Hôm nay,  

Nhìn Xuyên Giả Dối

31/03/202300:11:00(Xem: 4182)
 
 
Nói dối là một đặc tính trong thời đại hôm nay, đầu thế kỷ 21. Có ba loại người: Nói dối chuyên nghiệp vì có mục đích. Nói dối luôn miệng vì thói quen. Nói dối khi cảm thấy cần thiết hoặc sợ hãi. Nói không đúng sự thật nhưng tưởng mình nói thật, cũng là một cách dối. Nói thật và nói dối trên căn bản đối nghịch nhau, nhưng đôi khi, cả hai là một.

Vì hầu như vô tình hay cố ý, ít ai thực sự nói thật. Chẳng phải thích thú khi nhìn rõ tim đen của người đang ba hoa cố thuyết phục mình một chuyện gì có lợi cho anh ta? Chẳng phải tức cười khi biết anh này muốn tán tỉnh, nhưng cố nói những lời nghiêm túc? Lào sao biết được? Hãy tập nhìn xuyên giả dối
Tìm người nói thật và đúng sự thật là chuyện hiếm hoi, trước hết, vì ngày nay, sự thật lớn là gì, không ai biết. Còn sự thật nhỏ, chỉ thật một cách tương đối, mỗi người tin khác nhau. Do sức tưởng tượng, do mức độ hiểu biết, nhất là do lợi ích riêng mà sự thật tương đối sẽ khác biệt trong mỗi người, rồi có khi hai sự thật tương đối lại đối nghịch nhau.

Tuy nhiên, không phải hoàn toàn tuyệt vọng. Loại người nói dối chuyên nghiệp và nói dối vì thói quen, hết thuốc chữa và nên tránh xa, ngoại trừ không thể nào. Loại người nói dối vì cần thiết, hoặc nói dối vì tin mình nói thật, họ có sự trung thực. Trung thực là nói đúng với suy nghĩ và tâm tư của minh. Trong khi thành thật là không nói dối với người khác. Trung thực là không nói dối với chính mình. Số người nói dối đông gấp ba số người trung thực. Có những xã hội, 90% là người dối.

Làm sao để phân biệt người nói dối và người trung thực? Có vài phương pháp. Hôm nay, chúng ta chia xẻ cách thứ nhất: Nhìn Xuyên giả dối.
Nghĩa là chúng ta không nghe lời nói bằng tai, mà nghe cử chỉ, hành vi, hành động của người đang nói hoặc sắp nói bằng mắt.

Người ta nói, hình ảnh không nói dối. Hành vi là một chuỗi hình ảnh nối nhau, tất nhiên gần như trung tín. Ngoại trừ điệp viên và những ai lão luyện giang hồ, đám đông còn lại thông thường họ biểu lộ ý nghĩ, ý muốn một cách trung thực qua cử chỉ và hành vi. Tâm lý xã hội học gọi là ngôn ngữ thân thể.

Trong việc giao tiếp hàng ngày, người ta có một số thái độ chung và một số thái độ riêng bộc lộ cá tính, tâm tình, ý đồ, và dự tính. Câu nói, coi mặt bắt hình dong, phải cẩn thận khi áp dụng, vì ngày nay, giả dạng, giả vờ rất nhiều, thấy vậy mà không phải vậy.

1. Ngôn ngữ mắt.

Nhìn thẳng và lắng nghe đôi mắt của những người đối diện. Trước hết, lời nói từ ánh mắt mình cho họ biết mình đang theo dõi, tìm hiểu, thậm chi, trong vài trường hợp là thẩm vấn. Vì vậy một lúc sau, những đôi mắt khác sẽ bắt đầu trả lời. Ví dụ như những kẻ đang nói dối, mắt sẽ láo liên; dù nói dối lì lợm, vẫn e dè khi nhìn thẳng vào mắt người đang theo dõi; những ai si tình, ánh mắt khờ dại; những ai muốn làm thân, ánh mắt cười cười; những ai không ưa mình, ánh mắt lạnh lùng nhìn sang hướng khác; Còn như ánh mắt dịu dàng hoặc e lệ, đố các bạn, mắt đang nói gì? Ngôn ngữ mắt cho chúng ta biết nhiều trung thực hơn lời nói. Nhìn mà hai mắt thỉnh thoảng chớp là họ đang lắng nghe mình nói; nhìn mà nháy một mắt là chọc ghẹo; nhìn mà lơ là, người đó sắp bỏ đi. Tuy nhiên phải cẩn thận, chúng ta không nên nhìn người khác đăm đăm quá lâu, mất lịch sự, hoặc họ tưởng mình đã say mê. Đừng chú ý quá mức khiến mắt tự nhiên trợn trừng, trông hung ác.

Đôi mắt là nơi tâm tình thể hiện nhiều nhất. Vui buồn thương giận ghét yêu đều phát quang mãnh liệt. Ngay cả suy nghĩ, cũng có thể tiết lộ qua mắt nhìn. Nắm bắt được ngôn ngữ này, biết rõ hơn nghe nói.
 
2. Ngôn ngữ miệng.

Môi ngậm mím lại, đang tập trung tinh thần; môi hở với mắt nhìn, nghĩa là say mê; mím môi bạnh miệng, đang chê bai thầm; thè lưỡi liếm môi nhiều lần, đang nghĩ chuyện khác.

Muốn phân tích nụ cười phải viết một cuốn sách. Trong phép sống lâu, nụ cười của phụ nữ là nguy hiểm nhất. Nụ cười con nít là thân ái nhất. Nụ cười đàn ông là mưu đồ nhất. Và không có nụ cười nào lớn lao, thương mến hơn nụ cười của mẹ.

Nụ cười giả thường khi có tính toán, nhưng cũng có khi vì lơ là không muốn theo dõi câu chuyện. Cười rộng nhe răng thường khi vì vui vẻ, cũng có khi vì sợ hoặc cười cầu tài.
Nụ cười ngàn vàng của mỹ nhân Bao Tự. Chu u Vương (774-771 TCN) say mê mỹ nhân Bao Tự nhưng chưa bao giờ thấy nàng cười. Nịnh thần hiến kế đốt phong vũ đài cho chư hầu kéo binh về cứu kinh đô. Ngơ ngác không thấy giặc, chư hầu lầm lũi quay về. Cảnh này khiến Bao Tự bật cười, Chu U Vương thưởng cho nịnh thần 1,000 lạng vàng. Giờ đây cũng có nhiều người trả ngàn lạng để mua nụ cười sòng bạc.

3. Ngôn ngữ đầu.

Cái đầu gục gặc, lúc lắc, vậy mà nói ra rất nhiều chuyện. Gục gặc đầu với mắt nhìn chăm chú là cổ võ. Gục gặc mà lơ đễnh là hết muốn nghe hoặc chuẩn bị bỏ đi. Người nghiêng đầu về hướng mình là tỏ ý muốn theo dõi câu chuyện. Ai gật đầu quá nhiều tỏ vẻ tán thưởng, thường chỉ là giả vờ ngoài mặt, hoặc đang có ý định nhờ vã. Dĩ nhiên phải khấu trừ trường hợp người ngủ gật vì chán nghe.

4. Ngôn ngữ tay.

Người ta thường dùng tay diễn tả kèm theo lời nói, nhưng ngôn ngữ tay trung thực hơn. Hai tay vòng trước ngực, người khép kín, muốn theo dõi người khác; hoặc thiếu tự tin; hoặc phản đối tiêu cực. Hai tay thả dài, bàn tay cầm nhau dưới bụng, người thiếu tự tin, đang chờ đợi. Hai tay thọc túi quần, người tự cảm thấy dư thừa. Hai tay bồn chồn, người muốn bỏ đi hoặc chờ đến phiên mình phát biểu. Hai tay chống nạnh, không cần phải giải thích, ai cũng biết. Hai tay kẹp lại để sau đầu, dựa ngửa, tìm thoải mái, không quan tâm hoặc muốn nhắn người khác, mệt rồi, xin đổi đề tài.

Gõ ngón tay, bẻ ngón tay, dấu hiệu thiếu kiên nhẫn, chán nản. Hay tay khoanh nhưng một tay chống cằm, tỏ sự nghi ngờ, hoặc không vừa lòng lắm. Vuốt tóc, vuốt mũi, ngoáy tai, ngụ ý không quan tâm.
 
Dùng hai tay hỗ trợ cường điệu diễn tả lời nói, lời đó thường không thật. Hai tay bất động khi nói, bày tỏ tình trạng bất đắc dĩ phải lên tiếng. Hai tay chắp lại trước ngực, khi nói, bày tỏ lòng khiêm nhường, nhưng hơi làm cảnh.

5. Ngôn Ngữ Đứng.

Đứng thẳng trên hai chân, tỏ sự trang trọng và tôn trọng người đối diện; Đứng dang hai chân, vòng tay trước ngực, ngụ ý chờ đợi hoặc biểu dương nam tính; Đứng chân trước chân sau, ngụ ý chuẩn bị tiến tới, tham gia, hoặc sắp bỏ đi. Đứng tréo chân, vòng tay, người giữ khoảng cách, hoặc ngầm phản đối. Đứng dang hai chân, chống tay lên bàn, người trong tư thế sẵn sàng tấn công hoặc phản công bằng lời nói.
 
6. Ngôn Ngữ Ngồi.

Picture9
Kiểu A: Vô tư. Dễ dàng theo ý chung của mọi người. Bản tính khôi hài. Không quan tâm người khác nghĩ gì. Có trí tưởng tượng mạnh. Có thế giới riêng để sống. Là bạn tốt.

Kiểu B: Người có ý tưởng lành mạnh nhưng ít tin người khác. Muốn chiếm lòng tin của họ khá khó khăn. Họ sâu sắc và thú vị khi trò chuyện.

Kiểu C: Lòng tự tin cao. Lòng tự hào cũng cao. Hiểu rõ mình là ai. Thích đám đông. Thích được chú ý. Đam mê việc làm.

Kiểu D: Người hòa nhã, thân thiện, trung thực. Đôi khi yếu lòng. Khi yêu, người này không có điều kiện.

Kiểu E: Người linh hoạt, dễ thích nghi. Hiểu biết sâu rộng. Tính kiên trì. Khi đã quyết định, ít chịu bỏ cuộc. Có thể ngoan cố nhưng tạo được thế lực trong đám đông.
 
Dĩ nhiên, đây chỉ là những điều khái quát. Những hành vi, cử chỉ chung chung sẽ thay đổi hoặc gia giảm bởi cá tính. Ví dụ, ánh mắt giận dữ của người nóng tính khác với ánh mắt giận dữ của người thánh thiện. Muốn trở thành chuyên gia hoặc cao thủ, phải quan sát, thu nhận, suy nghĩ, và áp dụng hàng ngày.

Trước hết là quan sát chính mình. Khi nói dối, phản ứng mặt mày tay chân ra sao. Sau đó, theo dõi người thân, bạn bè gần gũi, vì dễ nhận ra khi nào họ nói dối, khi nào trung thực, và phản ứng đi kèm với những trạng thái này.

Một thời gian sau, bạn có thể trở thành một người nhạy cảm với phương pháp nhìn xuyên giả dối. Tuy nhiên, phải suy nghĩ kỹ, vì khi bạn thành chuyên gia, bạn sẽ cô đơn, vì sợ hãi tâm địa con người xung quanh.

Nếu chồng hoặc vợ hoặc người thân quen là những người thường xuyên hay chuyên nghiệp nói dối, xin chia buồn với nỗi khổ đau của bạn. Không có gì mệt mỏi và trầm cảm cho bằng sống chung với người nói dối như nói thật.

Thế giới hôm nay cần thêm nhiều những người trung thực.
 
Ngu Yên
         (Đón đọc bài tiếp theo: Nhìn Xuyên Tâm Lý.) 
 

Đàn ông đòi hỏi gì ở phụ nữ? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn.Phụ nữ đòi hỏi gì ở đàn ông? Những nét đặc trưng của Ham Muốn được Thỏa Mãn. William Blake không đặt câu hỏi rộng, ông giới hạn lại trong cụm từ “đặc trưng,” Trong câu thơ của Blake, "the lineaments of Gratified Desire" được dịch là "những nét đặc trưng của ham muốn được thỏa mãn". Từ "lineaments" trong tiếng Anh vốn nghĩa gốc là những đường nét trên khuôn mặt, những đặc điểm hình thể có thể nhìn thấy được, giống như khi ta nói "gương mặt có những đường nét thanh tú". Blake không nói ham muốn được thỏa mãn một cách trừu tượng, mà nói đến những dấu vết cụ thể, có thể nhìn thấy được trên gương mặt hay dáng vẻ của một người, khi ham muốn của họ đã được đáp ứng. Và từ neo là “đòi hỏi.” Đòi hỏi là nhu cầu, không phải ước mơ, không phải là cầu xin. Điều này cho rõ là đàn ông và phụ nữ cần nhau vì có nhu cầu đòi hỏi Blake đặt câu hỏi rồi tự trả lời. Hai câu trả lời giống hệt nhau, không phân biệt nam hay nữ. Bài thơ
Buổi sáng ngày cuối cùng của tháng 8, một thanh niên 20 tuổi tên Pierre Damas Bel đậu chiếc Toyota bên xa lộ Interstate 70, ngoại ô Springfield, Ohio. Cậu bước ra khỏi xe, điềm nhiên bước thẳng vào làn xe đang lao tới. Vài phút sau, câu chuyện của cậu xuất hiện trên khắp báo đài nước Mỹ, đất nước cậu đặt chân đến năm 2024, sum họp với cha mẹ của mình – những di dân chạy trốn nạn bạo lực băng đảng ở Haiti. Pierre vừa tốt nghiệp trung học được vài tuần. Cậu từng là cầu thủ đội bóng đá của trường, từng được vinh danh trong chương trình JROTC, và mùa Thu này lẽ ra đã bước chân vào đại học Wright State, ấp ủ giấc mơ trở thành bác sĩ. Đầu mùa Hè này, sau khi Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ (TCPV) mở đường cho chính quyền Donald Trump chấm dứt quy chế Bảo Vệ Tạm Thời (TPS) dành cho người Haiti, cơ quan di trú gắn lên chân cậu một chiếc vòng theo dõi GPS. Cậu nói với người thân rằng nó khiến cậu cảm thấy mình như một con vật.
Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.