Hôm nay,  

Mùa Xuân Dharamsala

07/03/200700:00:00(Xem: 9453)

Mùa Xuân Dharamsala

...Khóa giảng hàng năm của đức Đạt Lai Lạt Ma là ngày hội cho Dharamsala...

Hàng năm, cứ sau Tết Âm lịch, Dharamsala lại như vào hội.

Đấy là khi đức Đạt Lai Lạt Ma mở khoá giảng hàng năm kể từ rầm tháng Giêng.

Nằm tại tiểu bang Himachal Pradesh ở miền cực Bắc Ấn Độ, Dhramsala là một thị trấn miền núi, bậc thềm bước lên Hy Mã Lạp Sơn - tên của tiểu bang nói lên điều ấy.

Là thủ phủ của quận Kangra, Dharamsala có thể được coi là một khu vực nghỉ mát. Tên Ấn Độ của thị trấn này là "Nhà nghỉ", và càng thích hợp với chức năng ấy khi người Anh tiến vào cai trị xứ Ấn Độ. Đây là nơi nghỉ hè của công chức Anh phục vụ tại New Dehli (thủ đô nay tên là Dehli).

Nhưng Dharamsala cũng là một trung tâm tôn giáo lâu đời, nơi dân Ấn lập ra nhiều đền đài theo Ấn Độ giáo, hiện hữu cùng các tu viện Phật giáo của di dân Tây Tạng, từ bên kia biên giới đi xuống, từ thế kỷ thứ tám. Rồi theo đà bành trướng của Ấn Độ, kiến trúc của người Ấn lấn lướt dần các tu viện Phật giáo Tây Tạng.

Thế rồi mọi thứ đều trở thành bình đẳng, gần như bình địa.

Một trận động đất lớn vào năm 1905 đã tàn phá cả hai thị trấn Dharamsala và Kangra trong khu vực. Động đất cũng khiến người Anh tìm nơi nghỉ mát tại Shimla, bên kia vết nứt địa chấn, cho an toàn hơn.

Một trận động đất khác - nhân tạo lần này - lại khiến Dharamsala hồi sinh.

Năm 1959, Trung Quốc tấn công thủ đô Lhasa và hoàn toàn thống trị Tây Tạng, khiến dân Tây Tạng phải theo đức Đạt Lai Lạt Ma lưu vong qua xứ Ấn. Sau khi dại dột đem thí Tây Tạng để "sống chung hoà bình" với Trung Quốc bằng cách khuyên Tây Tạng đừng chống đối mà nên nói chuyện với Bắc Kinh, Ấn Độ hồi tâm nghĩ lại khi nạn dân Tây Tạng từ bên kia biên giới dạt xuống. Vì vậy, năm 1960, Thủ tướng Jawaharlal Nehru mới đề nghị cho đức Đạt Lai Lạt Ma và dân Tây Tạng lập Chính phủ Lưu vong tại Dharamsala.... Từ đấy cộng đồng Tây Tạng lưu vong đã có đất tạm cư, và chọn vùng cao của Dharamsala, nơi còn dấu vết lại qua của tổ tiên họ từ nhiều thế kỷ trước.

Dharamsala có hai khu vực cao thấp cách nhau chừng mươi cây số, hãy tưởng tượng Đà Lạt với Đơn Dương chẳng hạn. Ở cao độ chừng 1.700 thước, McLeod Ganj là địa danh còn lại từ thời Anh của vùng cao, một trung tâm hành chánh và văn hoá. Bên dưới, vùng thấp của Dharamsala là một trung tâm thương mại ở cao độ 1.510 thước.

Một thành phố rất nhỏ, nói cách nhau vài trăm thước là một ý niệm về mặt phẳng. Trong thực tế, đó là vài trăm thước dốc! Đây là một thị trấn cheo leo và leo là quy luật!

Đức Đạt Lai Lạt Ma đã chọn vùng cao, McLeod Ganj, làm nơi tái tạo lại một phần hồn của Tây Tạng với nhiều tu viện, đền thờ, trường học và một khu công thự dành cho chính quyền lưu vong. Vì vậy, khu vực McLeod Ganj đó còn có tên là Tiểu Lahsa, Little Lhasa, nơi có mấy ngàn người Tây Tạng cư ngụ cùng dân cư địa phương.

Và hàng năm, đến kỳ Monlam là Dharamsala lại như mở hội.

Đây là dịp người dân Tây Tạng tán thán công đức của chư Phật và đức Đạt Lai Lạt Ma giảng pháp cho chư tăng và dân chúng. Khoá giảng của Ngài khởi sự từ mùng ba và sẽ kết thúc vào ngày 13. Chư tăng ở đây là các nhà sư ở ba tu viện Tây Tạng tại Ấn Độ và nhiều tu viện khác trên thế giới. Khách thập phương ở đây quả là những người của thập phương. Đấy là các Phật tử theo đạo, nghe pháp và sinh hoạt tại các tu viện ấy, ở Ấn Độ và trên thế giới, trong số này, có cả tu viện Tây Tạng ở Long Beach của Hoà thượng Geshela. Ông đi từ Mỹ qua Ấn Độ dự khoá giảng này và cũng có riêng một khoá giảng vào những ngày cuối.

Tại Dharamsala, người ta có thể nghiệm thấy một điều. Chính quyền và hàng tăng lữ Tây Tạng là những người có ý chí và viễn kiến. Từ những năm đầu của thập niên 60, công thự của Tây Tạng được thiết kế đơn giản, trang trí bằng cùng loại hoa văn Tây Tạng và hoàn tất thành một khối thống nhất chứ không chắp vá theo lối "tùy hỉ", có bao nhiêu làm bấy nhiêu mỗi năm làm thêm mộ chút. Điều ấy phải nói vì đấy là một khác biệt với các ngôi nhà hay công thự Ấn Độ được thấy mọi nơi.

Cao nhất, kiên cố và rộng lớn nhất là một tu viện, kiêm viện nghiên cứu Phật giáo Tây Tạng. Trong tâm tư của lãnh đạo Tây Tạng, có ba vấn đề thường xuyên bật sáng là tự do cho quê hương và giáo dục cho dân chúng, tu tập cho tăng già. Tu viện này là một trung tâm giáo dục và tu tập tại Dharamsala. Nó nguy nga hơn dinh cơ của chính phủ.

Xây bên triền núi dốc ngược, tu viện này có bảy tầng cao thấp khác nhau và cao hơn dinh cơ của Chính quyền Tây Tạng và ngôi nhà của đức Đạt Lai Lạt Ma. Chung quanh quần thể kiến trúc ấy là những đỉnh núi tuyết ở xa và rất nhiều loại tùng bách và bá hương hay khuynh diệp.

Một ngôi chùa Việt Nam thường phát triển theo bề ngang và ẩn mình trong cây cỏ thiên nhiên, tu viện Tây Tạng lại nằm rất cao trên đỉnh núi, thường trông xuống thung lũng ở bên dưới. Người Tây Tạng quả là không thể quên vị trí nguy nga của thủ đô và cung điện Lhasa ở quê nhà.

Dinh Chính phủ và tư thất của đức Đạt Lai Lạt Ma quay về hướng Nam, đối diện với Tu viện, bước qua là một quảng trường nhỏ vuông vắn chưa đầy trăm thước, phân nửa sân có che bạt nylon màu vàng có trang trí hoa văn Tây Tạng. Đây là nơi mỗi ngày mọi người đến nghe vị lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng thuyết pháp.

Ngài bước từ trong dinh qua cổng sắt sơn trắng và chào hỏi rừng người ngồi chật dưới đất rồi vào một hàng hiên lớn của tu viện bước lên một đài nhỏ phủ gấm vàng, có tán, có lọng và ngồi theo thế kiết già trên một ghế bành lớn, trước mặt là một cần máy ghi âm. Đức Đạt Lai Lạt Ma lên tiếng là cả đường phố Dharamsala đều nghe thấy tiếng Ngài, vang vọng qua các triền núi nhờ hệ thống loa khuếch âm giăng mắc ở mọi nơi trên tu viện.

Dân số Dharamsala chỉ vỏn vẹn chưa đầy hai chục ngàn người, đa số là dân Ấn Độ, còn lại là mấy ngàn dân Tây Tạng và các nhà sư đang tu tập trong tu viện.

Khi đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết giảng, có chừng năm người ngồi nghe. Các nhà sư thì ngồi khắp mọi tầng lầu trong tu viện, khách thập phương thì ngồi đầy sân trước và tràn qua các bậc thang, bờ tường.

Nếu người ta có quên hoàn cảnh Tây Tạng thì việc tham dự khoá giảng này là một nhắc nhở. Mọi người đều đã phải liên lạc trước, từ xa, có thể là qua một tu viện Tây Tạng ở Hoa Kỳ, Na Uy, hay Hán Thành. Liên lạc trước để ghi danh và tới nơi là phải xin thẻ nhận diện, kèm theo tấm hình của mình. Nôm na là không phải ai đến cũng được.

Qua những con dốc hay ngõ ngách nhỏ để tiến vào tu viện, mọi người được yêu cầu không đem theo máy ảnh, điện thoại di động, bật lửa, thuốc lá hay võ khí. Không chỉ được yêu cầu mà còn được khám xét và lục soát rất kỹ. Đây là lý do vì sao độc giả không thấy tấm hình nào!

Nhưng, mọi người cũng được yêu cầu đem theo một ca nước và dù chẳng cần nhắc thì cũng đem theo nệm ngồi! Tùy nơi xuất phát, mỗi nhóm lại được phân cho một ô dưới đất. Như người Đại Hàn có vài chục thì phân nửa là các nhà sư, mặc đạo bào màu xám viền nâu của Phật giáo Đại Hàn.

Trong khoảng năm ngàn người ngồi nghe pháp, có lẽ phân nửa là các nhà sư Tây Tạng mặc áo đỏ. Tri trấn Dharamsala vào Xuân đã đỏ rực vì những tà áo này. Từ mờ sáng, khi các vị sư xếp hàng một - kỷ luật hơn các cư sĩ nhiều lắm - vào tu viện, ta thấy những cái đuôi dài trên bốn ngả dốc dẫn lên tu viện. Hình ảnh rất lạ và đẹp mắt.

Dù là mùa Xuân, khí trời Dharamsala vẫn còn lạnh, từ 45 đến 65 độ F, và còn lạnh buốt khi gió Xuân thổi lên. Trời trong xanh rất đẹp, bên dưới là một cảnh tượng lạ lùng. Dân Tây Tạng ăn mặc đầy màu sắc rực rỡ, có người còn mặc lễ phục - hãy nghĩ đến ngày Tết của ta. Các nhà sư - người Tây Tạng hay da trắng, nam và nữ, khá đông - thì mặc áo đỏ, nhiều người phải quấn khăn hay quấn chăn đỏ vì trời rất lạnh. Còn lại là khách quần phương với cách phục sức đa nguyên của họ!

Gần phân nửa những người ngồi nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp là người da trắng. Còn lại là dân Á châu, da vàng. Người ta đến nghe từ tứ xứ, mỗi người lại một vẻ, rất lạ. Họ quấn khăn, đội mũ, choàng chăn, xách bị, cắp nệm bên nách. Có những người dị kỳ như pháp sư Thổ phồn trong truyện võ hiệp, có người như hippies tại Santa Cruz hay San Francisco, có người quấn tròn như con gấu theo kiểu New York, có người râu tóc bay trước gió như một Tạ Tốn da trắng. Nhiều người ăn mặc rất "casual", nhưng lịch sự với nhãn DKNY, giày Nikey, người đi dép râu Ấn Độ... Muôn hình muôn vẻ.

Nhưng, kỳ lạ vô cùng, khi có tiếng xướng danh của một vị sư Tây Tạng báo hiệu đức Đạt Lai Lạt Ma, mấy ngàn người ồn ào bỗng im phăng phắc. Và Ngài vừa bước ra là người ta quỳ, bò và nằm lạy dưới đất. Ba lần. Cả những nàng kiều nữ Bắc Âu lẫn các giáo sư Hoa Kỳ. Những người vào trễ và dù đứng dưới nên chẳng thấy đức Đạt Lai Lạt Ma họ vẫn kính cẩn quỳ lạy ba lần trên nền đất lạnh, rồi mới phủi áo tìm chỗ ngồi nghe. Hết chỗ thì leo lên bờ tường.

Mà làm sao nghe khi đức Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso đời thứ 14 nói pháp bằng tiếng Tây Tạng"

Khoa học kỹ thuật có giải đáp!

Mỗi người được yêu cầu đem theo một radio nhỏ có cắm ống nghe. Bật lên băng tần FM thì tìm ra lời phiên dịch ra từng thứ tiếng, kể cả Pháp, Ý hay Đại Hàn. Tiếng Anh là 92.5! Người viết đếm không được số ngôn ngữ được phiên dịch! Những người Việt đến từ Hoa Kỳ thì có hệ thống riêng, do một nhà sư Tây Tạng rất trẻ lập riêng cho mình!

Khi bắt đầu bài giảng, vị Phật Sống của Tây Tạng thường hỏi: "Mọi người đã có trà chưa""

Lý do là mấy chục vị sư mỗi người một bình trà hơn một galông đã xen vào đám đông rót trà mời mọi người, theo sau là những khay bánh mì Tây Tạng. Hôm đầu tiên, các Phật tử được mời ăn xôi. Xôi hấp với bơ trộn cùng nho khô. Ngon vô tả! Trà cũng vậy, có pha chút sữa có đường nhưng không quá ngọt. Trời lạnh, quấn mình trong chăn ấm để uống trà thì chưa nghe pháp đã thấy mình thành tiên.

Nghĩa là ban tổ chức và người Tây Tạng phải làm chúng ta khâm phục về cách tổ chức và sự chu đáo của họ. Người nào cũng hiền hoà, ân cần và kiên nhẫn khi mỗi ngày mấy ngàn người như con nước đổ về tu viện hoặc rút xuống ăn trưa để lại trở về nghe đức Đạt Lai Lạt Ma thuyết pháp.

Trong một buổi chiều, khi nói về lòng từ bi, Ngài đã bật khóc ở trên. Bên dưới, quỳ chung quanh, là những vị cao tăng, những đạo sư trọng tuổi, ngồi tĩnh lặng như những triết gia. Kinh nghiệm ấy là một điều khó quên.

Trong mấy tuần liền, đường phố Dharamsala - toàn ngõ hẹp đường dốc, bề ngang không quá chục thước, bên dưới là sườn núi hay vực - chật ních những người và hàng quán tấp nập khách thập phương. Nếu chịu khó leo cao một chút thì mình có thể lên tới  nhà hàng Chonor House do Richard Gere lập ra cho thiên hạ. Thức ăn ngon, dịch vụ chu đáo và còn có một khu riêng để truy cập Internet.

Nhờ vậy mới kịp có bài này in trên Việt Báo! Thời khắc Dharamsala đi trước California 14 tiếng rưỡi. Cái rưỡi ấy là nét đặc trưng Ấn Độ! Và dù dọa nạt thế giới về IT, hệ thống Internet tại đây, dù là Dehli hay Dharamsala vẫn còn quá chậm. Hình quá lớn gửi về là bị đá ra ngoài.

Những chuyện ấy, nghe thuyết pháp xong thì loài người trần tục sẽ phải tìm cách giả quyết cho độc giả!

Quyền lực có thể đẩy sử gia ra khỏi cửa, tháo gỡ triển lãm, xé sách, bắt tô vẽ quá khứ theo ý mình. Nhưng rồi cũng có ngày chính bàn tay thò vào sửa lịch sử ấy được lịch sử đóng khung và ghi lại, nguyên vẹn một bàn tay... thúi.
“Tầm quan trọng của Phật giáo cho thời đại của chúng ta” là bản Việt dịch từ nguyên tác Đức ngữ Die Bedeutung des Buddhismus für unsere Zeit do Nhà xuất bản Osla Schloss Verlag München – Neubiberg ấn hành lần thứ 2 năm 1924. Qua bài viềt, tác gỉả đề cao Phật giáo là liều thuốc duy nhất vô cùng hiệu quả để chống lại tình trạng mất phương hướng tinh thần và nhu cầu xã hội của thời hiện đại. Ông chỉ ra rằng nền văn hóa xã hội phương Tây gặp phải những mâu thuẫn nghiêm trọng và không có một giải pháp thoả đáng vì tin tưởng mù quáng vào Thiên Chúa giáo cũng như chủ nghĩa duy vật...
Người đàn ông đang lái xe chở nhóm công nhân đến công trường, bỗng bị một chiếc xe không biển số bám sát phía sau. Vài phút sau, ông bị bắn chết ngay trên tay lái. Sáu ngày sau, một thanh niên 25 tuổi bị chặn xe trên đường đi làm. Năm phát đạn liên tiếp bắn xuyên vào xe; một viên trúng ngay giữa đầu. Anh chết tại chỗ. Không phiên tòa. Không bồi thẩm đoàn. Không cơ hội biện hộ. Chỉ một quyết định sống chết, được những kẻ bịt mặt đưa ra trong tích tắc. Nếu độc giả cho rằng đây là chuyện xảy ra tại Việt Nam hay ở một xứ sở nơi băng đảng lộng hành, xin nghĩ lại. Đây là nước Mỹ. Năm 2026.
Từ khi ông Donald Trump trở lại giữ chức Tổng Thống Hoa Kỳ, chánh sách mậu dịch của Hoa Thịnh Đốn đổi khác nhiều. Chính phủ Mỹ lấy thuế khóa làm một phương tiện để vừa bảo hộ kỹ nghệ trong nước, vừa gây sức ép với những nước cùng mình giao thương. Thuế khi tăng, khi giảm; việc thương thuyết hôm trước còn thuận, hôm sau đã có thể trở mặt. Thoạt trông, ấy chỉ là chuyện mua bán giữa Hoa Kỳ với từng nước. Nhưng xét cho kỹ, mỗi phen Hoa Thịnh Đốn dựng thêm một hàng rào thuế khóa, Bắc Kinh lại có thêm một dịp để mở đường giao thương với những nước muốn tìm nơi khác mà nương tựa.
Đó là một trong những sự thật dịu dàng nhất của kiếp người, rằng chúng ta, một phần nào đó, là kết quả từ của những người đã dạy dỗ mình, ‘nhất tự vi sư, bán tự vi sư’. Donald Trump cũng có một người thầy theo nghĩa như thế. Từ năm 2016, truyền thông Mỹ đã lần tìm ra người thầy này của Trump: Roy Cohn, và gọi ông ta là “một trong những kẻ thù tồi tệ nhất của Liên Minh Châu Âu, người từng cố vấn cho Donald Trump.”
Tính đến thời điểm hiện tại của tài khóa 2026 (tháng 10, 2025 – tháng 9, 2026), thiếu hụt ngân sách liên bang Hoa Kỳ đã lên tới khoảng 1.8 nghìn tỷ USD, trong đó mức thiếu hụt của riêng tháng 7 là 432 tỷ USD, cao nhất kể từ tháng 3, 2021. Medicare tăng mạnh đã góp phần đẩy tổng con số lên cao, trong khi chính quyền vay nợ vẫn là một yếu tố đóng góp đáng kể. Tình trạng này đã đẩy tổng nợ quốc gia lần đầu tiên vượt mốc 40 nghìn tỷ USD, chủ yếu do chi phí lãi vay ròng gia tăng, các khoản chi cho chương trình phúc lợi bắt buộc và tác động từ các đạo luật chi tiêu mới được ban hành. Văn Phòng Ngân Sách Quốc Hội (Congressional Budget Office - CBO) dự đoán thâm hụt ngân sách cả tài khóa 2026 sẽ ở mức gần 1.9 nghìn tỷ USD.
Tổng Thống Donald Trump vừa đưa cuộc chiến thuế quan với Canada sang một vòng mới, áp thuế 50% lên khoảng $20 tỷ hàng nhập cảng từ nước láng giềng phía bắc, chỉ hơn hai tháng trước cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ. Trên lý thuyết, đây là một đòn đánh vào Canada. Trong thực tế, nó cũng là một sắc thuế đánh vào kỹ nghệ Hoa Kỳ. Lý do khá rõ: sau nhiều thập niên tự do mậu dịch, hai nền kinh tế Hoa Kỳ và Canada đã đan vào nhau từ dầu thô, điện lực, thép, nhôm cho tới xe hơi và linh kiện. Đánh thuế một mắt xích ở Canada, nhiều khi chính hãng xưởng Mỹ lại là nơi gánh thêm phí tổn.
Mysticism: Christian and Buddhist là một trong những công trình tiêu biểu của Suzuki trong lĩnh vực nghiên cứu và đối thoại liên tôn. Tác phẩm được Nhà xuất bản George Allen & Unwin (London) ấn hành năm 1957 và được dịch giả Như Hạnh chuyển ngữ sang tiếng Việt với nhan đề Huyền học đạo Phật và Thiên Chúa giáo, do Nhà xuất bản Kinh Thi xuất bản năm 1974.
Một người mời bạn đi ăn tối. Bạn mệt, không muốn ra khỏi nhà, nhưng thay vì nói thật rằng tối nay chỉ muốn nằm yên, bạn đáp “Tiếc quá, tôi có hẹn mất rồi”. Một người quen hỏi cái áo mới có đẹp không. Bạn thấy chẳng đẹp chút nào, song vẫn mỉm cười: “đẹp lắm!” Một đứa trẻ chìa ra bức tranh nguệch ngoạc, không ai nỡ nói: “Con mèo này trông giống củ khoai.” Không nền dân chủ nào suy vong vì những câu nói dối vô hại ấy. Madeleine Aggeler của The Guardian, người từng thử sống hai tuần không nói dối vặt như thế cho rằng phần lớn chúng ta không nói dối vì có ý hại người. Ta nói dối vì sự thật bất tiện. Vì không muốn làm ai mất lòng. Hoặc chỉ vì một câu không thật ngắn hơn một lời giải thích thật.
Trong chương trình phát hình kéo dài hơn 6 phút trên đài truyền hình quốc gia VTV vào tối ngày 16/08/2026, lần đầu tiên, sau gần một năm rưỡi, công chúng mới được nghe công bố công khai cái gọi là kết quả điều tra về vụ tai nạn giao thông tại đường Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Bản tin xác nhận người cầm lái xe ô tô lấn trái, vi phạm Luật Giao thông Đường bộ làm chết một nữ sinh và khiến người cha mang thương tích nặng chính là cựu Đại biểu Quốc hội Nguyễn Sỹ Cương.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.