Hôm nay,  

Ba Lan: Giải Văn Học Cho Ana Blandiana, Viết Vì Sự Thật Và Công Lý

5/8/202600:00:00(View: 209)

ANA BLANDINA 1 Photo Wikisource

Nhà thơ Ana Blandiana (Photo: Wikisource)

Theo thông tấn Polskie Radio S.A. của Ba Lan, hôm Thứ Hai, ngày 4 tháng 5, 2026, Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026 đã được trao cho Ana Blandiana, nữ thi sĩ người Romania.

Ana Blandiana – một nữ thi sĩ kiêm nhà bất đồng chính kiến chống cộng người Romania – đã giành chiến thắng tại Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert năm 2026; giải thưởng này được đặt theo tên của một trong những thi sĩ vĩ đại nhất của Ba Lan trong thế kỷ 20.

Sinh năm 1982, nhà thơ Blandiana (tên khai sinh là Otilia Valeria Coman) là đại diện tiêu biểu cho nhóm được gọi là "tân hiện đại chủ nghĩa" (neo-modernists) – một thế hệ thi sĩ xuất hiện vào thập niên 1960, những người đã khước từ học thuyết về nghệ thuật vô sản (proletarian art) và tìm kiếm nguồn cảm hứng từ truyền thống văn học của thời kỳ giữa hai cuộc thế chiến.

Trang Poets.org tại Hoa Kỳ ghi sơ lược tiểu sử nhà thơ như sau: Ana Blandiana—bút danh của Otilia Valeria Coman Rusan—sinh ngày 25 tháng 3/1942 tại Timişoara, Romania. Ngay từ khi còn ở tuổi vị thành niên, bà đã đặt cho mình bút danh này, lấy cảm hứng từ tên ngôi làng quê hương của mẹ bà tại vùng Transylvania. Cha bà là một linh mục Chính thống giáo, người từng bị cầm tù vì là một nhân vật bất đồng chính kiến. Blandiana đã đăng tải những bài thơ đầu tay của mình trên tạp chí Tribuna [Tòa án] có trụ sở tại Cluj, trong khoảng thời gian bà đang theo học trung học tại Oradea. Năm 1967, Blandiana đã tốt nghiệp chuyên ngành Ngữ văn tại Đại học Cluj-Napoca (nay là Đại học Kỹ thuật Cluj-Napoca). Nhà thơ cũng là một biểu tượng bất đồng chính kiến từ Eastern Block (Khối Đông Âu, các nước cựu cộng sản trong cựu Liên Xô).

Trong một thông cáo báo chí, Quỹ Zbigniew Herbert viết rằng: "Tác phẩm của Blandiana – vốn gắn bó sâu sắc với lịch sử bi tráng của Khối phía Đông – là một tiếng nói kháng cự đầy dũng cảm và kiên định chống lại chủ nghĩa toàn trị, đồng thời thể hiện niềm tin vào sự chiến thắng của thế giới các giá trị nhân văn."

Quỹ này cũng nói thêm rằng: "Những bài thơ của Blandiana không chỉ là minh chứng cho cuộc đấu tranh vì sự thật, phẩm giá và công lý, mà còn là lời nhắc nhở về bổn phận đạo đức của người thi sĩ – đặc biệt là trong những thời khắc gian khó. Thơ ca của bà phản chiếu một cách sâu sắc quan niệm của Herbert về nghệ thuật: coi nghệ thuật là một lãnh địa của những đức hạnh phổ quát và thái độ đạo đức, những giá trị cần được bảo vệ đến cùng bất chấp mọi nghịch cảnh."

Trong bài phát biểu của mình, nhà thơ nữ Blandiana chia sẻ rằng mặc dù có sự cách biệt về thế hệ, cố thi sĩ Herbert vẫn luôn rất gần gũi với bà nhờ vào sự tương đồng về số phận. "Ông đã bước lên đồi Golgotha của cuộc chiến chống lại sự kiểm duyệt trước cả tôi – có lẽ trên một con dốc còn cheo leo hơn nhiều – nhưng những cơ chế thẩm mỹ của sự kháng cự thì vẫn y nguyên, cũng giống như những hình thức đàn áp vốn đã không thể khuất phục được chúng tôi," theo lời bà phát biểu.

Lễ trao giải dự kiến sẽ được tổ chức tại Warsaw vào ngày 27 tháng 5/2026. Là một người công khai phản đối chế độ cộng sản, Blandiana từng được mệnh danh là "Joan d’Arc của Romania". Trong các giai đoạn 1959–1964, năm 1985, và 1988–1989, các tác phẩm của bà đã phải chịu lệnh cấm xuất bản. Sau Cách mạng Romania năm 1989 và sự lật đổ của chế độ Ceaușescu, Bandiana đã thành lập Quỹ Liên minh Công dân (Civic Alliance Foundation) – một phong trào phi đảng phái nhằm xoa dịu những hậu quả để lại sau hơn năm thập niên dưới chế độ cộng sản tại Romania.

Các danh hiệu mà bà được trao tặng bao gồm Huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Pháp, Giải thưởng Herder của Áo, Giải thưởng Thơ ca Griffin của Canada, và Giải thưởng Văn học Công chúa xứ Asturias.

Ngoài thơ ca, các tác phẩm của Bandiana còn bao gồm những tập tiểu luận và văn xuôi. Các tác phẩm của bà đã được dịch sang hơn 15 ngôn ngữ.

ANA BLADINA 3  sach tren Amazon

Bìa 3 tập thơ của Ana Blandiana (Photo: Amazon)


Được trao tặng từ năm 2013, Giải thưởng Văn học Quốc tế Zbigniew Herbert nhằm tôn vinh những thành tựu nghệ thuật và trí tuệ xuất sắc, được khơi nguồn cảm hứng từ những giá trị và lý tưởng mà chính Herbert đã luôn đề cao.


Sinh năm 1924, Herbert là một trong những nhà thơ, nhà tiểu luận và nhà đạo đức học có tầm ảnh hưởng lớn nhất tại Ba Lan. Những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông bao gồm "Pan Cogito" (Ông Cogito), "Struna światła" (Dây đàn Ánh sáng), "Hermes, pies i gwiazda" (Hermes, Chú chó và Ngôi sao), và "Barbarzyńca w ogrodzie" (Kẻ man rợ trong khu vườn). Là một người kiên quyết chống cộng, Herbert đã dành sự ủng hộ hết mình cho phong trào Đoàn kết (Solidarity). Sau khi thiết quân luật ban hành vào tháng 12 năm 1981, những bài thơ của ông thường được ngâm đọc trong các cuộc họp bí mật của phong trào Đoàn kết. Các tác phẩm của ông đã được dịch sang 40 ngôn ngữ. Ông qua đời vào năm 1998.

Một bài thơ nổi tiếng của bà cho thấy hình ảnh cô đơn của người bất đồng chính kiến dưới chế độ toàn trị, nơi mọi người y hệt như giả chết và chỉ có nhà thơ là tỉnh thức, quan sát. Bài thơ "Loneliness" của Ana Blandiana do Seamus Heaney dịch từ tiếng Romania sang tiếng Anh, và dưới đây là bản dịch tiếng Việt:
  
NỖI CÔ ĐƠN
 
Cô đơn là một thị trấn
Nơi mọi người khác đều đã chết.
Những con phố thật sạch,
Những khu chợ vắng tanh,
Bỗng chốc mọi thứ hiện lên trong ánh sáng chân thực
Nhờ vào sự hoang vắng ấy – chính xác
Như lẽ vốn dĩ của chúng.
Cô đơn là một thành phố
Nơi tuyết luôn rơi
Một cách ngập tràn, và chẳng có bước chân nào
Từng vấy bẩn lên những lớp
Ánh sáng đang chất chồng.
Và chỉ riêng bạn, con mắt không ngủ
Đang dõi trông những kẻ đang say ngủ; bạn
Nhìn xuyên, thấu hiểu, và chẳng bao giờ thấy đủ
Một sự tĩnh lặng quá đỗi tinh khôi.
Chẳng ai tranh đấu ở đó,
Chẳng ai bị lừa dối,
Và ngay cả giọt lệ trong mắt
Của một con vật bị bỏ rơi
Cũng quá đỗi trong sáng để có thể gây đau thương.
Trên ranh giới
Giữa khổ đau và cái chết,
Cô đơn là một thị trấn hạnh phúc.

.

Sau đây là bài thơ "Oh Your Body" sẽ được dịch ra tiếng Việt theo bản tiếng Anh của Paul Scott Derrick và Viorica Patea; vì tác giả là phụ nữ, nên chúng ta tạm dịch là "Ôi cơ thể của anh." Nơi đây, nàng nhìn thấy cơ thể chàng qua những dòng chữ (có lẽ là thơ, hay truyện?). Hòan toàn tách rời nền văn học hiện thực xã hội xưa cũ, và rất là "hiện sinh Phương Tây" nói theo thời kỳ khi thế giới còn Chiến Tranh Lạnh.
 
Ô CƠ THỂ CỦA ANH
 
Ô, em vẫn thấy cơ thể anh xuyên qua lớp mực,
Lớp mực nhuốm bẩn cả chúng ta ngay trong những giấc mơ,
Tựa như thứ mồ hôi đắng chát của loài thú hoang.
Em muốn vươn tay chạm tới anh,
Nhưng các ngón tay em lại trượt dài;
Em hầu như chẳng thể nhìn thấy anh,
Em hầu như chẳng thể nghe thấy anh.
Hãy nói đi, hãy nói với em thêm một lần nữa rằng:
Cơn xoáy nước mà em đang lao mình vào
Đã nhấn chìm cả hai ta trong bóng tối như nhau.
Em cất tiếng gọi anh,
Nhưng dòng mực lại tuôn trào dữ dội
Giữa hai ta—tựa như máu đang rỉ ra từ một vết thương.
Anh còn nhận ra em chăng? Còn chờ đợi em chăng?
Liệu anh có còn để em quay trở về,
Liệu anh có còn đón nhận em
Từ chốn bùn lầy tím thẫm kia?
Liệu anh có còn trở lại
Với những cánh đồng xanh này,
Với những đại dương hoang mạc kia—
Trong câm nín và lệ nhòa—
Để em có thể dâng hiến khuôn miệng run rẩy,
Cùng đôi môi bầm tím vì những lời nói,
Cho nụ hôn của anh?
.
Sau đây là bài thơ "In a Wound" (Trong Một Vết Thương), theo bản Anh dịch của Paul Scott Derrick và Viorica Patea. Chữ "we" (chúng ta) trong bài thơ cho thấy vết thương là của đông người, ít nhất là vết thương của một cặp tình nhân, hay nhiều hơn thì sẽ là vết thương của một dân tộc.
 
TRONG MỘT VẾT THƯƠNG
 
Chúng ta sống trong một vết thương
Và chẳng hề hay biết
Vết thương ấy thuộc về thân xác của ai,
Cũng chẳng hiểu vì sao.
Điều duy nhất chắc chắn, chính là nỗi đau
Đang bao vây quanh  ta—
Nỗi đau
Mà chính sự hiện diện của chúng ta
Đã làm nhiễm trùng thêm,
Mỗi khi vết thương kia cố lành lại.

.

Nói ngắn gọn thế nào về nhà thơ Ana Blandiana? Ngay cả khi bày tỏ bất đồng chính kiến, dòng thơ của bà cũng rất lãng mạn, tế nhị, như dường chữ nghĩa của bà không thể dùng để làm tổn thương bất kỳ ai. Thơ của Ana Blandiana thực sự là những dòng chữ nói lên sự thật và công lý, để ngợi ca đời sống và con người.
 
Phan Tấn Hải biên tập
 

Buổi tối hôm đó, gió thổi nhẹ qua những hàng quán nhỏ, và trong một góc phố không mấy nổi bật, tôi thấy Jean-François Lyotard ngồi một mình trước một quán mì gói bình dân. Không phải quán fancy kiểu “mì ramen concept Japan fusion” gì cả. Chỉ là một quán lề đường với cái mái tôn lủng vài lỗ, mấy cái ghế nhựa xanh đỏ, và mùi hành phi thơm theo cách… giới hạn ngân sách.
Chiều Chủ Nhật, 23 tháng Tám, độc giả Việt Báo lâu nay quen gặp nhà văn Ngu Yên qua những bài bình luận trên trang nhất đã có dịp gặp ông “bằng xương bằng thịt” — để chuyện trò, nghe thơ, nghe nhạc, và quan trọng hơn hết, để “rước” sách ông về nhà. Từ Houston sang Nam California, Ngu Yên có một buổi ra mắt sách đông vui ngoài dự liệu. Bước lên sân khấu, nhìn hơn một trăm khách từ nhiều nơi về ngồi kín Coffee Factory, ông cảm động theo kiểu rất ‘Ngu Yên’: “Có lẽ quý vị yêu sách. Có lẽ quý vị yêu tôi, hay yêu Việt Báo. Cũng có lẽ quý vị hơi… không bình thường, khi bỏ một buổi chiều Chủ Nhật đẹp như hôm nay để đến đây ngồi nghe chúng tôi nói chuyện chữ nghĩa.” Khán phòng cười ồ. Và từ phút đó, buổi ra mắt sách không còn giống một buổi ra mắt sách ‘bình thường’ nữa. Nhà báo Đinh Quang Anh Thái dí dỏm ví đây là một “lễ rước sách.”
Bài viết này là câu chuyện về một cuộc tranh đấu khác trong chiến tranh: giữ lại bằng chứng rằng một con người đã từng sống, từng yêu, từng nhớ, trước khi họ bị xóa khỏi thế gian.
Trong cuốn hồi ký kinh điển viết về nạn khủng bố của nhà nước Sô Viết thời thập niên 1930, cuốn Hope Against Hope, bà Nadezhda Mandelstam kể lại những năm cuối cùng của cuộc hôn nhân với thi sĩ Osip Mandelstam, khi hai vợ chồng phải trốn tránh hết thành phố này đến làng mạc khác, sống nhờ lòng hảo tâm của một số ít bạn bè và người lạ can đảm, bị trục xuất khỏi căn nhà ở Mạc Tư Khoa vì bị xem là kẻ thù của chế độ. Tội trạng chính của Osip chỉ là đã đọc lên, trong một bữa tiệc, một bài thơ mà ông chưa từng viết ra giấy, càng chưa từng cho xuất bản, nhằm chế giễu Stalin và vạch trần chế độ tàn bạo của y.
Concrete Poetry hay Visual poetry, thơ Cụ Thể hay thơ Thị Giác, tôi không thể xác định, có lẽ cả hai. Nhà thơ Nguyễn Hoàng Nam là người ngắn tiểu sử. Ông xuất hiện gần như từ đầu của dòng thơ hải ngoại và từ tốn làm thơ. Không tự thắp sáng mình, cũng không tự đốt mình như một số nhà thơ đã cháy. Thoạt nhìn, thơ của ông bình thường nhưng nhìn đi nhìn lại, có thứ gì ẩn núp bên dưới chữ nghĩa hình ảnh rất khác thường, mới một cách không khoe. Ví dụ như những ngày trống, tâm tư đầy quá khiến cảm giác rỗng, ông làm, có phải thơ hay không?
Câu danh ngôn bất hủ của Edward Bulwer-Lytton, và nhìn lại lịch sử của nhân loại toàn cầu, đã chứng minh một chân lý vô song. Những đế chế hùng mạnh nhất lịch sử thế giới như Đế quốc Mông Cổ do Thành Cát Tư Hãn lãnh đạo, chinh phục từ Á sang Âu, hay Đế quốc La Mã do Hoàng đế Augustus Julius Caesar chỉ huy, hùng mạnh vô địch làm ảnh hưởng cả châu Âu suốt 2.000 năm, rồi cũng lụi tàn. Nhưng những tác phẩm văn học được viết bằng máu và tâm huyết thì trường tồn vĩnh cửu.
Xin thú nhận: sẽ không lãng mạn tí nào khi nói rằng hạnh phúc là lúc chạy theo banh. Biết làm sao được, chắc chắn rằng có nhiều tỷ người trên địa cầu này đồng ý như thế, kể cả những người đã từng trải qua một thời tuổi nhỏ đã tưng bừng chạy nhảy, với trang phục quần đùi và áo thung, đuổi theo banh trên sân cỏ hay nơi các góc vỉa hè. Tôi tin rằng hầu hết, nếu không phải tất cả, người Việt Nam trong và ngoài nước đều có một số kỷ niệm thời thơ ấu với môn bóng tròn, chữ xưa còn gọi là túc cầu, bây giờ thường gọi là bóng đá. Nghĩa là, nếu bạn không từng tham dự trận banh nào, không từng mang giày và chạy ra sân, hẳn là bạn cũng từng ngồi bên sân cỏ để nhìn bằng hữu và trẻ em trong làng, trong xóm rủ nhau chạy theo banh, hay đang đưa chân nhồi banh vượt qua hàng hậu vệ của đội phòng thủ. Và khi một cầu thủ nhi đồng nào đó đưa chân sút, hẳn là bạn cũng há hốc mồm nhìn theo quả banh rồi vung tay và hú lên, dù để mừng vui hay thất vọng.
Nhân chứng chuyện gì và để làm gì? Khác với những loại nhân chứng tội phạm, xã hội, chính tri, hoặc chiến tranh, nhà thơ là nhân chứng về cái đẹp của ý nghĩa qua cái đẹp của ngôn ngữ và tạo nên giá trị đẹp. Họ “vén bức màn che giấu vẻ đẹp tiềm ẩn của thế giới, và khiến những vật thể quen thuộc trở nên như thể chúng không hề quen thuộc.” (Percy Bysshe Shelley. Poetry lifts the veil from the hidden beauty of the world, and makes familiar objects be as if they were not familiar.)
Trong mọi từ của một ngôn ngữ, có lẽ không từ nào vừa nhỏ vừa nặng như chữ tôi. Nó chỉ có một âm, nhưng mỗi lần xuất hiện trong một trang văn hay một câu thơ, nó kéo theo cả một câu hỏi chưa bao giờ được trả lời dứt khoát: ai đang nói đây. Người đọc bình thường có một phản xạ tự nhiên, là tin rằng chữ tôi trên trang giấy chính là tác giả, người có tên in ngoài bìa sách. Nhưng văn học, ngay từ buổi có ý thức về chính mình, đã liên tục phá vỡ phản xạ ấy. Cái tôi trong văn học hiếm khi đơn giản là người viết. Nó là một vai, một mặt nạ, đôi khi là một đám đông giả trang thành một người. Bài viết này thử lần theo những hóa thân ấy, từ cái tôi là chính tác giả, tới cái tôi là kẻ khác, tới cái tôi tập thể mà Annie Ernaux đã đẩy tới tận cùng, rồi quay về với chữ ta đặc biệt của tiếng Việt, và cuối cùng đặt một câu hỏi cay: phải chăng thi ca hiện đại đã lạm dụng chữ tôi.
Vì không cứ nhìn là thấy. Thấy là việc của mắt. Nhìn là việc của tâm hồn. Người ta có thể thấy rất nhiều mà không thực sự nhìn ra điều gì. Có thể đi qua cả một khu vườn, biết tên từng loài cây mà chưa từng nghe tiếng mùa trong lá. Có thể học hết bản đồ sông núi mà không nhận ra điệu nhạc của dòng nước.
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.