng từ “diễu hành”, có lúc thì dùng từ “diễn hành”. Bạn con nói từ diễu hành là từ của Việt Cộng còn từ diễn hành là từ của Việt Nam Cộng Hòa. Sự thật có phải vậy không Ba? Con gái tôi năm nay bốn mươi lăm tuổi đã lớn lên và học tập dưới chế độ xã hội chủ nghĩa từ tiểu học cho đến trung học. Khi qua Mỹ tiếp tục học đại học và đi làm cho tới bây giờ là ba mươi năm. Lúc còn ở Việt Nam tôi không có can thiệp hay ý kiến gì về việc học của con, cũng như không phê phán, không bàn luận gì với con về chủ nghĩa và chế độ Cộng Sản mặc dầu tôi thấy có nhiều điều sai trái, không thể chấp nhận được. Tôi muốn cho con tôi sống vô tư, không phải bận tâm hay thắc mắc gì
(Xem: 21)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.