Hôm nay,  

Yêu Là Ngắn Ngủi

10/07/202600:00:00(Xem: 309)

love iStock-476849600
Ai đã từng trải qua tình yêu đều hiểu được cái cảm giác “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” hay thấm câu “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì vô tận”. Ảnh: istockphoto.
 
Con người từ muôn thuở đã không ngừng truy vấn, định nghĩa, tìm cách gọi tên chữ yêu. Yêu là rung động, là thương, là thích, là say mê, là quyến luyến, là nhớ nhung — là thứ men riêng trong cõi lòng.

Erich Fromm cho rằng yêu là một nghệ thuật phải học. Fromm xem yêu không chỉ là cảm xúc, mà là thực hành, chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết.

Saint-Exupéry, ở một phương diện khác, kéo yêu ra khỏi cái nhìn gần, cho rằng yêu không phải chỉ nhìn nhau, mà cùng nhìn về một hướng, một đường chân trời.

Plato thì đặt tình yêu ở nơi không trọn vẹn.  Ông gọi đó là sự khao khát “the whole” – cái toàn vẹn. Nôm na, người ta yêu vì trong mình có một khoảng khuyết, một khoảng thiếu vắng, và người kia, bằng cách nào đó, làm đầy khoảng trống ấy.

Riêng với nhà thơ hiện sinh Rilke, tình yêu trưởng thành không phải là lúc ta biết hết về nhau, mà lúc ta còn đủ dịu dàng để sống với những điều chưa hiểu.

Tình yêu, trong ngôn ngữ, hiện ra qua muôn vàn động từ, khoác lên mình vô số tính từ, hóa thành không biết bao nhiêu danh xưng, để sau cùng, vẫn không vừa lòng mọi cố gắng định nghĩa, dù chỉ một phần, cái ý nghĩa dai dẳng như định mệnh mà mong manh như sương khói.

Trong văn học hay thi ca, yêu là nhân vật chính xuyên suốt, ẩn hiện dưới lăng kính vạn hoa vạn hình vạn sắc. Có lúc ngọt ngào trong cái “nắng Sài Gòn” mà lòng “chợt mát” của Nguyên Sa; có khi chỉ nhẹ nhàng như nỗi buồn buổi chiều “trời nhẹ lên cao” của Xuân Diệu. Nhưng nếu có một điểm chung nào đó được nhắc đến nhiều nhất, thì yêu là mất mát, là nhớ thương.

Ai đã từng trải qua tình yêu đều hiểu được cái cảm giác “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới” của Thanh Tâm Tuyền, hay thấm câu “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì vô tận” của Pablo Neruda.

Người yêu nhau không chỉ nhớ nhung một “Tình ta ta tiếc cuồng ta khóc” mà còn mãi chờ đợi một giấc mơ say mà tỉnh “Em hỡi! phương nào em có không” (Vũ Hoàng Chương).

Tình yêu, dẫu quyền năng, dẫu đầy ắp, dẫu xuất hiện trên mọi góc xó cuộc đời, vẫn âm ỉ một hoài nghi hiện sinh: liệu tình yêu có thật? Và nếu có thật, có tồn tại mãi mãi?

Đại văn hào Tolstoy đã viết “Không có thứ tình yêu nào thuộc về tương lai”. Người đọc có thể hiểu lời ông theo hai nghĩa: một, tình yêu, nếu có, chỉ có thể là một hành vi của hiện tại; kẻ nào không sống với tình yêu trong giây phút này, kẻ ấy không có tình yêu. Hai, tình yêu, lúc này là có thật, nhưng không mãi tồn tại.

Tuy phần lớn các tác phẩm nghệ thuật về tình yêu đều phản chiếu tính bất tồn, ý tưởng này lại không dễ chấp nhận. Từ xưa, Nguyễn Du đã để Kiều và Kim Trọng chống lại chia lìa bằng lời thề “trăm năm”: “Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!” Trong thi ca hiện đại, Nhã Ca viết: “Một lần yêu người, một lần mãi mãi” hay Nguyễn Văn Khánh trong ca khúc Nỗi Lòng “Yêu ai yêu cả một đời”.

Con người có lẽ đã quen được nuôi dưỡng bằng những viễn ảnh dài lâu, những hứa hẹn bền bỉ, một “hạnh phúc về sau” như phần thưởng cuối cùng, nên luôn cần một đường chân trời để phóng chiếu tình yêu xa rộng vượt ngoài hữu hạn. Cũng có lẽ chính vì biết tình yêu chỉ thật sự tồn tại trong hiện tại nên con người bày dựng những cõi tương lai?

Nhưng tình yêu, vốn là “mật đắng”, là “nửa dạ yêu tinh”, tan rã dưới những áp lực không chịu xoa dịu của thời gian. Và khi tình yêu mất đi, người ta còn lại gì?

Gần hai ngàn năm trước, triết gia Epictetus đã trả lời câu hỏi ấy bằng một thứ bình tĩnh gần như tàn nhẫn. Ông không khuyên con người tự bảo vệ mình trước mất mát bằng những hàng rào giả tạo. Trái lại, khi mất mát xảy đến, điều cần thiết là thay đổi cách nhìn: học cách chấp nhận, và hơn thế, chấp nhận đến tận cùng tính ngắn ngủi, tạm bợ của mọi sự.

Bởi khi tình yêu mất đi, điều còn lại, nếu còn đủ tỉnh táo, không phải là sự tàn phá, mà là một niềm biết ơn không thể đảo ngược: rằng tình yêu ấy đã từng đến, đã từng làm cho đời sống chuyển động.

Trong Luận đàm (Discourses), ở đoạn mang nhan đề “Về những điều không thuộc quyền năng chúng ta”, Epictetus viết kẻ nào không biết mình là ai thì không thể là người tốt; và kẻ biết mình là ai mà quên rằng mọi cái được tạo thành đều có ngày tan rã, rằng không một người nào có thể ở mãi với một người khác, thì cũng là một thứ quên lãng nguy hiểm.

Từ ý niệm ấy, Epictetus bước tiếp vào vùng khó chấp nhận nhất, học cách yêu trong khi biết rằng sẽ mất. Ông khuyên khi ta vui vì một điều gì, hãy vui như với một vật có thể vỡ. Như một chiếc bình đất, như một ly thủy tinh. Trong lúc nó còn nguyên, cứ dùng, cứ nâng niu. Khi nó vỡ, chỉ cần nhớ nó đã từng là gì, và đừng để nỗi mất mát kéo ta xuống. Điều ta yêu, ông nói, không phải là vật sở hữu của riêng ta. Nó được trao, cho hiện tại, chứ không phải cho vĩnh viễn; giống như trái vả, như chùm nho – đến đúng mùa, đúng thời. Đòi hái một chùm nho giữa mùa đông là vô lý. Đòi một người ở lại khi mùa của sự có mặt đã hết — cũng vô lý như thế.
Trong một đoạn khác, Epictetus nhấn thêm một bước. Ông nói khi ta cúi xuống hôn một đứa trẻ, hãy thử đặt cạnh cử chỉ ấy một ý nghĩ thầm “Ngày mai con có thể không còn trên đời này.” Khi ta ngồi với một người bạn, hãy nhớ “Ngày mai, hoặc bạn sẽ đi, hoặc ta sẽ đi. Và có thể sẽ không bao giờ gặp lại nhau nữa.” Những câu này có thể gây dị ứng tức thì bởi mới nghe có vẻ tàn nhẫn, cố ý, như một “điềm gỡ”.

Nhưng với Epictetus, cũng như với triết lý vô thường của phật giáo, đó chỉ là một kiểu ánh sáng khác, soi vào cùng một cảnh vật. Khi ta có thể nhìn người mình yêu trong tấm khung ấy — vừa “ôm em trong tay”, vừa biết là "sẽ mất em trong ngày sắp tới" thì mất mát, đến khi xảy ra, sẽ bớt là một cú sập toàn phần, mà chỉ là một chuyển động buộc phải có trong đời sống.

Lincoln, nhiều thế kỷ sau, đã gọi tên cảm giác còn lại ấy là một “nỗi buồn dịu ngọt trong lòng”, cái buồn của một tình yêu đã đi hết số phận của nó.

Giữ được vị ngọt ấy trong ký ức hay không để nỗi đau mất mát làm nó hóa đắng, có lẽ là thách đố lớn nhất của trái tim. Và ở mức nào đó, cũng là một trong những thành tựu hiếm hoi nhất của một đời người đã biết yêu, biết giữ lại, như trong giấc mơ nỗi đau dịu ngọt của Phạm Công Thiện:

gió thổi đồi tây hay đồi đông
hiu hắt quê hương bến cỏ hồng
trong mơ em vẫn còn bên cửa
tôi đứng trên đồi mây trổ bông.
 
Nguyên Yên
July 2026,
Viết tặng người bạn "thoát" yêu.
 
Ghi chú nguồn:
Những chữ trong ngoặc kép là chữ trích từ các bài thơ, văn.

1.Tolstoy: “tình yêu thuộc về hiện tại” được dẫn lại từ bài “Epictetus on Love and Loss: The Stoic Strategy for Surviving Heartbreak” của Maria Popova, đăng trên The Marginalian.
2. Erich Fromm: quan niệm “yêu là một nghệ thuật phải học”, cùng các yếu tố chăm sóc, trách nhiệm, tôn trọng, hiểu biết, được diễn giải từ The Art of Loving (Nghệ thuật yêu).
3. Saint-Exupéry:  “yêu không phải chỉ nhìn nhau, mà là cùng nhìn về một hướng” được dẫn theo câu nói nổi tiếng của Antoine de Saint-Exupéry, thường gắn với Terre des hommes.
4. Plato: quan niệm tình yêu như khát vọng hướng tới “cái toàn vẹn” được tóm từ truyền thống diễn giải Symposium (Tiệc rượu).
5. Rilke: ý về tình yêu trưởng thành, về việc sống với những điều chưa hiểu và giữ khoảng cách bảo vệ nhau, được diễn giải từ Letters to a Young Poet (Thư gửi một nhà thơ trẻ).
6. Epictetus: các ý về mất mát, tính tạm bợ của mọi sự, các hình ảnh chiếc bình đất, ly thủy tinh, trái vả, chùm nho, cùng ý thức về chia lìa, được lấy từ Discourses (Luận đàm).
7. Abraham Lincoln: cụm “nỗi buồn dịu ngọt trong lòng” gợi từ bức thư an ủi Fanny McCullough, thường được biết với tên Letter to Fanny McCullough.
8. Nguyên Sa, “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát”; “Áo Lụa Hà Đông”.
9. Xuân Diệu, “trời nhẹ lên cao”: bài “Chiều”.
10. Thanh Tâm Tuyền, “ôm em trong tay mà đã nhớ em ngày sắp tới”; bài “Dạ Khúc”.
11. Vũ Hoàng Chương, “Em hỡi! phương nào em có không”; “Chờ Đợi Hoài Công”, tập Rừng Phong, Vũ Hoàng Chương.
12. Nguyễn Du, “Dẫu thay mái tóc, dám rời lòng tơ!”; Truyện Kiều (Đoạn Trường Tân Thanh).
13. Nhã Ca, “Một lần yêu người, một lần mãi mãi” và “Nửa Dạ Yêu Tinh”, bài “Tôi Làm Con Gái”. “
14. Nguyễn Văn Khánh, “Yêu ai yêu cả một đời”; “Nỗi Lòng
15. Pablo Neruda, “Yêu thì ngắn ngủi, mà quên thì bất tận”; Poema 20, tập Hai mươi bài thơ tình và một khúc ca tuyệt vọng.
16. Vũ Hữu Định, “chút gì để nhớ để thương”; “Còn Chút Gì Để Nhớ”.
17. Phạm Công Thiện, trích trong tập thơ “Ngày sinh của rắn”.

Cuộc bầu cử sơ bộ ở California sẽ góp phần định hình tương lai bang đông dân nhất nước Mỹ trong nhiều năm tới. Đảng Dân chủ cầm quyền đứng trước một bước ngoặt, trong khi dân chúng vẫn xoay xở với đời sống đắt đỏ, lo các đợt truy quét di dân và thiên tai do biến đổi khí hậu. Dù vậy, nhiều người vẫn chưa mấy quan tâm đến các cuộc đua ảnh hưởng trực tiếp đời sống của họ, nhất là ghế thống đốc. Tuần này, tình hình có thể đổi khác, khi diễn ra hai cuộc tranh luận truyền hình liên tiếp giữa các ứng viên thống đốc, bắt đầu với chương trình trên CNN lúc 6 giờ chiều thứ Ba, giờ California. Các cuộc tranh luận diễn ra đúng lúc lá phiếu đã được gởi đến đa số cử tri, để họ có thể bỏ sớm trước ngày 2 tháng 6.
Sau nhiều dự án lãng phí vì không đạt được mục đích mà còn gây thiệt hại nặng nề cho Đồng Bằng Sông Cửu Long, từ dự án ngọt hóa bán đảo Cà Mau hoàn toàn thất bại, dự án cống đập Ba Lai gây rối loạn toàn bộ hệ sinh thái, dự án thoát lũ ra biển Tây cắt mất lũ tự nhiên, nguồn phù sa dinh dưỡng và gây ra sạt lở và sụt lún. Dự án cống đập Cái Lớn Cái Bé có hiệu quả ngăn mặn ngắn hạn, nhưng làm ngọt mặn xáo trộn không đồng bộ với nhu cầu của đồng bằng. Vì thế công trình lớn nào đưa ra bây giờ đều cần phải cân nhắc tránh rủi ro, nhất là những rủi ro có thể thấy trước phải tránh né ngay từ đầu, hay phải có biện pháp giảm thiểu tối đa
Theo Scott Kurashige, viết trên University of California Press ngày 16 tháng 3, 2026, bạo lực chống người Á châu tại Mỹ không phải những cơn bùng phát rời rạc, mà là hậu quả của một lịch sử kỳ thị lâu dài bị phủ nhận, bị làm nhẹ, và nhiều lần bị xoá khỏi ký ức cộng đồng. Trong bối cảnh chính trị hôm nay, bài viết nhắc rằng muốn hiểu đúng làn sóng thù ghét hiện nay, trước hết phải nhìn thẳng vào phần lịch sử mà nước Mỹ lâu nay tránh đề cập tới.
Giá dầu thế giới tiếp tục leo thang trong khi hỏa tiễn và máy bay không người lái của Iran liên tiếp đánh vào các cơ sở hạ tầng trọng yếu ở các nước Ả Rập vùng Vịnh. Cùng lúc, nhiều trận tập kích nhắm thẳng vào những trạm radar trị giá hàng tỉ đô la của Mỹ tại Trung Đông, khiến không ít trạm bị đánh hư hoặc phá hủy và làm dấy lên câu hỏi: lá chắn phòng thủ của Washington trong khu vực đã suy yếu đến mức nào. Mỹ hiện duy trì một vành đai căn cứ quanh Iran, với hàng chục điểm đồn trú và hàng chục nghìn binh sĩ nằm trong tầm bắn. Từ đó nảy sinh một thắc mắc rất cụ thể: nếu một quả hỏa tiễn được phóng từ lãnh thổ Iran nhằm vào một căn cứ Mỹ, làm sao sĩ quan và binh lính tại chỗ có đủ thời gian để chui vào hầm, tản quân và chuẩn bị đánh chặn?
Sau phỏng vấn cựu đại tá Hoàng Cơ Lân nguyên giám đốc trường Quân y VNCH của báo Pháp “Guerres & Histoire” số tháng 2-2024, giới thiệu đến bạn đọc một chương hồi ký của vị đại tá đã làm y sĩ trưởng lâu năm nhất của sư đoàn Dù (1965-1970). Cho đến khi mất đại tá Hoàng Cơ Lân vẫn minh mẫn và giữ nguyên ký ức lồng lộng của những ngày còn là tân khóa sinh thực tập các saut nhảy dù. Vị đại tá cũng cho biết Nhảy dù đã từng có một lời nguyện… [Trần Vũ]
LTS: Y Sĩ Đại Tá Nhảy Dù Hoàng Cơ Lân vừa tạ thế tại Paris ngày 15 tháng 3 năm 2026. Việt Báo xin đăng lại bài phỏng vấn do Olivier Vece và Benjamin Fayet thực hiện cho nhị nguyệt san quân sử Guerres & Histoire của Pháp, bản Việt ngữ do Trần Vũ chuyển dịch, như một lời tiễn biệt Ông.
Theo bản tin của PolitiFact, đăng lại trong mục Thế giới ngày 7 tháng 3 năm 2026 trên PBS, chỉ ít ngày sau khi phát động chiến tranh với Iran, Tổng thống Donald Trump đã đem nỗ lực của ông nhằm triệt hạ khả năng phát triển vũ khí hạt nhân của Iran ra so sánh một cách thuận lợi với thỏa ước hạt nhân năm 2015 do một vị tiền nhiệm của ông thương thuyết. Thỏa ước hạt nhân dưới thời Tổng thống Barack Obama còn hiệu lực cho tới năm 2018, khi Trump rút Hoa Kỳ ra khỏi đó trong nhiệm kỳ đầu của mình.
Trong giới báo chí Việt ngữ hải ngoại, có hai khuynh hướng rõ rệt khi viết về quốc gia Trung Đông nằm giữa Ai Cập và Jordan. Một số, có vẻ là đa số, gọi quốc gia đó là Do Thái, trong khi số khác, trong đó có tôi, gọi là Israel. Có nhiều lý do để gọi quốc gia đó là Do Thái, trong đó lịch sử là một. Quốc gia này được lập ra như một quốc gia của người theo đạo Do Thái. Bản tuyên bố Balfour của Anh năm 1947 chấp nhận việc thành lập một quốc gia của người Do Thái trên đất Palestine khi đó đang do Anh nắm giữ. Nghị quyết Liên Hiệp Quốc năm 1947 thông qua một kế hoạch phân chia vùng đất làm hai, một cho người Do Thái và một cho người Ả Rập.
Tháng Lịch Sử Phụ Nữ tại Hoa Kỳ phát sinh từ phong trào đòi phục hồi vai trò phụ nữ trong lịch sử quốc gia, hình thành vào thập niên 1970 dưới ảnh hưởng của làn sóng phản kháng xã hội. Trong nhiều thế kỷ, phụ nữ hiện diện trong mọi sinh hoạt của cộng đồng, nhưng lại vắng bóng trong các bộ sử chính thống; những tập sử đầu tiên chỉ ghi chép tên tuổi vài nữ hoàng hoặc phụ nữ quyền quý, còn đại đa số bị loại khỏi dòng niên biểu của quốc gia.
Ở phương diện đạo đức và văn hóa, Philip Taubman và William Taubman đã phân tích những mâu thuẫn nội tâm của McNamara: tiếng nói của lương tâm và quyền lợi quốc gia. Theo họ, trong thâm tâm, ông từng nhận định rằng Hoa Kỳ đã phạm sai lầm nghiêm trọng và không thể giành chiến thắng trong cuộc chiến. Tuy nhiên, trước công chúng và trong các tuyên bố chính thức, ông vẫn duy trì lập trường cứng rắn, tiếp tục biện minh cho chính sách leo thang quân sự. Sự đối lập giữa nhận thức riêng tư và lập trường công khai ấy tạo nên một nghịch lý phản ánh bi kịch cá nhân của McNamara, đồng thời cũng là bi kịch của cả một thời kỳ lịch sử...
NHẬN TIN QUA EMAIL
Vui lòng nhập địa chỉ email muốn nhận.